|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH TỈNH QUẢNG BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 28/2024/HSST Ngày: 12 - 6 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhàn,
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Minh Nhân và ông Phạm Xuân Ninh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Trang Nhung, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Triều, Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 6 năm 2024, tại Phòng xét xử Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 19/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2024/QĐXX-ST, ngày 08 tháng 5 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 06/2024/QĐST-HS ngày 23 tháng 5 năm 2024, đối với:
Bị cáo Trần Văn P, sinh ngày 04 tháng 7 năm 1969 tại H, Quảng Ninh, Quảng Bình, tên gọi khác: Không; nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố V, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Trần Văn G và bà Nguyễn Thị V; có vợ Lê Thị L, có hai con, lớn nhất sinh 1996, nhỏ nhất sinh 2009; tiền án, tiền sự: Không.
Về nhân thân: Ngày 10/7/1991, bị Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng xử phạt 02 (hai) năm tù về tội “Cướp tài sản công dân”; ngày 07/01/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình xử phạt 09 (chín) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 19 tháng 01 năm 2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Q, tỉnh Quảng Bình, có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Lê Thị L, sinh năm 1974; nghề nghiệp: Lao động tự do; địa chỉ: Tổ dân phố V, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, có mặt;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 17 giờ 00 phút ngày 19/01/2024, Tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra về HS-KT-MT Công an huyện Q phối hợp với Công an xã V tiến hành tuần tra đảm bảo an ninh trật tự tại thôn C, xã V, huyện Q thì phát hiện một người đàn ông có biểu hiện nghi vấn điều khiển phương tiện xe mô tô BKS: 73N3-7096 chạy vào nhà của Cao Văn T. Tổ công tác đã kiểm tra xác định được người đàn ông đó là Trần Văn P (sinh năm 1969, trú tại T, thị trấn Q), tiến hành kiểm tra thì phát hiện bên trong túi áo khoác phía bên phải của Trần Văn P đang mang trên người có 06 (sáu) viên nén dạng thuốc tân dược màu hồng được gói trong một mảnh giấy bạc màu vàng và một gói nilon màu đen, bên trong gói nilon màu đen đựng một gói nilon trong suốt chứa 24 (hai mươi bốn) viên nén dạng thuốc tân dược màu hồng. Trần Văn P khai nhận toàn bộ số viên nén bị cơ quan Công an phát hiện, thu giữ nói trên là ma túy tổng hợp dạng hồng phiến. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đồng thời thu giữ, niêm phong tang vật liên quan.
Cơ quan CSĐT Công an huyện Q tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trần Văn P ở T, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình đã phát hiện thu giữ được 01 chai nhựa tự chế ở giữa có 01 lỗ tròn. Trần Văn P khai nhận toàn bộ số ma túy này được P mua từ một người đàn ông không quen biết tại khu vực đường đi thuộc xã H mang về cất dấu để sử dụng.
Tại Kết luận giám định số 137/KL-KTHS ngày 26/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận: Mẫu ký hiệu A1 là chất ma tuý, loại Methamphetamine, khối lượng 2,982g (hai phẩy chín trăm tám mươi hai gam). Methamphetamine nằm trong danh mục các chất ma túy, Số thứ tự: 247, Danh mục IIC, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25 tháng 8 năm 2022 của Chính phủ.
Về vật chứng vụ án: Ngày 19/01/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Q, tỉnh Quảng Bình đã thu giữ: 06 (sáu) viên nén dạng thuốc tân dược màu hồng được gói trong một mảnh giấy bạc màu vàng; 01 (một) gói nilon màu đen, bên trong gói nilon màu đen đựng một gói nilon trong suốt chứa 24 (hai mươi bốn) viên nén dạng thuốc tân dược màu hồng; 01 (một) chai nhựa tự chế; Số tiền 950.000 đồng tiền Ngân hàng N phát hành; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA DREAM II, mang BKS: 73N3-7096 không kiểm tra chi tiết bên trong.
Tại Bản cáo trạng số 19/CT-VKS, ngày 25 tháng 04 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình truy tố bị cáo Trần Văn P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, Trần Văn P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, đúng như nội dung Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh đã truy tố.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh giữ quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật phát biểu quan điểm, luận tội chứng minh bị cáo Trần Văn P đã thực hiện hành vi phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy loại Methamphetamine, số lượng 30 viên, khối lượng 2,982g (hai phẩy chín trăm tám mươi hai gam). Cáo trạng truy tố có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt Trần Văn P mức án từ 24 đến 30 tháng tù; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau khi giám định, 01 (một) chai nhựa tự chế; trả lại cho bị cáo số tiền 950.000 đồng; trả lại cho chị Lê Thị L 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA DREAM II, mang BKS: 73N3-7096.
Bị cáo Trần Văn P nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát và lời luận tội của Kiểm sát viên, hối hận về hành vi phạm tội của mình, tỏ thái độ ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, sớm trở về hòa nhập cộng đồng, có điều kiện giúp đỡ gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Q, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh, Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai của bị cáo thống nhất, phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án; phù hợp về thời gian, địa điểm và quá trình diễn biến của vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định: Vào lúc 17 giờ 00 phút ngày 19/01/2024, Trần Văn P tàng trữ bên trong túi áo khoác phía bên phải 30 (ba mươi) viên nén tổng hợp dạng hồng phiến là ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng 2,982g. Số ma túy trên do Trần Văn P mua về cất giấu mục đích để sử dụng. Hành vi của Trần Văn P thuộc lỗi cố ý, bị cáo đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Như vậy, hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh truy tố và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa đối với bị cáo về tội danh, khung hình phạt như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo rất nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, gây mất trật tự trị an xã hội. Bị cáo biết ma túy là loại chất gây nghiện có nguy cơ gây hại rất lớn cho xã hội, Nhà nước cấm sử dụng, nhưng bị cáo vẫn cố tình cất giấu để sử dụng. Do đó, cần phải xử lý nghiêm, tương ứng với tính chất vụ án, tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung, góp phần đấu tranh phòng, chống tệ nạn và các tội phạm về ma túy trong đời sống xã hội.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bố bị cáo được tặng Huân chương kháng chiến hạng ba, là bệnh binh; bản thân bị cáo bị ốm đau thường xuyên nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, bị cáo có nhân thân xấu, ngày 10/7/1991, bị Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng xử phạt 02 (hai) năm tù về tội “Cướp tài sản công dân”; ngày 07/01/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình xử phạt 09 (chín) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà tiếp tục phạm tội, thể hiện sự coi thường pháp luật nên cần thiết cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để bị cáo có điều kiện cải tạo, tu dưỡng, sớm trở thành người công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội.
Bị cáo Trần Văn P khai trực tiếp mua ma túy từ một người đàn ông không quen biết, không biết tên tuổi, địa chỉ tại khu vực đường đi H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình vào ngày 18/01/2024 về để sử dụng. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không có cơ sở xác định người bán ma túy cho bị cáo, cơ quan CSĐT Công an huyện Q tiếp tục điều tra xử lý sau.
[4] Về vật chứng vụ án: Khối lượng chất ma túy thu giữ trong vụ án sau khi giám định còn lại là vật cấm tàng trữ, lưu hành; 01 (một) chai nhựa tự chế không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Số tiền 950.000 đồng tiền Ngân hàng N phát hành không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo; đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA DREAM II, mang BKS: 73N3-7096 không kiểm tra chi tiết bên trong của chị Lê Thị L mua lại của anh Hoàng Văn S có giấy tờ mua bán, chị L không biết bị cáo lấy đi mua và cất giấu ma túy nên cần trả lại cho chị L là hoàn toàn phù hợp với khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự và điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
[5] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Trần Văn P phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[6] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38, điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự;
Căn cứ điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136; Điều 260; khoản 1 Điều 268, khoản 1 Điều 269; khoản 1 Điều 298; khoản 1, 4 Điều 331; khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
- Về tội danh và hình phạt:
Tuyên bố bị cáo Trần Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Trần Văn P 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 19 tháng 01 năm 2024.
- Về xử lý vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu hủy 2,842gam ma túy loại Methamphetamine còn lại sau giám định của mẫu ký hiệu “A” và toàn bộ võ bao gói được hoàn trả sau giám định đựng trong 01 phong bì thư dán kín; 01 (một) chai nhựa tự chế, ở giữa có 01 lỗ tròn; trả lại cho chị Lê Thị L 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA DREAM II, mang BKS: 73N3-7096 không kiểm tra chi tiết bên trong. Vật chứng trên có đặc điểm như trong biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Ninh ngày 26 tháng 4 năm 2024. Trả lại cho bị cáo Trần Văn P số tiền 950.000 đồng tiền Ngân hàng N phát hành theo biên lai thu tiền số 0003955 ngày 26/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Ninh.
- Án phí sơ thẩm: Buộc bị cáo Trần Văn P phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Nhàn |
Bản án số 28/2024/HSST ngày 12/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 28/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án xét xử bị cáo Trần Văn P
