|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THỦY TỈNH HÒA BÌNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
|
Số: 28/2024/HS-ST Ngày: 28-8-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THỦY, TỈNH HÒA BÌNH
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Bùi Thị Lan
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông: Tạ Đức Bằng
Bà: Bùi Thị Hòa
-Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Bình, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình tham gia phiên toà: Bà Lê Minh Tuyết, Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 19/2024/TLST-HS ngày 31/5/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2024/QĐXXST-HS ngày 14/6/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2024/QĐST-HS ngày 28/6/2024; thông báo mở lại phiên tòa số: 10/2024/TB-TA ngày 02/7/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 16/2024/QĐST-HS ngày 18/7/2024 đối với bị cáo:
Trần Quang V, sinh ngày 03/6/1988 tại xã T, huyện V, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: thôn C, xã T, huyện V, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; trình độ học vấn: 12/12; con ông Trần Văn H (đã chết) và bà Phạm Thị T; vợ là Vũ Thị T1 và 02 con; Tiền án: 03:
- Ngày 28/11/2016 bị Toà án nhân dân huyện Vụ bản, tỉnh Nam Định xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 34/2016/HSST, ngày 22/3/2017 chấp hành xong hình phạt tù. Đến ngày 08/01/2024 V chưa được xoá án tích.
- Tại bản án số 85/2018/HS-ST ngày 07/11/2018 của Toà án nhân dân tỉnh Nam Định xử phạt bị cáo Trần Quang V 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Đến ngày 08/01/2024 V chưa được xoá án tích.
- Tại bản án số 40/2018/HS-ST ngày 22/11/2018 của Toà án nhân dân tỉnh Nam Định xử phạt bị cáo Trần Quang V 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Đến ngày 08/01/2024 V chưa được xoá án tích.
- Tại Quyết định tổng hợp hình phạt số: 01/QĐ-THHP ngày 22/01/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định tổng hợp hình phạt của 02 bản án đã có hiệu lực pháp luật số: 85/2018/HS-ST ngày 07/11/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định và bản án số: 40/2018/HS-ST ngày 22/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định, buộc Trần Quang V phải chấp hành hình phạt chung là 05 (năm) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 14/6/2018, đến ngày 08/01/2024 V chưa được xóa án tích.
- Tiền sự: Không.
Nhân thân bị cáo:
- Ngày 23/4/2013 bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục theo quyết định số 576 ngày 23/4/2013 của Ủy ban nhân dân tỉnh N, thời hạn 24 tháng, về hành vi trộm cắp tài sản. Ngày 14/02/2015 đã chấp hành xong. Nay đã hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính.
- Tại bản án số 12/2024/HS-ST ngày 23/4/2024 của Toà án nhân dân huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định xử phạt bị cáo Trần Quang V 42 (bốn hai) tháng tù về tội trộm cắp tài sản, thời hạn tù tính từ ngày 11/01/2024, hiện đang chấp hành án tại trại giam X, đóng tại huyện T, Hà Tĩnh(có mặt tại phiên tòa).
- Người bị hại: Chị Quách Thị Huyền N, sinh năm 2000; nơi cư trú: xóm B, xã B, huyện Y, tỉnh Hòa Bình (vắng mặt);
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Lê Đình D, sinh năm 1988; nơi cư trú: thôn Đ, xã C, huyện L, tỉnh Hòa Bình (vắng mặt)
- Nguyễn Xuân H1, sinh năm 1991; nơi cư trú: thôn P, xã T, huyện V, tỉnh Nam Định; hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh N về hành vi tội phạm khác (vắng mặt).
- Chị Vũ Thị T1, sinh năm 1991; trú tại: Thôn C, xã T, huyện V, tỉnh Nam Định (vắng mặt).
- Chị Đinh Thị H2, sinh năm 1989; trú tại: thôn P, xã T, huyện V, tỉnh Nam Định (vắng mặt).
• Người làm chứng:
- Anh Bùi Văn Đ, sinh năm 1982; nơi cư trú: xóm Đ, xã B, huyện Y, tỉnh Hòa Bình (vắng mặt)
- Anh Đinh Văn K, sinh năm 1984; nơi cư trú: xóm T, xã B, huyện Y, tỉnh Hòa Bình (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Trần Quang V và Nguyễn Xuân H1 là hai đối tượng quen biết và thường rủ nhau đi trộm cắp tài sản lấy tiền chi tiêu. Khoảng 08 giờ ngày 08/01/2024 V đến nhà H1 để rủ đi trộm cắp tài sản thì H1 đồng ý. H1 đã lấy những công cụ để phục vụ quá trình thực hiện hành vi trộm cắp là một chiếc cờ lê hai đầu tròn; một thanh kim loại một đầu dẹt mỏng dạng tô vít hai cạnh, đầu còn lại được quấn băng dính đen; 01 chiếc kìm cộng lực bằng kim loại; 02 ống sắt bằng kim loại và đựng vào một chiếc ba lô do Trần Quang V chuẩn bị rồi H1 để chiếc balo lên xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave, màu xanhđen gắn biển kiểm soát 30F7-5949 chở V đi dọc theo các tuyến đường Quốc lộ, T2 lộ để tìm tài sản trộm cắp. Quá trình đi từ tỉnh Nam Định đến địa phận huyện N, tỉnh Ninh Bình cả hai không thực hiện được hành vi trộm cắp tài sản nào và tiếp tục rủ nhau đi đến địa phận huyện Y, tỉnh Hòa Bình để tìm tài sản trộm cắp. Đến khoảng 21 giờ 15 phút cùng ngày khi V và H1 đi đến đường H hướng Y đi Hà Nội đoạn thuộc địa phận xóm B, xã B, huyện Y, tỉnh Hòa Bình thì vào cửa hàng tạp hóa của chị Quách Thị Huyền N ở phía bên trái đường theo hướng đi mua nước uống và thuốc lá. V vào gặp chị N rồi mua thuốc lá và nước uống. Quá trình chị N lấy tiền tại hộp đựng tiền bằng kim loại(hộp bánh cũ) ở trên mặt bàn tại quầy bán hàng trả lại tiền thừa cho V. Lúc này V đã quan sát thấyvà ghi nhớ vị trí để tiền. Sau khi mua hàng xong, V quay ra xe và cùng H1 đi theo đường H về hướng Hà Nội. Quá trình ngồi sau xe mô tô của H1 thì V nảy sinh ý định trộm cắp tài sản là chiếc hộp đựng tiền tại cửa hàng của chị N. Khi xe đi được khoảng 100 mét thì V bảo H1 dừng xe lại và bàn bạc cùng nhau quay lại cửa hàng của chị N để trộm cắp tiền thì cả hai đồng ý. Sau đó, H1 chở V quay lại và dừng ở mép đường trước cửa hàng T3. Quan sát không thấy ai nên V đi bộ vào phía quầy hàng, cùng lúc H1 điều khiển xe mô tô vòng lại dừngtrước cửa quán quay đầu xe về hướng Hà Nội chờ V. V đi đến quầy bán hàng quan sát không thấy có người nên tiến đến vị trí hộp đựng tiền cạnh cửa quấn trên giá sắt và lấy trộm. Đúng lúc này chị N từ trong khu phòng ngủ đi ra và quan sát thấy hành vi trộm cắp của V nên hô “cướp”. Biết hành vi trộm cắp bị phát hiện nên V cầm hộp tiền chạy ra ngồi lên sau xe H1 điều khiển bỏ chạy theo đường H về hướng Hà Nội. Bỏ chạy được khoảng 500 mét đến đoạn đường D do xe mô tô chạy chậm, lo sợ bị truy đuổi bắt được nên V đã cầm hộp đựng tiền nhảy xuống xe bỏ chạy lên đồi cây keo ở bên đường, còn H1 tiếp tục điều khiển xe bỏ chạy về hướng đi Hà Nội. Sau khi V bỏ chạy lên đồi thì mở nắp hộp sắt vừa trộm cắp được và lấy hết tiền ở bêntrong bỏ vào túi áo, còn hộp sắt thì vứt ở rãnh thoát nước cạnh đường H. Khi quan sát thấy không có ai đuổi theo thì V mới dừng lại lấy số tiền trộm được ra đếm là 907.000 đồng. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày thì Trần Quang V có sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu iPhone Xs Max, màu vàng, có gắn sim số 0915.645.508 nhắn tin qua ứng dụng Zalo cho H1 bảo quay đón. Sau đó, H1 thuê xe ô tô biển kiểm soát 30G - 38455 do anh Lê Đình D điều khiển từ nhà nghỉ L 2 tại Thôn Đ, xã C, huyện L, tỉnh Hòa Bình và theo vị trí V gửi quay lại đón V. Khoảng 23 giờ cùng ngày H1 quay lại đến đoạn đường H thuộc địa phận xóm T, xã B, huyện Y, tỉnh Hòa Bình thì đón được V lên xe ngồi ghế phía sau. Sau đó, lái xe điều khiển xe ô tô đi về hướng Hà Nội thì V có giục lái xe “anh chạy nhanh cho em tý”, khi đi được một đoạn thì người lái xe bảo V “có đồ gì thì vứt hết đi” nghe vậy V đưa cho H1 đang ngồi ở ghế phụ phía trước 02 con dao quắm mà V nhặt được khi bỏ chạy ở trên đồi để vứt ra ngoài xe. Đi tiếp được một đoạnthì V quay lại phía sau quan sát thấy có xe đuổi theo nên yêu cầu lái xe dừng lại. Khi tài xế dừng xe thì V tự mở cửa bỏ chạy lên đồi thuộc địa phận xóm M, xã B, huyện Y, tỉnh Hòa Bình. Sau đó chiếc xe ô tô 30G -38455 bị lực lượng Công an xã B phối hợp với quần chúng nhân dân phát hiện và yêu cầu dừng lại. Lúc này biết không thể trốn tránh nên H1 đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản trên. Đếnngày 10/1/2024 Trần Quang V đến cơ quan công an đầu thú và khai báo toàn bộ nội dung vi phạm
Tại Kết luận định giá tài sản số 04/KL-HĐĐGTS ngày 02/02/2024của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Y kết luậnchiếc hộp sắt bằng kim loại màu đỏ kích thước 30 x 21 x 8cm có giá trị là 200 đồng.
Tại Kết luận định giá tài sản số 13/KL-HĐĐGTS ngày 08/05/2024của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Y kết luận chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe WAVE, màu sơn xanh đen, số khung RLHHC12348Y313483, số máy HC12E2025184 có giá trị là 7.000.000 đồng.
Về vật chứng vụ án:
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra Công an huyện Y đã tạm giữ: Số tiền 907.000 đồng và 01 chiếc điện thoại di động Iphone Xs Max, màu vàng cũ đã qua sử dụng có gắn sim số 0915.645.508 và 01chiếc hộp bằng kim loại, màu đỏ, kích thước 30 x 21 x 8cm cũ đã qua sử dụng của Trần Quang V; tạm giữ của Nguyễn Xuân H1 01chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone X màu vàng có gắn sim số 0702.027.063 cũ đã qua sử dụng và 02 ống bằng kim loại hình trụ tròn tối màu bên trong rỗng dài 40cm, đường kính 2,5cm, một đầu được bọc nhựa màu hồng phía ngoài dài 11,5cm trên thân ống có nhiều vết gỉ sét và 01 cờ lê hai đầu tròn bằng kim loại màu trắng bạc dài 14,5cm, một đầu 10 một đầu 8, đầu 8 của cờ lê được gắn một thanh kim loại tối màu dài 7cm được thiết kế một đầu hình lục giác bên ngoài được quận băng dính màu đen dài 2,5cm một đầu dẹp và 01 kìm cộng lực bằng kim loại tối màu dài 48cm, trên thân kìm có nhiều vết gỉ sét và 01 ba lo màu đỏ đen dài 45cm rộng 30cm, trên ba lô có chữ “APPLE” cũ đã qua sử dụng; và tạm giữ của Lê Đình D 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe WAVE, màu sơn xanh đen, số khung RLHHC12348Y313483, số máy HC12E2025184 xe cũ đã qua sử dụng. Số vật chứng nêu trên hiện được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Thủy bảo quản, chờ xử lý theo quy định.
Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe WAVE, màu sơn xanh đen, số khung RLHHC12348Y313483, số máy HC12E2025184 biển kiểm soát 30F7-5949 xe cũ đã qua sử dụng: Hiện Cơ quan CSĐT Công an huyện Y tiếp tục tạm giữ để điều tra, xác minh khi có đủ căn cứ sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự:
Gia đình bị cáo V đã bồi thường cho người bị hại chị Quách Thị Huyền N số tiền 500.000 đồng;Gia đình người liên quan Nguyễn Xuân H1 đã bồi thường cho bị hạichị N số tiền 407.000 đồng. Chị Quách Thị Huyền N đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu đề nghị gì về trách nhiệm dân sự và không yêu cầu đề nghị bồi thường về chiếc hộp sắt bằng kim loại, màu đỏ đựng tiền hay bất cứ yêu cầu nào khác.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Vũ Thị T1 thay bị cáo bồi thường số tiền 500.000 đồng cho bị hại Quách Thị Huyền N và 1.000.000 đồng cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lê Đình D, nay chị T1 không yêu cầu bị cáo V phải hoàn trả; Chị Đinh Thị H2 (vợ của Nguyễn Xuân H1) đã bồi thường số tiền 407.000 đồng cho bị hại chị N và 1.000.000 đồng cho anh Lê Đình D, nay chị H1 không yêu cầu Nguyễn Xuân H1 phải hoàn trả; Anh Lê Đình D đã nhận đủ số tiền chị T1, chị H1 bồi thường và nay không có yêu cầu đề nghị gì về trách nhiệm dân sự nữa.
Tại bản cáo trạng số 21/CT-VKSYT ngày 30/5/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thủy đã truy tố bị cáo Trần Quang V về tội “trộm cắp tài sản” theo điểm b, khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như đã khai tại cơ quan điều tra và phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã viện dẫn.
Bị hại chị Quách Thị Huyền N vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt nên không có lời trình bày.
Thực hành quyền công tố tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thủy, sau khi xem xét đánh giá toàn diện nội dung vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Trình bày quan điểm và luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm b, khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 56 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Quang V từ 09 (chín) tháng đến 15 (mười năm) tháng tù, tổng hợp hình phạt 42 tháng tù về tội trộm cắp tài sản của bản án số 12/2024/HS-ST ngày 23/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho 02 (hai) bản án là từ 51 (năm mươi mốt) tháng đến 54 (năm mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 11/01/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Trần Quang V.
Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị cáo V đã bồi thường cho người bị hại chị Quách Thị Huyền N số tiền 500.000 đồng; Gia đình người liên quan Nguyễn Xuân H1 đã bồi thường cho bị hại chị N số tiền 407.000 đồng. Chị Quách Thị Huyền N đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu đề nghị gì về trách nhiệm dân sự và không yêu cầu đề nghị bồi thường về chiếc hộp sắt bằng kim loại, màu đỏ đựng tiền hay bất cứ yêu cầu nào khác, nên không đề cập giải quyết.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Vũ Thị T1 thay bị cáo bồi thường số tiền 500.000 đồng cho bị hại Quách Thị Huyền N và 1.000.000 đồng cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lê Đình D, nay chị T1 không yêu cầu bị cáo V phải hoàn trả; Chị Đinh Thị H2 (vợ của Nguyễn Xuân H1) đã bồi thường số tiền 407.000 đồng cho bị hại chị N và 1.000.000 đồng cho anh Lê Đình D, nay chị H1 không yêu cầu Nguyễn Xuân H1 phải hoàn trả; Anh Lê Đình D đã nhận đủ số tiền chị T1, chị H1 bồi thường và nay không có yêu cầu đề nghị gì về trách nhiệm dân sự nữa, không đề cập giải quyết.
Vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 47; Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng dân sự:
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 907.000 đồng là tiền bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trộm cắp được mà có.
- Trả lại cho Trần Quang V: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs Max, màu vàng cũ đã qua sử dụng có gắn sim số 0915.645.508; Trả lại cho Nguyễn Xuân H1: 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone X màu vàng có gắn sim số 0702.027.063 cũ đã qua sử dụng. Là tài sản của V, H1. Bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không sử dụng làm công cụ phạm tội.
- Tịch thu tiêu huỷ: 01 chiếc hộp bằng kim loại, màu đỏ; 02 ống bằng kim loại hình trụ tròn tối màu; 01 cờ lê hai đầu tròn bằng kim loại màu trắng bạc; 01 kìm cộng lực bằng kim loại tối màu; 01 ba lo màu đỏ đen. Là công cụ, dụng cụ bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chuẩn bị để đi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, không còn giá trị sử dụng.
- Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe WAVE, màu sơn xanh đen, số khung RLHHC12348Y313483, số máy HC12E2025184 biển kiểm soát 30F7-5949 xe cũ đã qua sử dụng: Hiện Cơ quan CSĐT Công an huyện Y tiếp tục tạm giữ để điều tra, xác minh khi có đủ căn cứ sẽ xử lý theo quy định của pháp luật là có căn cứ.
Bị cáo Trần Quang V đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thủy truy tố, bị cáo không có ý kiến tranh luận gì.
Bị cáo V nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm trở thành người tốt có ích cho gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện Y, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bị hại và người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Tại phiên toà bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận của bị cáo là rõ ràng phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, của những người tham gia tố tụng khác, vật chứng thu được cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Vào hồi 21 giờ ngày 08/01/2024 tại gia đình chị Quách Thị Huyền N trú tại xóm B, xã B, huyện Y, tỉnh Hòa Bình, lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu tài sản Trần Quang V và Nguyễn Xuân H1 đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản số tiền là 907.200 đồng của gia đình chị N để trong hộp sắt cạnh cửa cuốn trên giá sắt. Tại thời điểm chiếm đoạt tài sản bị cáo V đã có 03 tiền án về tội trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích, thì V lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản do cố ý. Vì vậy hành vi của Trần Quang V đã cấu thành tội “trộm cắp tài sản”, căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thủy đã truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi nêu trên của bị cáo Trần Quang V là nguy hiểm, gây mất trật tự trị an xã hội trên địa bàn huyện Y; đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân là những khách thể được luật hình sự Việt Nam nghiêm cấm và bảo vệ, gây hoang mang cho quần chúng nhân dân. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Do đó cần phải có hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi mà bị cáo đã gây ra nhằm giáo dục, cải tạo và phòng ngừa chung.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng: Trần Quang V không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo: Bị cáo Trần Quang V là người có nhân thân xấu, bị cáo đã có 03 tiền án cùng về tội trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích, đây là căn cứ để định tội cho bị cáo trong vụ án. Ngoài ra bị cáo còn có 01 tiền sự về hành vi “Trộm cắp tài sản” bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục với thời hạn 24 tháng, đến ngày 14/02/2015 V đã chấp hành xong nay đã được xóa vi phạm và 01 hành vi về tội “Trộm cắp tài sản” vào ngày 16/11/2023 và bị Tòa án nhân dân huyện Vụ Bản tỉnh Nam Định xử phạt 42 tháng tù theo bản án số 12/2024/HS-ST ngày 23/4/2024, do đó cần được xem xét khi quyết định hình phạt. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy trong suốt quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo V đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; sau khi phạm tội bị cáo và người liên quan Nguyễn Xuân H1 đã tích cực bồi thường cho người bị hại số tiền đã chiếm đoạt và được người bị hại có đơn xin miễn giảm trách nhiệm hình sự cho bị cáo; bị cáo ra đầu thú nên coi đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm một phần hình phạt thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với bị cáo.
[4] Hình phạt chính: Trên cơ sở xem xét, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ điều kiện giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội.
[5] Hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Trần Quang V không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại chị Quánh Thị Huyền N1 đã nhận lại số tiền bị chiếm đoạt từ đại diện gia đình bị cáo V số tiền 500.000đồng và 407.000 đồng của đại diện gia đình người liên quan Nguyễn Xuân H1; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Lê Đình D đã nhận số tiền 1.000.000 đồng của chị Vũ Thị T1 (vợ bị cáo V) và 1.000.000 đồng của chị Đinh Thị H2 (vợ của người liên quan Nguyễn Xuân H1). Nay bị hại chị N1; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Lê Đình D không có yêu cầu gì thêm về dân sự nên không xem xét giải quyết.
Chị Vũ Thị T1; chị Đinh Thị H2 không yêu cầu bị cáo V và người liên quan Nguyễn Xuân H1 phải hoàn trả số tiền của gia đình đã bồi thường trên nên không xem xét giải quyết.
[7] Vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 47; Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng dân sự: Xét thấy việc đề nghị xử lý vật chứng mà Viện kiểm sát đã đề nghị là có căn cứ đúng pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[8] Về án phí: Bị cáo Trần Quang V bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[9] Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại các điều 331, điều 332, điều 333, điều 334 và điều 335 của Bộ luật tố tụng hình sự.
[10] Về vấn đề khác:
+ Đối với Nguyễn Xuân H1 là người cùng tham gia thực hiện tội phạm với bị cáo Trần Quang V. Tuy nhiên tại thời điểm thực hiện hành vi trộm cắp là 907.200 đồng, bản thân H1 chưa có tiền án, tiền sự. Do đó hành vi của H1 không đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại điều 173 Bộ luật Hình sự. Nhưng hành vi của H1 đã vi phạm hành chính theo quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 15 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định XPHC trong lĩnh vực An ninh, trật tự, an toàn xã hội. Nay Cơ quan điều tra Công an huyện Y đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Xuân H1 là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
+ Đối với anh Lê Đình D là người cho Nguyễn Xuân H1 thuê nhà nghỉ ngày 08/01/2024 và sử dụng xe ô tô biển kiểm soát 30G - 38455 chở H1 và V, anh D không biết việc H1 và V trộm cắp tài sản nên không có lỗi, nên không có hình thức xử lý đối với anh D là đúng qui định.
+ Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe WAVE, màu sơn xanh đen, số khung RLHHC12348Y313483, số máy HC12E2025184 biển kiểm soát 30F7-5949 xe cũ đã qua sử dụng. Do bị cáo Trần Quang V và người liên quan Nguyễn Xuân H1 đã trộm cắp ngày 21/12/2023 tại cây xăng T4, thuộc xã M, M, Nam Định. Qua điều tra xác định xe mô tô trên chủ sở hữu là Nguyễn Bá H3, sinh năm 1988 tại Q, H, Hà Nội. Anh H3 khai đã bán cho người khác từ năm 2010, không nhớ là ai, không làm giấy tờ mua bán. Vì vậy nay giao cho Cơ quan CSĐT Công an huyện Y tiếp tục tạm giữ chiếc xe mô tô trên để điều tra, xác minh khi có đủ căn cứ sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Trần Quang V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Quang V 09 (chín) tháng tù. Căn cứ Điều 56 của Bộ luật hình sự: Tổng hợp hình phạt 42 (bốn mươi hai) tháng tù của bản án số 12/2024/HS-ST ngày 23/4/2024 của Toà án nhân dân huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định, buộc bị cáo Trần Quang V phải chấp hành hình phạt chung cho 02 (hai) bản án là 51 (năm mươi mốt) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 11/01/2024.
-
Xử lý vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 47; Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng dân sự:
- - Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 907.000 đồng là tiền bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trộm cắp được mà có.
- - Trả lại cho Trần Quang V: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs Max, màu vàng cũ đã qua sử dụng có gắn sim số 0915.645.508; Trả lại cho Nguyễn Xuân H1: 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone X màu vàng có gắn sim số 0702.027.063 cũ đã qua sử dụng. Là tài sản của V, H1. Bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không sử dụng làm công cụ phạm tội.
- - Tịch thu tiêu huỷ: 01 chiếc hộp bằng kim loại, màu đỏ; 02 ống bằng kim loại hình trụ tròn tối màu; 01 cờ lê hai đầu tròn bằng kim loại màu trắng bạc; 01 kìm cộng lực bằng kim loại tối màu; 01 ba lo màu đỏ đen. Là công cụ, dụng cụ bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chuẩn bị để đi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, không còn giá trị sử dụng.
- - Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe WAVE, màu sơn xanh đen, số khung RLHHC12348Y313483, số máy HC12E2025184 biển kiểm soát 30F7-5949 xe cũ đã qua sử dụng: Tiếp tục giao cho Cơ quan CSĐT Công an huyện Y tạm giữ để điều tra, xác minh khi có đủ căn cứ sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.
- Về án phí: Căn cứ Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Trần Quang V phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
-
Quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo Trần Quang V có quyền làm đơn kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Hoà Bình.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền làm đơn kháng cáo theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà (Đã ký) Bùi Thị Lan |
Bản án số 28/2024/HS-ST ngày 28/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THỦY, TỈNH HÒA BÌNH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 28/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THỦY, TỈNH HÒA BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Quang V bị VKSND huyện Yên Thủy truy tố về tôi TCTS theo quy định tại điểm b Kh1 Đ 173 BLHS
