Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN GIA VIỄN

TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 28/2024/HS-ST

Ngày 30 tháng 05 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA VIỄN, TỈNH NINH BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Đinh Xuân Tưởng.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Hà Xuân Ninh.
  2. Ông Hoàng Quốc Trị.

Thư ký phiên toà: ông Đoàn Thanh Minh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên toà: bà Vũ Như Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 30/05/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 26/2024/TLST- HS ngày 26/04/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2024/QĐXXST- HS ngày 16/05/2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn C, tên gọi khác: không, sinh năm 1973 tại xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: thôn L, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: lớp 7/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đ và bà Phạm Thị P (đã chết); vợ là Trịnh Thị H; con: có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1993, con nhỏ nhất sinh năm 2001; tiền án: bản án số 26/HSST ngày 17/5/2018 của Tòa án nhân dân huyện Gia Viễn xử phạt Nguyễn Văn C 51 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản” và 15 tháng tù về tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Nguyễn Văn C chấp hành xong bản án ngày 19/02/2022; tiền sự: (1) ngày 14/10/2022 của UBND xã G quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã đối với Nguyễn Văn C, thời hạn 03 tháng. Nguyễn Văn C chấp hành xong quyết định ngày 16/01/2023; (2) ngày 25/10/2023 của Công an xã G xử phạt Nguyễn Văn C hình thức Cảnh cáo về hành vi: “Sử dụng trái phép chất ma túy”; nhân thân: (1) bản án số 16/HSST ngày 31/8/2004 của Tòa án nhân dân huyện Gia Viễn, xử phạt Nguyễn Văn C 30 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Nguyễn Văn C đã chấp hành xong Bản án ngày 27/01/2006; (2) Bản án số 40/HSST ngày 21/10/2008 của Tòa án nhân dân huyện Gia Viễn, xử phạt Nguyễn Văn C 30 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Nguyễn Văn C đã chấp hành xong Bản án ngày 21/01/2010; (3) tại quyết định số 277 ngày 08/02/2018 của Công an huyện G xử phạt Nguyễn Văn C 1.500.000 đồng về hành vi: “Trộm cắp tài sản”; (4) tại quyết định số 278 ngày 08/02/2018 của Công an huyện G xử phạt Nguyễn Văn C 1.500.000 đồng về hành vi: “Trộm cắp tài sản”; (5) tại quyết định số 279 ngày 08/02/2018 của Công an huyện G xử phạt Nguyễn Văn C 1.500.000 đồng về hành vi: “Trộm cắp tài sản”; (6) ngày 04/5/2022 của Công an xã G xử phạt Nguyễn Văn C hình thức Cảnh cáo về hành vi: “Sử dụng trái phép chất ma túy”; (7) ngày 04/10/2022 của Công an xã G xử phạt Nguyễn Văn C hình thức Cảnh cáo về hành vi: “Sử dụng trái phép chất ma túy”; (7) ngày 19/5/2023 của Công an huyện G xử phạt Nguyễn Văn C hình thức Cảnh cáo về hành vi: “Sử dụng trái phép chất ma túy”; bị cáo C bị bắt, tạm giữ từ ngày 10/12/2023, chuyển tạm giam từ ngày 19/12/2023. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: anh Vũ Văn H1, sinh năm 1985; nơi cư trú: thôn L, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình (vắng mặt).

Người làm chứng: anh Nguyễn Tiến V (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn C sử dụng trái phép chất ma túy từ năm 2004 đến nay. Để có tiền sử dụng ma túy và tiêu sài cá nhân, C nảy sinh ý định mua Heroine về bán lại cho người nghiện. Chiều tối ngày 01/12/2023, C bắt xe ôm đi từ nhà ở thôn N, xã G, huyện G đến khu vực đường đê thuộc địa phận xã G, huyện N, mua của một người đàn ông không quen biết 01 gói ma túy loại Heroine được gói trong túi nilon màu trắng với số tiền 1.000.000 đồng. Xác định đó là H2, C mang về nhà, lấy một phần ma túy ra sử dụng, số còn lại trong túi nilon C cất giấu dưới đệm đầu giường trong phòng ngủ của C nhằm mục đích bán kiếm lời. Trong thời gian từ ngày 08/12/2023 đến ngày 10/12/2023, C đã 03 lần bán ma túy cho Vũ Hữu H3, sinh năm 1985, trú tại thôn L, xã G, huyện G, cụ thể như sau:

- Lần thứ nhất: Khoảng 08 giờ 20 phút ngày 08/12/2023, Nguyễn Văn C đang ở nhà tại thôn N, xã G, huyện G thì nhận được điện thoại từ số thuê bao 0326.966.558 của Vũ Hữu H3 gọi đến điện thoại số thuê bao 0386.792.xxx của C hỏi mua 200.000 đồng tiền ma túy, loại Heroine. C đồng ý và hẹn gặp H3 tại khu vực Trung tâm y tế huyện G nơi uống thuốc Methadone thuộc địa phận phố T, thị trấn M, huyện G để bán ma túy cho H3. Sau đó, C vào phòng ngủ của mình, lấy một phần Heroine trong túi nilon cho vào 01 mảnh giấy màu trắng gói lại rồi mượn xe mô tô của H4 (một người bạn quen biết với C đang chơi ở nhà C) để đến Trung tâm y tế huyện G. Khi đến nơi, C gặp H3 ngay cổng Trung tâm y tế. H3 đưa C 200.000 đồng, C đưa H3 01 gói Heroine. Sau khi mua được ma túy, H3 quay về nhà ở thôn L, xã G, huyện G và sử dụng hết gói ma túy bằng hình thức hít.

- Lần thứ hai: Khoảng 11 giờ 15 phút ngày 09/12/2023, Nguyễn Văn C đang ở nhà thì nhận được điện thoại từ số thuê bao 0326.966.558 của H3 gọi đến điện thoại số thuê bao 0386.792.xxx của C hỏi mua 200.000 đồng tiền ma túy, loại Heroine. C đồng ý và hẹn gặp H3 tại nhà C ở thôn N, xã G. Sau đó, C vào phòng ngủ của mình, lấy một phần Heroine trong túi nilon cho vào 01 mảnh giấy màu trắng gói lại rồi đi ra cổng nhà C thì gặp H3 đang đứng chờ. H3 đến đưa cho C 200.000 đồng, C nhận tiền và đưa cho H3 01 gói Heroine. Sau khi mua được ma túy, H3 quay về nhà ở thôn L, xã G, huyện G và sử dụng hết gói ma túy bằng hình thức hít.

- Lần thứ ba: Sáng ngày 10/12/2023, C đang ở nhà thì nhận được điện thoại từ số thuê bao 0326.966.558 của H3 gọi đến điện thoại số thuê bao 0386.792.xxx của C để hỏi mua 400.000 đồng tiền ma túy, loại Heroine. C đồng ý và hẹn gặp H3 tại nhà C. Sau đó, C vào phòng ngủ của mình, lấy một phần Heroine trong túi nilon cho vào 02 mảnh giấy màu trắng gói thành 02 gói cầm ở tay rồi đi ra cổng nhà. Khoảng 10 giờ 25 phút cùng ngày, khi H3 vừa đến gặp C tại khu vực trước cổng nhà C ở thôn N, xã G, huyện G thì lực lượng thuộc Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh N phối hợp với lực lượng Công an xã G yêu cầu kiểm tra. Lực lượng Công an phát hiện tại tay phải của C có 02 gói nhỏ đều gói ngoài bằng giấy màu trắng kích thước (0,5x2) cm, bên trong đều chứa chất bột dạng cục màu trắng. C khai nhận đó là ma túy, loại H2, C cất giấu nhằm mục đích bán cho H3. Lực lượng Công an thu giữ và niêm phong 02 gói ma túy có đặc điểm nêu trên của C. Ngoài ra, còn thu giữ của C 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia vỏ màu đen đã qua sử dụng. Thu giữ của H3 01 điện thoại di động nhãn hiệu Itel màu đỏ, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, đều đã qua sử dụng. Sau đó, lực lượng Công an đưa Nguyễn Văn C, Vũ Hữu H3 cùng vật chứng về trụ sở Công an xã G lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Văn C.

Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Văn C tại thôn N, xã G, huyện G, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N thu giữ tại dưới đệm đầu giường trong phòng ngủ của C 01 túi nilon màu trắng, miệng túi có đường viền màu đỏ, kích thước (10x6) cm, bên trong đựng chất bột dạng cục màu trắng. C khai nhận đó là túi ma túy Heroine của C cất giấu nhằm mục đích để bán kiếm lời.

Quá trình điều tra, H3 khai nhận trong chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen mà lực lượng Công an thu giữ có chứa 02 video Huân ghi lại cảnh mua bán ma túy giữa C và H3 ngày 08 và ngày 09/12/2023. Tiến hành kiểm tra điện thoại, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N đã sao trích 02 tập tin video liên quan đến nội dung mua bán ma túy ngày 08 và 09/12/2023 vào 01 đĩa DVD màu vàng nhãn hiệu Maxell, dung lượng 4,7GB và niêm phong theo quy định ký hiệu VD. Sau đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N mở niêm phong để Nguyễn Văn C được xem 02 tập tin video. Sau khi xem xong, Cơ quan Cảnh sát điều tra tiến hành niêm phong đĩa DVD theo quy định ký hiệu VD1.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N đã tiến hành cân xác định khối lượng chất bột dạng cục màu trắng trong 02 gói nhỏ thu giữ của Nguyễn Văn C có khối lượng là 0,1789 gam, lấy mẫu giám định ký hiệu M1. Cân xác định khối lượng chất bột dạng cục màu trắng trong 01 túi nilon thu giữ trong quá trình khám xét khẩn cấp nhà Nguyễn Văn C có khối lượng 2,4450 gam, lấy mẫu giám định ký hiệu M2. gửi đi để xác định khối lượng và giám định chất ma túy.

Tại Kết luận giám định số 10/KL-KTHS-MT ngày 18/12/2023 của Phòng K, Công an tỉnh N kết luận:

Mẫu gửi giám định ký hiệu M1 có khối lượng là 0,1789 gam; ký hiệu M2 có khối lượng là 2,4450 gam. Tổng khối lượng hai mẫu ký hiệu M1, M2 là 2,6239 gam.

Mẫu gửi giám định ký hiệu M1, M2 đều là ma túy, loại Heroine.

Heroin có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và là chất ma túy được quy định tại Danh mục IA, số thứ tự 9; Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Ngày 21/12/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh N đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 157 giám định kỹ thuật số và điện tử trong đĩa DVD ký hiệu VD1.

Tại Kết luận giám định số 210/KL-KTHS-KTS&ĐT ngày 31/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong 02 tệp tin video lưu trữ trong đĩa DVD gửi giám định.

Tại Bản cáo trạng số 28/CT-VKS-GV ngày 26/04/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn đã truy tố Nguyễn Văn C ra trước Tòa án nhân dân huyện Gia Viễn để xét xử về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị HĐXX: tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”, áp dụng điểm b khoản 2 và khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h, khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C từ 08 (tám) năm đến 08 (tám) 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 10/12/2023. Phạt bổ sung từ 10.000.000đ đến 15.000.000đ sung công quỹ Nhà nước.

Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp: áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • - Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong ghi số 10/KL-KTHS-MT bên trong có: chất bột màu trắng còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M1 có khối lượng 0,1320 gam, ký hiệu M2 có khối lượng 2,3765 gam, đều là ma túy loại Heroine cùng toàn bộ vỏ bao gói niêm phong; 01 phong bì bên trong có 02 mảnh giấy màu trắng, 01 vỏ túi nilon, 02 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu. 03 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu.
  • - Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia vỏ màu đen
  • - Truy thu số tiền số tiền 400.000 đồng do bị cáo C bán ma túy cho H3 mà có, buộc bị cáo C phải nộp 400.000 đồng sung công quỹ Nhà nước.
  • - Đối với 01phong bì ghi số 210/KL-KTHS-KTS&ĐT ngày 31/01/2024 được niêm phong theo quy định bên trong gồm: 01 đĩa DVD màu vàng nhãn hiệu Maxell, dung lượng 4,7GB, 01 vỏ bao niêm phong ban đầu được chuyển theo hồ sơ vụ án.

Về án phí: áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn C khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, như cáo trạng đã truy tố. Bị cáo cho rằng việc truy tố của Viện kiểm sát là đúng người đúng tội, đồng ý với luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn tại phiên toà về việc giải quyết vụ án. Nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự người phạm tội thành khẩn khai báo, theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Lời nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn C tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi liên quan đến vụ án, người làm chứng, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, Kết luận giám định số 10/KL-KTHS ngày 26/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh N và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở kết luận: sáng ngày 10/12/2023 bị cáo C bán 02 gói ma túy cho túy cho Vũ Văn H1, sinh năm 1985, trú tại: thôn L, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình với giá 400.000đ tại cổng nhà bị cáo ở thôn L, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình, khi đang giao dịch mua bán thì bị bị lực lượng Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh N phối hợp với Công an xã G phát hiện bắt quả tang. Ngoài ra bị cáo C còn khai nhận ngày 08/12/2023 bị cáo bán 01 gói ma túy cho H1 với giá 200.000đ và ngày 09/12/2023 bán 01 ma túy cho H1 với giá 200.000đ.

[2] Bị cáo C là người có năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi bán ma túy cho người khác, là cố ý và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trị an trên địa phương.

Điều 251 của Bộ luật hình sự quy định về: “Tội mua bán trái phép chất ma tuý”.

1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

2. Phạm tội một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

..........

b, Phạm tội 02 lần trở lên;

..........

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghể hoặc công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Như vậy, hành vi bán trái phép ma tuý loại Heroine của bị cáo C cho Vũ Văn H1 như đã nêu ở trên thuộc trường hợp phạm tội hai lần trở lên quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự, do đó hành vi của bị cáo C bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn truy tố về tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”, theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội đúng pháp luật.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân:

Về tình tiết tăng nặng: trước lần phạm tội này bị cáo C có 01 tiền án chưa được xóa án tích mà tiếp tục phạm tội, nên phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm quy định tại điểm h, khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi bán ma túy cho H1 ngày 10/12/2023 và tự giác khai nhận ngày 08/12/2023 và ngày 09/12/2023 bị cáo có bán ma túy cho H1 đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: bị cáo C có hai tiền sự ngày 14/10/2022 UBND xã G ra quyết định áp dụng giáo dục tại xã thời hạn 03 tháng và ngày 25/10/2023 Công an xã G xử phạt cảnh cáo về hành vi: “sử dụng trái phép chất ma túy”. Ngoài ra bị cáo C nhiều lần bị xử phạt hành chính về hành vi: “Trộm cắp tài sản” và bị đưa ra xét xử về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

[4] Về hình phạt: xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, khối lượng, loại chất ma túy bị cáo C tàng trữ và bán cho người khác để kiếm lời. Hội đồng xét xử xét thấy mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn đề nghị xử phạt bị cáo là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo đủ nghiêm khắc giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân sống có ích cho bản thân, đồng thời bảo đảm tác dụng răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.

[5] Về hình phạt bổ xung: bị cáo C bán ma túy cho người khác nhằm thu lời bất chính nên cần phạt bổ xung, phạt tiền thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.

Ngoài ra trong vụ án này Vũ Hữu H3 là người đã mua Heroine của bị cáo C các ngày 08/12/2023 và 09/12/2023 để sử dụng cho bản thân. Công an huyện G đã ra quyết định xử phạt hành chính với H3 là phù hợp quy định của pháp luật. Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo C ngày 01/12/2023 theo lời khai của bị cáo. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G đã tiến hành điều tra, xác minh, nhưng không đủ căn cứ để xác định, xử lý.

[6] Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:

  • - Đối với 01 phong bì ghi số 210/ KL-KTHS-KTS&ĐT ngày 31/01/2024 được niêm phong theo quy định bên trong gồm: 01 đĩa DVD màu vàng nhãn hiệu Maxell, dung lượng 4,7GB, đây là chứng cứ chứng minh hành vi bán ma túy của bị cáo C, nên cần lưu theo hồ sơ vụ án là phù hợp quy định của pháp luật.
  • - Đối với chiếc xe mô tô bị cáo C điều khiển đi bán ma túy cho H3 ngày 08/12/2023 không thu giữ được. Quá trình điều tra bị cáo C khai mượn xe mô tô của một người bạn quen biết ngoài xã hội tên H4 nhà ở huyện L, tỉnh Hà Nam. Do đó không có căn cứ để điều tra xác minh.
  • - Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Itel, màu đỏ và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen thu giữ của Vũ Hữu H3, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của anh Thái Bá S, sinh năm 1987, trú tại phố B, phường N, thành phố N, không liên quan đến vụ án. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N đã trả lại chiếc điện thoại trên cho anh S, là đúng quy định của pháp luật.
  • - Đối với số tiền 400.000 đồng bị cáo C bán ma túy cho H3 trong các ngày 08/12/2023 và ngày 09/12/2023 mà có, bị cáo đã sử dụng chi tiêu cá nhân hết, do đó cần truy thu số tiền 400.000 đồng sung công quỹ Nhà nước, chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia vỏ màu đen, thu giữ của bị cáo C, bị cáo sử dụng liên lạc trao đổi mua bán ma túy với H3, cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
  • - Đối với 01 phong bì niêm phong ghi số 10/KL-KTHS-MT bên trong có: chất bột màu trắng còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M1 có khối lượng 0,1320 gam, ký hiệu M2 có khối lượng 2,3765 gam, đều là ma túy loại Heroine cùng toàn bộ vỏ bao gói niêm phong; 01 phong bì bên trong có 02 mảnh giấy màu trắng, 01 vỏ túi nilon, 02 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu. 03 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu. Đây là vật chứng của vụ án bị cấm lưu hành, không còn giá trị sử dụng. Do vậy căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy.

[7] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện G, điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện G, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[9] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

  • - Căn cứ vào điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
  • - Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; các điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
  • - Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý".

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn C 08 (tám) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 10/12/2023. Phạt bổ sung bị cáo 10.000.000đ (Mười triệu đồng). sung công qũy Nhà nước.

2. Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:

  • - Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì ghi số 10/KL-KTHS-MT được niêm phong bên trong có chất bột mầu trắng còn lại trong mẫu gửi đi giám định M1có khối lượng 0,1320 gam; M2 có khối lượng 2,3765 gam đều là ma túy loại heroine cùng toàn bộ vỏ bao gói ban đầu; 01 phong bì bên trong có 02 mảnh giấy màu trắng, 01 vỏ túi nilon, 02 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu; 03 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu.
  • - Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia mầu đen.
  • - Truy thu số tiền 400.000đ do bị cáo C phạm tội mà có. Buộc bị cáo C phải nộp 400.000đ sung công quỹ Nhà nước.
  • Chi tiết các vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/05/2024 giữa Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gia Viễn và Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện G.

3. Về án phí: bị cáo Nguyễn Văn C phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Người phải thi hành án, người được thi hành án, có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, thỏa thuận thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b, 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSND tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSND huyện Gia Viễn;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Ninh Bình;
  • - Công an huyện Gia Viễn;
  • - Chi cục THADS huyện Gia Viễn;
  • - Bị cáo, người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu HS, VP;
  • (Thông báo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Xuân Tưởng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 28/2024/HS-ST ngày 30/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA VIỄN, TỈNH NINH BÌNH về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 28/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA VIỄN, TỈNH NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Chinh PT mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger