Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TAM DƯƠNG

TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT

NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2024/HSST

Ngày 23-4-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƯƠNG, TỈNH VĨNH PHÚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Tiến Dũng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Đình La.

Ông Hoàng Minh Giám.

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Duy Lăng, Thư ký Toà án nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Huy Hoàn, Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 4 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 26/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Quang T, sinh ngày 13/9/1981; nơi cư trú: Thôn C, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B và bà Dương Thị N; có vợ là Đinh Thị Y và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ ngày 03/02/2024 đến ngày 06/02/2024 được thay thế biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại, (Có mặt).

2. Trần Văn H, sinh ngày 06/01/1981; nơi cư trú: Thôn B, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Bảo N1 và bà Dương Thị T1 (đã chết); có vợ là Nguyễn Thị C và 03 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ ngày 03/02/2024 đến ngày 06/02/2024 được thay thế biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại, (Có mặt).

3. Nguyễn Văn Q, sinh ngày 01/01/1983; nơi cư trú: Thôn B, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; bố không xác định, con bà Phùng Thị Đ; có vợ là Đàm Thị Bích H1 và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ ngày 03/02/2024 đến ngày 06/02/2024 được thay thế biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại, (Có mặt).

4. Phùng Văn N2, sinh ngày 15/3/1982; nơi cư trú: Thôn B, xã H, huyện T,tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phùng Văn N3 và bà Nguyễn Thị T2; có vợ là Phùng Thị Thanh N4 và 03 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ ngày 03/02/2024 đến ngày 06/02/2024 được thay thế biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại, (Có mặt).

5. Phùng Văn S, sinh ngày 29/5/1981; nơi cư trú: Thôn B, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phùng Văn L và bà Dương Thị L1; có vợ là Đinh Thị M và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ ngày 03/02/2024 đến ngày 06/02/2024 được thay thế biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại, (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 03/02/2024, Nguyễn Quang T, Trần Văn H, Nguyễn Văn QPhùng Văn N2 ăn cơm, uống rượu tại nhà anh Nguyễn Văn S1, sinh năm 1979 ở thôn B, xã H, huyện T. Trong khi ngồi uống rượu, T rủ H, QN2 đánh bạc được thua bằng tiền nên tất cả đều đồng ý và thống nhất tập trung tại nghĩa trang T5, xã H để đánh bạc với nhau. Sau khi uống rượu xong, khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, Q đi mua 01 bộ bài tú lơ khơ rồi đi bộ đến nghĩa trang thôn B đợi. Khoảng 15 phút sau, N2.TH lần lượt đi bộ đến rồi tất cả cùng ngồi xuống chiếc chiếu nhựa đã trải sẵn tại nhà quản trang của nghĩa trang T5. Trước khi đánh bạc, các đối tượng thống nhất đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức chơi “Ba cây”, mức cá cược mỗi ván là 50.000đ/người, sử dụng 36 quân bài trong bộ bài tú lơ khơ 52 quân gồm: 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, A (Át). Quy ước giá trị lá bài từ thấp đến cao là từ 2, 3,..., 9, A; chất từ mạnh đến yếu là rô, cơ, tép, bích. Người chia bài được gọi là người cầm chương sẽ chia cho mỗi người chơi 03 quân bài ngẫu nhiên rồi người chơi sẽ tiến hành đặt cược tiền với người cầm chương, quy định mức sát phạt là 50.000đ/1 ván. Sau đó, những người chơi và người cầm chương sẽ tự tính điểm của mình bằng cách cộng tổng chữ số trên 03 quân bài của mình. Khi đã xác định được điểm, người chơi sẽ so sánh điểm của mình với người cầm chương, ai cao điểm hơn sẽ thắng số tiền đúng bằng số tiền đã đặt cược. Trường hợp được 10 điểm hoặc 20 điểm thì được tính là 10 điểm và là điểm cao nhất. Trường hợp bằng điểm nhau thì tiến hành so sánh một quân bài cao giá trị cao nhất rồi so sánh chất mạnh, yếu theo thứ tự đã quy ước, giá trị bài cao và chất mạnh hơn sẽ thắng. Trường hợp người nào được 10 điểm và thắng thì sẽ được thắng số tiền gấp đôi mức đã đặt cược và người đó sẽ được cầm chương ván tiếp theo. Giữa các người chơi có thể đặt cược riêng với nhau để so sánh điểm, mức độ ăn thua do các người chơi tự thỏa thuận. Sau khi thống nhất, T, H, N2, Q ngồi đánh bạc với nhau được khoảng 01 tiếng thì có Phùng Văn S đi tảo mộ qua nên vào ngồi cùng tham gia đánh bạc. Một lúc sau, ông Đỗ Văn T3, sinh năm 1974, trú tại thôn B, xã H đi tảo mộ, thấy các đối tượng đang ngồi đánh bạc nên ông T3 vào xem, không tham gia đánh bạc. Các đối tượng đánh bạc đến khoảng 16 giờ cùng ngày thì bị Công an huyện T bắt quả tang, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng gồm: Thu giữ trên chiếu bạc số tiền 5.000.000 đồng (Trong đó: T4 ở phía trước mặt Phùng Văn N2 3.200.000 đồng, thu ở phía trước mặt Trần Văn H 1.800.000 đồng); thu ở phía trước mặt Nguyễn Quang T 01 ví giả da màu đen, bên trong có 1.740.000 đồng; 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân; 01 chiếu nhựa đã cũ. T4 tại túi quần trước bên phải Phùng Văn N2 đang mặc 150.000 đồng; thu tại túi quần sau bên phải Phùng Văn S đang mặc 100.000 đồng và túi quần trước bên phải của S 300.000 đồng; thu tại túi quần sau bên phải Nguyễn Văn Q đang mặc 180.000 đồng và túi áo trước bên trái của Q 200.000 đồng; thu tại túi áo trước bên trái của Nguyễn Quang T đang mặc 1.300.000 đồng; thu tại túi quần trước bên phải Trần Văn H đang mặc 150.000 đồng và túi quần sau bên trái của H 01 ví giả da màu nâu, bên trong có 2.330.000 đồng. Tạm giữ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO V29E5G, màu xanh của Nguyễn Quang T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A7, màu vàng của Trần Văn H; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A54, màu xanh của Nguyễn Văn Q; 01 điện thoại di động nhãn hiệu GALAXY J7, màu đen của Phùng Văn S; 01 điện thoại di động nhãn hiệu GALAXY A12, màu xanh của Phùng Văn N2.

Quá trình điều tra, các bị cáo khai nhận trước khi đánh bạc, Nguyễn Quang T có khoảng 2.200.000 đồng; Trần Văn H có khoảng 3.900.000 đồng; Nguyễn Văn Q có 1.300.000 đồng; Phùng Văn S có 2.000.000 đồng; Phùng Văn N2 có 2.000.000 đồng, đều sử dụng toàn bộ số tiền này vào việc đánh bạc, tổng cộng là 11.400.000 đồng. Tuy nhiên, khi Cơ quan điều tra bắt quả tang đã thu giữ được trên chiếu, trên người và trong ví của 05 bị cáo tổng số tiền là 11.450.000 đồng. Do đó, buộc các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự với số tiền tham gia đánh bạc là 11.450.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 34/CT-VKSTD ngày 05/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương đã truy tố các bị cáo Nguyễn Quang T, Trần Văn H, Nguyễn Văn Q, Phùng Văn SPhùng Văn N2 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương thực hành quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Nguyễn Quang T, Trần Văn H, Nguyễn Văn Q, Phùng Văn SPhùng Văn N2 phạm tội “Đánh bạc”. Áp dụng:

  • - Khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự; điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự. Xử phạt Nguyễn Quang T từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • - Khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự; điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự. Xử phạt Trần Văn H từ 09 tháng đến 01 năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • - Khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự; điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự. Xử phạt Nguyễn Văn Q từ 09 tháng đến 01 năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • - Khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự; điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự. Xử phạt Phùng Văn S từ 07 tháng đến 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 năm 02 tháng đến 01 năm 06 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • - Khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự; điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự. Xử phạt Phùng Văn N2 từ 07 tháng đến 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 năm 02 tháng đến 01 năm 06 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao các bị cáo Nguyễn Quang T, Trần Văn H, Nguyễn Văn Q, Phùng Văn SPhùng Văn N2 cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự, phạt Nguyễn Quang T, Trần Văn H, Nguyễn Văn Q, Phùng Văn SPhùng Văn N2 mỗi bị cáo từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng sung nộp ngân sách nhà nước.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

  • - Tịch thu sung nộp ngân sách nhà nước số tiền 11.450.000 đồng.
  • - Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc chiếu nhựa, 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân bài.
  • - Trả lại cho Nguyễn Quang T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo V29E5G màu xanh và 01 ví giả da màu đen, Trần Văn H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A7 màu vàng và 01 ví giả da màu nâu, Nguyễn Văn Q 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A54 màu xanh; Phùng Văn S 01 điện thoại di động nhãn hiệu Galaxy J7 màu đen, Phùng Văn N2 01 điện thoại di động nhãn hiệu Galaxy A12 màu xanh nhưng tạm giữ các điện thoại di động của các bị cáo để đảm bảo thi hành án.

Các bị cáo T, H, Q, SN2 đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên toà và trong quá trình điều tra, các bị cáo Nguyễn Quang T, Trần Văn H, Nguyễn Văn Q, Phùng Văn SPhùng Văn N2 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương đã truy tố. Các bị cáo không có lời bào chữa nào khác. Xét lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, phù hợp với vật chứng thu giữ được và phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy có đủ cơ sở chứng cứ khách quan để kết luận: Hồi 16 giờ ngày 03/02/2024, tại nghĩa trang thôn B, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, Nguyễn Quang T, Trần Văn H, Nguyễn Văn Q, Phùng Văn SPhùng Văn N2 đang có hành vi đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức chơi “Ba cây” thì bị Công an huyện T bắt quả tang, thu giữ số tiền trên chiếu bạc và trên người các đối tượng đánh bạc là: 11.450.000 đồng; 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân; 01 chiếu nhựa đã qua sử dụng cùng một số đồ vật, tài liệu khác. Quá trình điều tra xác định, tổng số tiền các bị cáo đã sử dụng để đánh bạc là 11.450.000 đồng. Do đó, buộc các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự đối với số tiền trên.

Hành vi của Nguyễn Quang T, Trần Văn H, Nguyễn Văn Q, Phùng Văn SPhùng Văn N2 đã phạm vào tội “Đánh bạc”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Điều 321 quy định: “1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hoặc hiện vật có giá trị từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

Xét tính chất vụ án tuy là ít nghiêm trọng, nhưng hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự công cộng, xâm phạm trật tự trị an, an toàn xã hội, gây nên sự bất bình trong quần chúng nhân dân. Trong vụ án này, các bị cáo cùng thực hiện tội phạm nhưng không bàn bạc phân công cụ thể và cấu kết chặt chẽ với nhau nên chỉ mang tính chất đồng phạm giản đơn. Trong đó, Nguyễn Quang T, Nguyễn Văn Q có vai trò tích cực hơn do T khởi sướng, Q mua bài tú lơ khơ để sử dụng làm công cụ cho các bị cáo khác cùng đánh bạc, Trần Văn H là người sử dụng số tiền nhiều nhất vào việc đánh bạc, Phùng Văn N2, Phùng Văn S sử dụng số tiền vào việc đánh bạc ít hơn nên lần lượt theo thứ tự giảm dần trong vai trò đồng phạm giúp sức. Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và biết rõ hành vi đánh bạc của mình bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện.

[3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân các bị cáo:

Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên các bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, ông nội bị cáo Nguyễn Quang T có công, được tặng thưởng H2 huy chương nên bị cáo T được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, các bị cáo nhất thời phạm tội, số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc không lớn, các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, các bị cáo đều có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng. Vì vậy, chỉ cần áp dụng hình phạt tù cho các bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách đối với các bị cáo và giao các bị cáo cho chính quyền địa phương nơi các bị cáo cư trú giám sát, giáo dục cũng đủ điều kiện cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội và phòng ngừa chung.

[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự “Người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Xét thấy các bị cáo đều có thu nhập ổn định nên cần áp dụng hình phạt bổ sung để phạt tiền đối với các bị cáo.

[5] Trong vụ án này còn có ông Đỗ Văn T3, sinh năm 1974, trú tại thôn B, xã H, huyện T có mặt khi các bị cáo đánh bạc. Quá trình điều tra xác định, ông T3 chỉ ngồi xem, không tham gia đánh bạc hay có hành vi giúp sức gì cho các bị cáo đánh bạc nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

[6] Về xử lý vật chứng:

  • - Số tiền 11.450.000 đồng là tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc cần tịch thu sung nộp ngân sách nhà nước.
  • - 01 chiếc chiếu nhựa đã cũ, 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân là công cụ các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
  • - Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo V29E5G màu xanh và 01 ví giả da màu đen của Nguyễn Quang T, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A7 màu vàng và 01 ví giả da màu nâu của Trần Văn H, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A54 màu xanh của Nguyễn Văn Q; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Galaxy J7 màu đen của Phùng Văn S, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Galaxy A12 màu xanh của Phùng Văn N2. Quá trình điều tra xác định những tài sản trên là của các bị cáo không sử dụng để đánh bạc, trả lại cho các bị cáo nhưng tạm giữ các điện thoại di động để đảm bảo thi hành án.

[7] Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Quang T, Trần Văn H, Nguyễn Văn Q, Phùng Văn SPhùng Văn N2 phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Quang T, Trần Văn H, Nguyễn Văn Q, Phùng Văn SPhùng Văn N2 phạm tội: “Đánh bạc”.

Căn cứ vào:

  • - Khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự; điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự. Xử phạt Nguyễn Quang T 01 (Một) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 (Hai) năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • - Khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự; điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự. Xử phạt Trần Văn H từ 09 (Chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • - Khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự; điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự. Xử phạt Nguyễn Văn Q 09 (Chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • - Khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự; điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự. Xử phạt Phùng Văn N2 07 (Bảy) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (Một) năm 02 (Hai) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • - Khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự; điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự. Xử phạt Phùng Văn S 07 (Bảy) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (Một) năm 02 (Hai) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao các bị cáo Nguyễn Quang T, Trần Văn H, Nguyễn Văn Q, Phùng Văn SPhùng Văn N2 cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự, phạt Nguyễn Quang T, Trần Văn H, Nguyễn Văn Q, Phùng Văn SPhùng Văn N2 mỗi bị cáo 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) sung nộp ngân sách nhà nước.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

  • - Tịch thu sung nộp ngân sách nhà nước số tiền 11.450.000 đồng (Mười một triệu bốn trăm năm mươi nghìn đồng). Xác nhận Công an huyện T đã nộp số tiền 11.450.000 đồng vào Kho bạc nhà nước huyện T theo giấy nộp tiền vào tài khoản lập ngày 22 tháng 4 năm 2024 giữa Công an huyện T và Kho bạc nhà nước huyện T.
  • - Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc chiếu nhựa đã cũ, 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân bài.
  • - Trả lại cho cho Nguyễn Quang T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo V29E5G màu xanh và 01 ví giả da màu đen, Trần Văn H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A7 màu vàng và 01 ví giả da màu nâu, Nguyễn Văn Q 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A54 màu xanh; Phùng Văn S 01 điện thoại di động nhãn hiệu Galaxy J7 màu đen, Phùng Văn N2 01 điện thoại di động nhãn hiệu Galaxy A12 màu xanh nhưng tạm giữ các điện thoại di động của các bị cáo để đảm bảo thi hành án.

Các vật chứng tịch thu tiêu hủy, tài sản trả lại có đặc điểm như biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng giữa Công an huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc lập ngày 22 tháng 4 năm 2024.

Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về án phí, lệ phí toà án, các bị cáo Nguyễn Quang T, Trần Văn H, Nguyễn Văn Q, Phùng Văn SPhùng Văn N2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Tam Dương;
  • - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Chi cục THADS huyện Tam Dương;
  • - Công an huyện Tam Dương;
  • - UBND xã Hướng Đạo, huyện Tam Dương;
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu HS, bộ phận theo dõi THAHS.

Các Hội thẩm nhân dân

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Đình La

Hoàng Minh Giám

Trần Tiến Dũng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 28/2024/HSST ngày 23/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƯƠNG, TỈNH VĨNH PHÚC về hình sự (đánh bạc)

  • Số bản án: 28/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƯƠNG, TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hồi 16 giờ ngày 03/02/2024, tại nghĩa trang thôn Bồ Yên, xã Hướng Đạo, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc, Nguyễn Quang Thanh, Trần Văn Huy, Nguyễn Văn Quang, Phùng Văn Sức và Phùng Văn Nguyện đang có hành vi đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức chơi “Ba cây” thì bị Công an huyện Tam Dương bắt quả tang, thu giữ số tiền trên chiếu bạc và trên người các đối tượng đánh bạc là: 11.450.000 đồng; 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân; 01 chiếu nhựa đã qua sử dụng cùng một số đồ vật, tài liệu khác. Quá trình điều tra xác định, tổng số tiền các bị cáo đã sử dụng để đánh bạc là 11.450.000 đồng. Do đó, buộc các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự đối với số tiền trên.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger