| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KON TUM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Bản án số: 28/2024/HS-PT Ngày: 12/12/2024. | Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH KON TUM
- Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Vũ Văn Thuấn.
Các Thẩm phán: Ông Trần Tỷ,
Bà Nguyễn Thị Như Mai.
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Tuyết - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum tham gia phiên toà: Bà Võ Thị Ngọc Lam - Kiểm sát viên.
Trong ngày 12/12/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Kon Tum, xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 92/2024/TLPT-HS ngày 08/11/2024 đối với bị cáo Phan Chánh Đ, do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 136/2024/HS-ST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Kon Tum.
- Bị cáo có kháng cáo:
Phan Chánh Đ (Tên gọi khác: Không); sinh ngày 10/02/1989 tại tỉnh Bình Định; Nơi cư trú: H N, phường N, thành phố K, tỉnh Kon Tum; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 07/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật Giáo; Con ông Phan Chánh K (Đã chết), và bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1946; Bị cáo có vợ chị Trần Thị Huyền N, sinh năm 1992 (mới đăng ký kết hôn) và có 01 người con, sinh năm 2010; Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 09/6/2006, bị Công an phường N xử phạt vi phạm hành chính vì hành vi gây thiệt hại đến tài sản của người khác. Ngày 01/8/2006, bị UBND phường N, thành phố K ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn (thời điểm này bị cáo Phan Chánh Đ chưa đủ 18 tuổi). Ngày 15/8/2007, Phan Chánh Đ bị Tòa án nhân dân thị xã Kon Tum – tỉnh Kon Tum tuyên phạt 10 tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” và 09 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, tổng hợp hình phạt chung là 19 tháng tù. Đến ngày 27/9/2008, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương sinh sống. (Đã xóa án tích).
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/6/2024 đến ngày 05/7/2024, được thay thế biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh”. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Ngoài ra còn có 03 bị cáo khác không có kháng cáo và không bị kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm, vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19h30' ngày 26/6/2024, Phan Chánh Đ đang mở bán quán cà phê tại số B T - P. N - TP . thuê trước đó của bà Vũ Thị Ngọc T thì có Trần Phước A, Nguyễn Khương V1 và Nguyễn Văn C đến quán cà phê của Đ ngồi uống nước. Thấy vậy, Đ nảy sinh ý định đánh bạc được thua bằng tiền nên đã rủ A, V1 và C chơi đánh bạc dưới hình thức đánh bài phỏm thì tất cả đồng ý. Đ lấy ra 02 (Hai) bộ bài có sẵn trong quán cà phê của mình đem ra để chơi đánh bạc.
Trước khi chơi thì tất cả cùng thống nhất với nhau cách thức chơi cụ thể như sau: Dùng bộ bài tú lơ khơ 52 lá chia cho 03 người, mỗi người 09 lá bài, người chia được 10 lá. Sau đó người chia đánh trước và lần lượt đến những người còn lại. Sau mỗi lượt đánh ra, người chơi kế tiếp có thể lấy lá bài vừa được đánh ra hoặc bốc 01 lá bài trong sấp bài còn lại để hình thành phỏm (03 lá bài liên tiếp trở lên cùng chất hoặc 03 lá bài trở lên giống nhau). Sau không quá 04 lượt bốc bài, người chơi so điểm với nhau (số điểm còn lại sau khi trừ phỏm). Ai về nhất (ít điểm nhất) sẽ thắng được 20.000 đồng từ người về nhì, thắng 40.000 đồng từ người về ba và 60.000 đồng từ người về thứ tư, ai cháy bài (không có phỏm) thì thua 80.000 đồng, ai có bài ù (3 phỏm) hoặc tứ quý (tức 04 lá bài giống nhau) thì thắng được 100.000 đồng từ những người còn lại.
Đến khoảng 00h40' ngày 27/6/2024, Cơ quan CSĐT – Công an thành phố K tiến hành kiểm tra hành chính tại số nhà B T - P. N - TP . phát hiện, bắt quả tang Phan Chánh Đ, Nguyễn Khương V1, Nguyễn Văn C và Trần Phước A đang đánh bạc trái phép. Thu giữ tại chiếu bạc số tiền 5.670.000đ (Năm triệu sáu trăm bảy mươi ngàn đồng) và số tiền 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) là tiền xâu, tổng số tiền thu giữ tại chiếu bạc là 5.970.000đ (Năm triệu chín trăm bảy mươi ngàn đồng); thu giữ trên người của Nguyễn Khương V1 số tiền 2.000.000đ (Hai triệu đồng); Phan Chánh Đ số tiền 6.810.000đ (Sáu triệu tám trăm mười ngàn đồng). Tổng số tiền thu giữ trên người là 8.810.000đ (Tám triệu tám trăm mười ngàn đồng). Cơ quan CSĐT – Công an thành phố K đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong tang vật theo quy định pháp luật.
Quá trình điều tra các bị cáo đã khai nhận số tiền dùng để đánh bạc như sau: Nguyễn Khương V1 mang theo số tiền 2.870.000đ (Hai triệu tám trăm bảy mươi ngàn đồng) sử dụng vào mục đích đánh bạc; Nguyễn Văn C mang theo số tiền 1.900.000đ (Một triệu chín trăm ngàn đồng) sử dụng vào mục đích đánh bạc; Trần Phước A mang theo số tiền 2.900.000đ (Hai triệu chín trăm ngàn đồng) sử dụng vào mục đích đánh bạc; Phan Chánh Đ mang theo số tiền 7.110.000đ (Bảy triệu một trăm mười ngàn đồng) sử dụng vào mục đích đánh bạc. Tổng số tiền các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc là 14.780.000₫ (Mười bốn triệu bảy trăm tám mươi ngàn đồng).
Bản án số 136/2024/HS-ST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Kon Tum đã xét xử sơ thẩm và quyết định như sau:
Tuyên bố: - Bị cáo Phan Chánh Đ phạm tội “Đánh bạc”.
- Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Phan Chánh Đ 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án, được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/6/2024 đến 05/7/2024.
Ngoài ra bản án còn tuyên về hình phạt đối với các bị cáo khác, án phí, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 10/10/2024, bị cáo Phan Chánh Đ kháng cáo xin hưởng án treo hoặc chuyển sang hình phạt cải tạo không giam giữ. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Phan Chánh Đ thay đổi nội dung kháng cáo, xin chuyển sang hình phạt cải tạo không giam giữ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum phát biểu ý kiến: bị cáo Phan Chánh Đ có đơn kháng cáo trong thời hạn luật định, đảm bảo về hình thức và chủ thể kháng cáo. Về nội dung: Cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Phan Chánh Đ về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 là đúng pháp luật. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, bị cáo Phan Chánh Đ nộp công văn số 596/CV-PC04 ngày 20/11/2024 của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh K xác nhận bị cáo có cung cấp thông tin tội phạm, giúp đỡ cho công an triệt phá vụ án ma túy. Đây là tình tiết giảm nhẹ tại điểm t khoản 1 Điều 51 BLHS, đề nghị áp dụng cho bị cáo được hưởng. Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ tại điểm s, t khoản 1 Điều 51 BLHS và không chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Bị cáo đang chăm sóc mẹ già và nuôi con vì vợ cũ đã bỏ đi, vợ hiện tại đang mang thai. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo, chuyển sang hình phạt cải tạo không giam giữ. Đề nghị Hội đồng xem xét, xử phạt bị cáo từ 15-18 tháng cải tạo không giam giữ. Miễn khấu trừ hình phạt đối với bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng:
[1.1] Các hành vi, các quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Tòa án sơ thẩm, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[1.2] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo Phan Chánh Đ đảm bảo về thời hạn, nội dung và hình thức theo quy định tại các Điều 331, 332 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa bị cáo thay đổi nội dung kháng cáo, xin chuyển sang hình phạt cải tạo không giam giữ. Việc thay đổi kháng cáo không vượt quá phạm vi kháng cáo ban đầu, do đó, kháng cáo của bị cáo được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về nội dung: Trên cơ sở các tài liệu có tại hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, có đủ cơ sở khẳng định:
Khoảng 19h30' ngày 26/6/2024, bị cáo Phan Chánh Đ đang bán quán nước tại số B T - P. N - TP . thuê của bà Vũ Thị Ngọc T thì có Trần Phước A, Nguyễn Khương V1 và Nguyễn Văn C đến quán uống nước. Thấy vậy, Đ nảy sinh ý định đánh bạc được thua bằng tiền nên đã rủ A, V1 và C chơi đánh bạc dưới hình thức đánh bài phỏm thì tất cả đồng ý. Khi các bị cáo đang chơi đánh bạc thì Công an thành phố K kiểm tra phát hiện và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ số tiền dùng để đánh bạc của các bị cáo là 14.780.000đ.
Cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Phan Chánh Đ phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét kháng cáo xin chuyển sang hình phạt cải tạo không giam giữ của bị cáo:
Cấp sơ thẩm đã áp dụng cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo là đúng và đầy đủ. Trong thời gian chuẩn bị xét xử phúc thẩm, ngày 25/11/2024 bị cáo Phan Chánh Đ nộp cho Tòa án cấp phúc thẩm: Công văn số 596/CV-PC04 ngày 20/11/2024 của Phòng CSĐTTP về ma túy Công an tỉnh K xác nhận bị cáo có cung cấp thông tin tội phạm, giúp đỡ cho công an triệt phá vụ án ma túy; Quyết định khởi tố bị can số 89/QĐ-CSMT ngày 29/10/2024 của CQCSĐT Công an tỉnh K, Quyết định phê chuẩn quyết định khởi tố bị can số 62/QĐ-VKSKT-P1 ngày 30/10/2024 của VKSND tỉnh Kon Tum đối với Trần Quốc T1. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần áp dụng cho bị cáo Đ được hưởng.
Bị cáo Phan Chánh Đ được hưởng 2 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm t, s khoản 1 Điều 51 BLHS và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Bị cáo Phan Chánh Đ có nơi cư trú rõ ràng, lần phạm tội này thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội cũng đủ sức giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội, để bị cáo thấy được sự khoan hồng mà biết chấp hành các quy định của pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo xin chuyển sang hình phạt cải tạo không giam giữ của bị cáo Phan Chánh Đ, sửa bản án sơ thẩm. Bị cáo Phan Chánh Đ không có việc làm ổn định mà ai thuê gì thì làm nên không có thu nhập ổn định, do đó Hội đồng xét xử miễn khấu trừ thu nhập của bị cáo.
[4] Về án phí hình sự phúc thẩm:
Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo Phan Chánh Đ không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015;
Chấp nhận kháng cáo xin chuyển sang hình phạt cải tạo không giam giữ của bị cáo Phan Chánh Đ.
Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 136/2024/HS-ST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Kon Tum về phần hình phạt.
1. Về tội danh và hình phạt:
Tuyên bố bị cáo Phan Chánh Đ phạm tội “Đánh bạc”.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm t, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Phan Chánh Đ 18 (mười tám) tháng cải tạo không giam giữ. (Được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/6/2024 đến ngày 05/7/2024, cứ 01 ngày tạm giữ, tạm giam bằng 03 ngày cải tạo không giam giữ). Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nhận được quyết định thi hành án.
Giao bị cáo Phan Chánh Đ cho Ủy ban nhân dân phường N, thành phố K, tỉnh Kon Tum giám sát và giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo Phan Chánh Đ thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Phan Chánh Đ.
2. Về án phí: Căn cứ Điều 135 và Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 2 Điều 21, điểm h khỏan 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Phan Chánh Đ không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (12/12/2024).
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Văn Thuấn |
Bản án số 28/2024/HS-PT ngày 12/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KON TUM về hình sự phúc thẩm (tội đánh bạc)
- Số bản án: 28/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Tội Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 12/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KON TUM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xét xử phúc thẩm
