Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CÁT HẢI

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 28/2024/HS-ST

Ngày 30-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁT HẢI, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Hưng

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Chấn Hưng

Ông Đỗ Văn Tân.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tất Thành

- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng

tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Lam - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 26/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 7 năm 2024, đối với các bị cáo:

1. Vũ Xuân H, sinh ngày 21 tháng 3 năm 1998 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn N, xã P, huyện C, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn H1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị Á; có vợ là Phạm Trâm A và 01 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 111/QĐ-XPHC ngày 06/10/2022 của Công an huyện C về hành vi Gây rối trật tự công cộng (đã được xóa); bị tạm giữ ngày 08/02/2024 đến ngày 17/02/2024 chuyển tạm giam; có mặt.

2. Bùi Văn H2, sinh ngày 04 tháng 02 năm 1999 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn N, xã P, huyện C, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn H3 (đã chết) và bà Vũ Thị Đ; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giam từ ngày 16/02/2024; có mặt.

3. Phạm Hoàng M, sinh ngày 14 tháng 3 năm 1998 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Tổ dân phố F, thị trấn C, huyện C, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Huy T (đã chết) và bà Nguyễn Tuyết M1; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ ngày 08/02/2024 đến ngày 17/02/2024 chuyển tạm giam; có mặt.

- Người làm chứng:

  • + Anh Nguyễn Thế B, Đặng Quang V, Nguyễn Hồng H4; có mặt.
  • + Anh Nguyễn Đình T1, Nguyễn Đình T2, Lương Công N; vắng mặt (anh N có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 01 giờ 00 phút ngày 08/02/2024, Công an xã P nhận được thông tin từ quần chúng nhân dân tại quán K3 tại thôn N, xã P, huyện C, Hải Phòng xảy ra vụ việc xô xát, sau khi tổ công tác tiến hành kiểm tra xác minh tại quán K3 phát hiện tại phòng hát thứ hai từ cửa vào có 02 tóp thuốc (dạng điếu thuốc lá) nghi là ma túy Cần sa, thời điểm kiểm tra trong phòng có 04 người gồm Nguyễn Hồng H4, sinh năm 1997 và Nguyễn Đình T1, sinh năm 1997, đều trú tại thôn N, xã P, huyện C, Hải Phòng; Nguyễn Đức T3, sinh năm 1997, trú tại thôn B, xã P, huyện C, Hải Phòng và Lương Công N, sinh năm 1995, trú tại thôn P, xã Đ, huyện K, Hải Phòng. Các đối tượng H4, T1, N khai đã nhận 02 mẫu tóp thuốc trên là ma túy Cần sa do Bùi Văn H2 cung cấp cho để sử dụng. Công an xã P đã lập biên bản vụ việc, thu giữ niêm phong vật chứng để giám định.

Cùng ngày, Vũ Xuân H đến Công an xã P đầu thú và khai nhận: Khoảng 23 giờ ngày 06/02/2024, Vũ Xuân H đến khu vực trước cửa quán bar B1 thuộc tổ dân phố A, thị trấn C, huyện C, Hải Phòng mua của Phạm Hoàng M là quản lý của quán 01 gói nilon ma túy Cần sa dạng thảo mộc với giá 1.000.000 đồng. H mang ma túy về nhà tự cắt vụn, cuốn thành 03 điếu mục đích để đến hôm liên hoan tất niên sẽ đem ra sử dụng. Tối ngày 07/02/2024, Vũ Xuân H cùng Bùi Văn H2, Đỗ Văn T4, Nguyễn Thế B, Đặng Quang V, Nguyễn Đức H5, Nguyễn Đình T5, Bùi Đình H6, tổ chức ăn uống tất niên tại quán C tại thôn A, xã P. Trong lúc ăn uống Vũ Xuân H lấy từ trong người ra 03 điếu ma túy Cần sa cất 02 điếu vào bao thuốc lá của Bùi Văn H2, còn 01 điếu thì H2 tự châm lửa sử dụng trước và mời Bùi Văn H2 sử dụng, sau khi Văn H2 sử dụng xong đưa lại cho Xuân H, Xuân H mời Nguyễn Thế B, nhưng B không sử dụng, nên Xuân H mời Đặng Quang V sử dụng, V sử dụng xong còn một nửa điếu thì dập tắt và cất lại vào bao thuốc lá của Bùi Văn H2. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày Vũ Xuân H cùng cả nhóm đến quán K3thôn N, xã P, Bùi Văn H2 cầm theo số ma túy cần sa cất trong bao thuốc lá mục đích đem đến quán hát để cho mọi người cùng sử dụng. Do hết phòng hát, nên cả nhóm ngồi đợi bên ngoài sảnh uống bia, Bùi Văn H2 lấy ra 02 điếu ma túy Cần sa châm lửa hút và mời mọi người sử dụng, có người đưa ma túy Cần sa cho Xuân H hút, nhưng do H say rượu nên không nhớ là ai và không biết Bùi Văn H2 mời những ai sử dụng ma túy. Ngoài ra, Vũ Xuân H còn khai nhận vào ngày 31/01/2024, H có vào khu vực nội thành Hải Phòng mua 600.000 ma túy MDMA và Ketamine mang về nhà một mình sử dụng hết.

Bị cáo Bùi Văn H2 khai nhận: Khoảng 20 giờ ngày 07/02/2024, Bùi Văn H2 cùng Vũ Xuân H, Đỗ Văn T4, Nguyễn Thế B, Đặng Quang V, Nguyễn Đức H5, Nguyễn Đình T5, Bùi Đình H6 tổ chức ăn tất niên tại quán C thuộc thôn A, xã P. Trong lúc ăn uống, Vũ Xuân H lấy từ trong người ra 03 điếu ma túy Cần sa bỏ 02 điếu vào bao thuốc lá của H rồi tự châm lửa 01 điếu sử dụng trước sau đó đưa cho H, H sử dụng xong đưa lại cho Xuân H, Xuân H đưa cho V sử dụng, còn một nửa điếu, V dập đi và cất lại vào bao thuốc lá của Văn H2. Khoảng 21 giờ cùng ngày, Bùi Văn H2 cầm theo bao thuốc lá bên trong có 03 điếu ma túy Cần sa cùng cả nhóm đến quán K3 thuộc thôn N, xã P để hát. Do hết phòng nên cả nhóm ngồi tại sảnh ngoài để uống bia, Bùi Văn H2 lấy từ trong bao thuốc lá ra 02 điếu ma túy Cần sa tự châm lửa hút và đưa cho Vũ Xuân H, Nguyễn Thế B sử dụng. Sau đó, Bùi Văn H2 nhìn thấy trong phòng hát có người quen nên đã cầm nửa điếu ma túy Cần sa còn lại trong bao thuốc vào trong phòng hát để giao lưu. Tại phòng hát H2 châm lửa sử dụng trước và mời Nguyễn Đình T2 sử dụng, T2 sử dụng xong đưa lại cho H2, H2 mời Nguyễn Hồng H4 sử dụng, H4 sử dụng xong đưa lại cho H2, H2 mời Nguyễn Đình T1 sử dụng, sau đó T1 đưa cho ai thì H2 không biết. Một lát sau Bùi Văn H2 quay trở lại bàn chờ uống bia thì có một người đưa cho H2 01 điếu ma túy Cần sa (không nhớ là ai), H2 có hút hai hơi thì hết và vứt tóp thuốc đi. Số ma túy Cần sa cầm theo đến quán K3 là của Vũ Xuân H cất vào bao thuốc lá của Văn H2, nên H2 tự cầm theo đến quán K3 để mọi người cùng sử dụng cho vui.

Khám xét khẩn cấp nơi làm việc của Phạm Hoàng M tại quán bar B1 thuộc tổ dân phố A, thị trấn C, huyện C, Hải Phòng, Cơ quan điều tra thu giữ: 01 hộp kim loại màu đỏ, bên trong chứa vụn thảo mộc và 28 điếu (dạng điếu thuốc lá) màu trắng bên trong chứa vụn thảo mộc; 01 túi nilon màu trắng kích thuốc (12x8) cm bên trong chứa hoa thảo mộc khô; 01 túi nilon màu trắng kích thước (10x6) cm bên trong chứa 06 và một nửa viên nén màu hồng; 01 túi nilon màu trắng kích thước (6x4) cm bên trong chứa 03 tinh thể màu trắng; 01 túi nilon màu đen bên trong có chứa 10 hộp nhãn hiệu “rollies” và 02 tập giấy màu hồng cùng 17 điếu (dạng điếu thuốc lá) màu trắng bên trong chỉ có phần tóp hút ở một đầu; 01 cối xay nhựa hình tròn bên trong chứa các vụn thảo mộc; 01 cân điện tử.

Quá trình điều tra, M khai nhận: Tối ngày 17/01/2024 khi M đang ở quán bar B1 có một người đàn ông tên Q tự giới thiệu là hướng dẫn viên du lịch (không rõ lai lịch, địa chỉ) hỏi M có lấy ma túy để bán không, M đồng ý mua 7.500.000 đồng được 01 túi nilon bên trong chứa ma túy Cần sa dạng thảo mộc, 01 túi nilon bên trong chứa các viên nén màu hồng, 01 túi nilon bên trong chứa các tinh thể màu trắng. M cất số ma túy trên tại quán, đến ngày 05/02/2024 M lấy một ít ma túy Cần sa ra để sử dụng thử. Khoảng 14 giờ ngày 05/02/2024, Vũ Xuân H nhắn tin qua mesenger cho M hỏi mua nửa hoa cỏ Cần sa, M đồng ý. Đến khoảng 23 giờ ngày 06/02/2024, H đến trước của quán bar B1, M đưa cho H 01 túi nilon bên trong chứa ma túy Cần sa dạng thảo mộc khô và nhận 1.000.000 đồng, số tiền trên M đã ăn tiêu hết, số ma túy còn lại M cất giấu tại quán thì bị Công an huyện C khám xét và thu giữ như đã nêu trên.

Tại Cơ quan điều tra Đặng Quang V, Nguyễn Đình T1, Nguyễn Hồng H4, Nguyễn Thế B, Lương Công N khai nhận tại quán ăn Cquán K3, V, T1, H4, N, B được Vũ Xuân HBùi Văn H2 cung cấp ma túy cần sa cho để sử dụng. Ngoài ra Nguyễn Thế B có khai nhận, khi cùng cả nhóm đến quán K3 do hết phòng hát, nên mọi người ngồi ngoài sảnh uống bia và hát, Bùi Văn H2 có đưa cho B điếu thuốc hút dở, do say rượu, nên B có cầm và hút, sau đó Nguyễn Đình T1 là anh em họ hàng với B ở trong phòng hát đi ra chỗ Ban nên B đưa cho T1, còn T1 có hút hay không thì B không biết. Khi bị Công an triệu tập Ban mới biết đó là ma túy cần sa. Nguyễn Đình T1 khai nhận tại phòng hát karaoke, Bùi Văn H2 đưa cho Nguyễn Đình T1 01 điếu cỏ đang cháy dở, T1 sử dụng hút 02 hơi, phần còn lại T1 đưa cho Lương Công N, N sử dụng một hơi hết và vất tóp tại chỗ.

Kết luận giám định số 164/KL-KTHS ngày 15/02/2024 của Phòng K4 Công an thành phố H kết luận: Thực vật khô, vụn của mẫu KX01 gửi giám định có khối lượng: 19,61 gam, loại Cần sa (hoa, lá cây Cần sa); Thực vật khô, vụn của mẫu KX02 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,61 gam, loại: Cần sa (hoa, lá cây Cần sa); Thực vật khô, vụn của mẫu KX03 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 20,59 gam, loại: Cần sa (hoa, lá cây Cần sa); 06 viên nén và mảnh viên nén của mẫu KX04 gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 2,90 gam, loại: Methamphetamine và MDMA; Tinh thể màu trắng của mẫu KX05 gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 3,61 gam, loại Ketamine; Mẫu nước tiểu ghi tên Phạm Hoàng M của mẫu KX06 gửi giám định tìm thấy chất 11-nor-delta9-tetrahydrocannabinol-9-carboxylic là sản phẩm chuyển hóa tìm thấy khi con người sử dụng chất ma túy Cần sa.

Kết luận giám định số 165/KL-KTHS ngày 15/02/2024 của Phòng K4 Công an thành phố H kết luận: Thực vật khô, vụn của mẫu QT1 có khối lượng 0,06 gam, loại: Cần sa (hoa, lá cây Cần sa); Các mẫu nước tiểu ghi tên Nguyễn Thế B, Bùi Văn H2, Đặng Quang V, Nguyễn Đình T2, Nguyễn Đình T1, Lương Công N, Nguyễn Hồng H4 đều tìm thấy chất 11-nor-delta9-tetrahydrocannabinol-9-carboxylic, là sản phẩm chuyển hóa được tìm thấy khi con người sử dụng chất ma túy Cần sa; Mẫu nước tiểu ghi tên Vũ Xuân H tìm thấy chất MDMA, Ketamine và chất 11-nor-delta9-tetrahydrocannabinol-9-carboxylic; Các mẫu nước tiểu của Vũ Văn T6, Nguyễn Đức T3 không tìm thấy thành phần chất ma túy và tiền chất.

Bản Cáo trạng số 28/CT-VKS ngày 21/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Vũ Xuân HBùi Văn H2 về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Phạm Hoàng M về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, lời khai của Vũ Xuân H phù hợp với lời khai của Bùi Văn H2, phù hợp với lời khai của Phạm Hoàng M, phù hợp với lời khai của các nhân chứng. Các bị cáo đều nhận thức được hành vi của bị cáo đã vi phạm pháp luật; việc điều tra, truy tố, xét xử đối với các bị cáo là đúng pháp luật; các bị cáo không khiếu nại đối với các quyết định, hành vi tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án.

Lời khai của Người làm chứng có mặt tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và lời khai của bị cáo Vũ Xuân H, Bùi Văn H2. Người làm chứng Nguyễn Thế B khai trong khi chờ có phòng hát, tại sảnh quán K3, Bùi Văn H2 có đưa cho 01 điều thuốc mời hút, sau khi hút xong, anh B có đưa cho Nguyễn Đình T1, T1 có hút không thì anh không biết; lúc đó anh B chỉ nghĩ đó là thuốc lá, chỉ sau khi cơ quan Công an triệu tập mới biết đó là ma túy Cần sa.

Tại phiên tòa bà Phạm Thị Hồng K; địa chỉ: Tổ dân phố F, thị trấn C, huyện C giao nộp Biên lai thu tiền số 0005686 ngày 39/7/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cát Hải số tiền 1.000.000 (Một triệu) đồng. Bà K khai là cô ruột của bị cáo M và số tiền trên bị cáo M đã tác động người thân nộp khắc phục hậu quả của vụ án; bà K không yêu cầu bị cáo M phải trả lại số tiền trên.

Tại phiên tòa, bà Nguyễn Thị Á; địa chỉ: Thôn N, xã P, huyện C (là mẹ đẻ của bị cáo Vũ Xuân H) giao nộp Giấy chứng nhận được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhì mang tên bà Đỗ Thị L; địa chỉ: Thôn P, xã V, huyện C. Bà Á khai bà L là bà nội của bị cáo Vũ Xuân H.

Kết thúc phần xét hỏi, Kiểm sát viên trình bày quan điểm luận tội: Giữ nguyên nội dung truy tố các bị cáo Vũ Xuân H, Bùi Văn H2 về tội “Tổ chức trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Phạm Hoàng M về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự; tại phiên tòa đề nghị bổ sung tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo M do bị cáo đã tác động gia đình nộp tiền khắc phục hậu quả của hành vi phạm tội; đồng thời phân tích hành vi, vai trò, nhân thân, hoàn cảnh phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của từng bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 17; Điều 38; Điều 58; điểm s khoản 1, khoản 2 (đối với bị cáo Xuân H) Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vũ Xuân H từ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù đến 08 (tám) năm tù; xử phạt bị cáo Bùi Văn H2 từ 07 (bảy) năm từ đến 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù.

Áp dụng khoản 1 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Hoàng M từ 24 (hai mươi bốn) tháng tù đến 30 (ba mươi) tháng tù;

Đề nghị không phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo do các bị cáo không có tài sản riêng, không có thu nhập ổn định, hoàn cảnh gia đình khó khăn. Về vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) hộp giấy niêm phong hoàn trả sau giám định số 164MT/PC09 và 01 (một) phong bì được niêm phong hoàn trả sau giám định số 165MT/PC09; 01 (một) túi nilon đen bên trong chứa 10 hộp nhãn hiệu “rollies” và 02 tập giấy màu hồng, 17 điếu cuốn dạng điếu thuốc lá màu trắng bên trong có phần tóp hút ở một đầu; 01 (một) cân điện tử; Tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động Iphone 11 màu đen số IMEI1: 356581104960421, số IMEI2: 356581104897169 đã qua sử dụng thu giữ của Vũ Xuân H; truy thu nộp vào ngân sách nhà nước số tiền 1.000.000 đồng bị cáo M thu lợi bất chính. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.

Sau khi nghe luận tội, các bị cáo không có ý kiến tranh luận, bào chữa. Tại lời nói sau cùng các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cát Hải và những người tiến hành tố tụng của các cơ quan trên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về sự vắng mặt của 3 người làm chứng: Tòa án đã Tòa án triệu tập hợp lệ 06 người làm chứng, tại phiên tòa có 03 người làm chứng vắng mặt. Xét trong giai đoạn điều tra, truy tố các người làm chứng vắng mặt đã có lời khai rõ ràng, không có mâu thuẫn nên căn cứ Điều 293 Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về tội danh: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, phù hợp với biên bản sự việc, phù hợp với lời khai của người làm chứng, kết luận giám định, vật chứng thu được và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện:

Khoảng 20 giờ ngày 08/02/2024, tại quán ăn C thuộc thôn A, xã P, huyện C, Hải Phòng, Vũ Xuân H có hành vi cung cấp chất ma túy cần sa để tổ chức cho Bùi Văn H2, Đặng Quang V sử dụng trái phép chất ma túy.

Khoảng 21 giờ ngày 08/02/2024, tại quán K3 thuộc thôn N, xã P, huyện C, Hải Phòng, Vũ Xuân H có hành vi cung cấp chất ma túy Cần sa để Bùi Văn H2 tổ chức cho Đặng Quang V, Nguyễn Đình T2, Nguyễn Hồng H4, Nguyễn Đình T1, Lương Công N, Nguyễn Thế B sử dụng trái phép chất ma túy.

Khoảng 23 giờ ngày 06/02/2024, tại khu vực trước cửa quán bar B1 thuộc tổ dân phố A, thị trấn C, huyện C, Hải Phòng, Phạm Hoàng M đã bán trái phép cho Vũ Xuân H 01 túi ma túy loại cần sa với giá 1.000.000 đồng và cất giấu trái phép 2,90 gam ma túy, loại: Methamphetamine và MDMA; 40,36 gam ma túy, loại Cần sa; 3,61 gam ma túy, loại Ketamine mục đích để bán cho người khác nhằm thu lợi bất chính.

Hành vi đưa chất ma túy cho nhiều người sử dụng trái phép của bị cáo Vũ Xuân H, Bùi Văn H2 đã cấu thành tội Tổ chức trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.

Hành vi mua bán trái phép chất ma túy nhằm thu lời bất chính của bị cáo Phạm Hoàng M đã cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự. Do đó, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng trên là có cơ sở và đúng với quy định của pháp luật.

[3] Tính chất vụ án là rất nghiêm trọng. Các bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện với lỗi cố ý. Hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của bị báo X, Văn H2 và mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo M là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của nhà nước về các chất ma túy, gây mất trật tự trị an xã hội nên cần phải xử lý nghiêm khắc, cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian dài mới đủ tác dụng để giáo dục cải tạo các bị cáo.

[4] Về vai trò của các bị cáo: Bị cáo M thực hiện hành vi phạm tội độc lập. Các bị cáo Vũ Xuân H, Bùi Văn H2 thực hiện hành vi là đồng phạm trong đó bị cáo Xuân H là người bỏ tiền mua ma túy với mục đích cung cấp cho người khác sử dụng; bị cáo Bùi Văn H2 vừa là người sử dụng đồng thời tiếp nhận ý trí của bị cáo Xuân H, đưa ma túy cho những người khác sử dụng trái phép. Nên hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy vai trò của bị cáo Vũ Xuân H cao hơn và phải chịu mức án cao hơn bị cáo Bùi Văn H2.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tuy nhiên về nhân thân bị cáo Vũ Xuân H: Năm 2022, bị Công an huyện C xử phạt hành chính về hành vi Gây rối trật tự công cộng mặc dù đã được xóa và ngày 26/4/2024 bị Công an huyện C xử phạt về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy (hành vi này chưa được tính là tiền sự) qua đó thể hiện ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo kém.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đều thành khẩn khai báo nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo Xuân H sau khi phạm tội đã đầu thú, có bà nội được tặng thưởng Huy chương kháng chiến, bị cáo Phạm Hoàng M đã tác động người thân nộp lại số tiền thu lợi bất chính trước khi xét xử nên bị cáo Xuân H, bị cáo M được hưởng tình tiếp giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

[7] Về quyết định mức hình phạt: Xét các bị cáo đều có hoàn cảnh gia đình khó khăn, các bị cáo bố đều đã mất, thiếu sự dạy dỗ, giám sát của gia đình; bị cáo M mẹ bỏ đi khi bị cáo mới 05 tháng tuổi, năm bị cáo 04 tuổi, bố mất từ đó sống cùng ông bà nội, trước khi bị bắt bị cáo trực tiếp chăm nuôi bà nội già yếu. Với các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, điều kiện, hoàn cảnh của các bị cáo nên cần xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, ở mức khởi điểm theo đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa cũng đủ sức răn đe giáo dục các bị cáo, thể hiện được chính sách khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội.

[8] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự các bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy các bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định và không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[9] Về xử lý vật chứng:

  • - Đối với chất ma tuý còn lại sau giám định, các công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy, gồm: 01 (một) hộp giấy niêm phong hoàn trả sau giám định số 164MT/PC09 và 01 (một) phong bì được niêm phong hoàn trả sau giám định số 165MT/PC09; 01 (một) túi nilon đen bên trong chứa 10 hộp nhãn hiệu “rollies” và 02 tập giấy màu hồng, 17 điếu cuốn dạng điếu thuốc lá màu trắng bên trong có phần tóp hút ở một đầu; 01 (một) cân điện tử.
  • - Đối với vật chứng là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội còn giá trị cần tịch thu, nộp vào ngân sách nhà nước, gồm: 01 (một) điện thoại di động Iphone 11 màu đen số IMEI1: 356581104960421, số IMEI2: 356581104897169 đã qua sử dụng thu giữ của Vũ Xuân H.
  • - Vật chứng là tiền thu lợi bất chính cần truy thu nộp vào ngân sách nhà nước: Truy thu số tiền 1.000.000 đồng, bị cáo M thu lợi bất chính, bị cáo M đã nộp đủ theo Biên lai thu tiền số 0005686 ngày 29/7/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Cát Hải.

[10] Về các vấn đề khác:

  • - Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Phạm Hoàng M, Nguyễn Thế B, Nguyễn Đình T1, Đặng Quang V, Nguyễn Đình T2, Nguyễn Hồng H4, Lương Công N, Công an huyện C đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
  • - Đối với Nguyễn Thế B có hành vi nhận điếu ma túy cần sa hút dở từ Bùi Văn H2 để đưa cho Nguyễn Đình T1 sử dụng và Nguyễn Đình T1 nhận điếu cần sa từ Bùi Văn H2 đưa cho Lương Công N sử dụng. Tuy nhiên B, T1 không chuẩn bị ma túy cần sa, không bàn bạc, thống nhất với H2 về việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, khi đưa điếu thuốc dở cho T1, B cũng không biết đó là ma túy, hành vi của BT1 đưa điếu thuốc đang hút cho người khác để sử dụng chỉ là phản xạ theo thói quen khi hút thuốc. Nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C không xử lý về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
  • - Đối với Nguyễn Thị Vĩnh chủ quán ăn C, T K1 là chủ quán karaoke Trung K2 không biết việc Vũ Xuân HBùi Văn H2 tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại quán và người đàn ông tên Q bán ma túy cho M do không xác định được lai lịch, địa chỉ, nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để xử lý.

[11] Về án phí hình sự: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[12] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 17; Điều 38; Điều 58; điểm s khoản 1, khoản 2 (áp dụng đối với bị cáo Vũ Xuân H) Điều 51 của Bộ luật Hình sự,

Tuyên bố các bị cáo Vũ Xuân H, Bùi Văn H2 phạm tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy",

Xử phạt bị cáo Vũ Xuân H 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, ngày 08 tháng 02 năm 2024.

Xử phạt bị cáo Bùi Văn H2 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam, ngày 16 tháng 02 năm 2024.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự,

Tuyên bố bị cáo Phạm Hoàng M phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".

Xử phạt bị cáo Phạm Hoàng M 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, ngày 08 tháng 02 năm 2024.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) hộp giấy niêm phong số 164MT/PC09 và 01 (một) phong bì được niêm phong số 165MT/PC09; 01 (một) túi nilon đen bên trong chứa 10 hộp nhãn hiệu “rollies” và 02 tập giấy màu hồng, 17 điếu cuốn dạng điếu thuốc lá màu trắng bên trong có phần tóp hút ở một đầu; 01 (một) cân điện tử.
  • - Tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động Iphone 11 màu đen đã qua sử dụng.

(Đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 21/6/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cát Hải).

- Buộc bị cáo Phạm Hoàng M phải nộp lại số tiền 1.000.000 (Một triệu) đồng để nộp vào ngân sách Nhà nước, bị cáo đã nộp đủ theo Biên lai thu tiền số 0005686 ngày 29/7/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cát Hải.

Về án phí hình sự: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án: Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - TAND TP Hải Phòng;
  • - VKSND TP Hải Phòng;
  • - Trại tạm giam Công an TP Hải Phòng;
  • - Sở Tư pháp TP Hải Phòng;
  • - Công an TP Hải Phòng (PV 06, PC10);
  • - VKSND huyện Cát Hải;
  • - Công an huyện Cát Hải;
  • - Cơ quan THAHS Công an huyện Cát Hải;
  • - Chi cục THADS huyện Cát Hải;
  • - UBND xã Phù Long, huyện Cát Hải;
  • - UBND thị trấn Cát Bà, huyện Cát Hải;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Văn Hưng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 28/2024/HS-ST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁT HẢI, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tổ chức sử dụng và mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 28/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng và Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁT HẢI, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vũ Xuân H tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý cho các bạn của H chơi ở quán Karaoke
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger