|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NA RÌ TỈNH BẮC KẠN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 28/2024/HS-ST Ngày 29-8-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NA RÌ - TỈNH BẮC KẠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Thanh Bình
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Mạnh Hạnh và bà Trần Thị Lan
- Thư ký phiên tòa: Ông Ma Văn chung, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Ông Nông Văn Thượng - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 25/2024/TLST-HS, ngày 18 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Lộc Văn G, sinh ngày 19/02/1990 tại: xã C, huyện N, tỉnh Bắc Kạn; nơi ĐKHKTT: thôn N, xã Đ, huyện N, tỉnh Bắc Kạn; chỗ ở hiện nay: thôn N, xã S, huyện V, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 8/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lộc Văn C và bà Hoàng Thị X; có vợ là Hà Thị Thanh L (đã ly hôn) và 01 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/5/2024 đến nay (có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Đỗ Thị X1 - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B (có mặt).
- Bị hại:
+ Anh Dương Quang H, sinh năm 1985; trú tại: Thôn N, xã T, huyện N, tỉnh Bắc Kạn (có mặt).
+ Chị Hà Thị H1, sinh năm 1984; trú tại: Thôn N, xã T, huyện N, tỉnh Bắc Kạn (vắng mặt).
Người đại diện theo uỷ quyền cho bị hại Hà Thị H1: Anh Dương Quang H, sinh năm 1985;
Trú tại: Thôn N, xã T, huyện N, tỉnh Bắc Kạn (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Hoàng Thị C1, sinh năm 1986; trú tại: Thôn N, xã S, huyện V, tỉnh Thái Nguyên (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đồng thời là người làm chứng:
+ Anh Nông Văn X2, sinh năm 1978; trú tại: Thôn C, xã Đ, huyện N, tỉnh Bắc Kạn (vắng mặt).
+ Anh Hoàng Văn L1, sinh năm 1982; trú tại: Thôn N, xã Đ, huyện N, tỉnh Bắc Kạn (vắng mặt).
- Người làm chứng:
+ Anh Hà Trọng S, sinh năm 1993 (có mặt);
+ Chị Hà Thị Thanh L, sinh năm 1997; (có mặt).
Đều trú tại: Thôn N, xã Đ, huyện N, tỉnh Bắc Kạn.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lộc Văn G làm công việc nhận sơn nhà cho những người có nhu cầu tại địa phương, từ năm 2016 G thường mua sơn, phụ kiện sơn tại cửa hàng vật liệu xây dựng của anh Dương Quang H để thi công sơn nhà. Các lần mua sơn hai người thỏa thuận bằng miệng G lấy sơn, phụ kiện sơn thi công trước, khi nào sơn xong được chủ nhà thanh toán tiền cho G thì G trả tiền sơn cho anh H, anh H có ghi chép trong sổ theo dõi bán hàng các lần lấy sơn, thanh toán tiền với G, hai bên đã thực hiện nhiều lần theo đúng thỏa thuận. Giữa năm 2018, G nhận sơn nhà cho anh Nông Văn X2 và anh Hoàng Văn L1, hai bên thống nhất sơn nhà theo hình thức trọn gói, G tự liên hệ mua sơn, vật liệu liên quan và tự thi công, khi nào sơn xong chủ nhà trả tiền cho G theo mét vuông đã thi công thống nhất trước đó. Sau đó G thuê anh Hà Trọng S trả tiền theo ngày công cùng sơn nhà cho anh X2 và L1, việc liên hệ thỏa thuận mua sơn, thanh toán tiền do G một mình thực hiện với anh H.
Ngày 09/7/2018 G mua sơn nhãn hiệu VIKO và phụ kiện sơn của anh H để sơn nhà cho anh Nông Văn X2 gồm: 03 thùng sơn lót kiềm nội loại 18 lít, 03 lon sơn lót kiềm ngoại loại 5 lít, 03 thùng sơn màu nội màu 310 loại 18 lít, 03 lon sơn màu bóng ngoại màu 318 loại 05 lít, 01 thùng sơn chống thấm trộn ximăng loại 18 lít, 02 lon sơn phào màu 302 loại 01 lít, 01 lon sơn trắng trần loại 5 lít, tổng số tiền là 19.660.000 đồng, hai người thỏa thuận H chiết khấu 25% tiền sơn (trừ 4.915.000 đồng), tiền sơn phải trả là 14.745.000 đồng; phụ kiện sơn (không triết khấu) 03 cây lu dài và 03 chổi là 84.000 đồng (làm tròn 85.000 đồng). G phải trả cho anh H là 14.830.000 đồng, hai người thỏa thuận bằng miệng sau khi sơn xong anh X2 trả tiền G sẽ thanh toán số tiền nợ này cho anh H, sau đó anh H giúp chở vật liệu đến nhà anh X2 thi công. Khoảng một tháng sau khi sơn nhà xong, anh X2 đã trả đầy đủ 25.000.000 đồng bằng tiền mặt cho G, trong đó lần thứ nhất trả 9.000.000 đồng, lần thứ hai trả 16.000.000 đồng.
Khoảng hai tuần sau khi sơn nhà anh X2, G mua sơn nhãn hiệu VIKO và phụ kiện sơn của anh H để sơn nhà cho anh Hoàng Văn L1, gồm: 01 thùng sơn lót kiềm nội loại 18 lít, 01 thùng sơn bóng nội màu 307 loại 18 lít, tổng số tiền là 4.180.000 đồng, hai người thỏa thuận H chiết khấu 25% tiền sơn (trừ 1.045.000 đồng), số tiền sơn phải trả là 3.135.000 đồng; phụ kiện sơn (không chiết khấu) 01 cây lu dài 20.000 đồng. G phải trả cho anh H là 3.155.000 đồng, hai người thỏa thuận bằng miệng sau khi sơn xong nhà anh L1 trả tiền G sẽ thanh toán số tiền nợ này cho anh H, sau đó G chở vật liệu đến nhà anh L1 thi công. Khoảng 5 tháng sau khi sơn nhà xong anh L1 đã trả đầy đủ tổng số hơn 4.000.000 đồng bằng tiền mặt cho G, chia thành nhiều lần trả khác nhau.
Khi được anh X2, anh L1 trả đầy đủ tiền sơn nhà, G sử dụng hết số tiền này vào nhu cầu cá nhân mà không trả cho anh H như đã thỏa thuận, anh H nhiều lần gọi điện thoại, gặp hỏi yêu cầu trả tiền nhưng do đã sử dụng hết G không có tiền trả cho anh H. Ngày 20/6/2019 tại nhà chị Hà Thị Thanh L, sinh năm 1997, tại thôn N, xã Đ, huyện N (vợ G, ly hôn tháng 11/2019) G viết giấy xác nhận nợ anh H tổng số tiền 17.985.000 đồng mua sơn VIKO năm 2018, hẹn ngày 20/7/2019 sẽ trả hết cho anh H. Quá hạn vẫn không trả được tiền, anh H đến Công an xã Đ, huyện N đề nghị giải quyết, ngày 04/10/2019 G viết giấy cam kết xác nhận nợ anh H 17.985.000 đồng, hẹn đến ngày 08/10/2019 trả 10.000.000 đồng và đến ngày 04/11/2019 sẽ trả hết số tiền còn lại. Quá hạn G vẫn không trả tiền như đã cam kết rồi bỏ trốn khỏi địa phương, thay đổi số điện thoại, cắt liên lạc với anh H.
Anh H liên lạc nhiều lần với G đòi tiền nhưng không được, ngày 06/7/2020 anh H gửi đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân huyện Na Rì, yêu cầu Tòa án giải quyết buộc Lộc Văn G trả 17.985.000 đồng còn nợ. Quá trình giải quyết vụ án dân sự thấy có dấu hiệu của tội phạm, ngày 05/02/2021 Tòa án nhân dân huyện Na Rì có văn bản chuyển đơn khởi kiện và tài liệu liên quan đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N giải quyết theo thẩm quyền.
Cơ quan điều tra đã thu thập được 02 tờ giấy của anh H trong sổ ghi chép theo dõi các lần G mua sơn, phụ kiện sơn, số tiền còn nợ khi sơn cho nhà anh X2, anh L1; Giấy xác nhận nợ ghi ngày viết 20/6/2019 và giấy cam kết ghi ngày viết 04/10/2019 của Lộc Văn G, thể hiện tổng số tiền G còn nợ anh H là 17.985.000 đồng, thời hạn trả nợ cuối cùng đến ngày 04/11/2019.
Ngày 20/9/2022 Cơ quan điều tra yêu cầu định giá tài sản đối với các thùng sơn, lon sơn, phụ kiện sơn G mua của anh H sơn nhà cho anh X2, anh L1. Tại kết luận định giá tài sản số 17/KL-HĐĐGTS ngày 29/9/2022 và tại biên bản làm việc ngày 01/7/2024 về việc bổ sung nội dung Kết luận định giá, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện N kết luận: Các thùng sơn, lon sơn, phụ kiện sơn thời điểm tháng 7/2018 trị giá 23.944.000 đồng. Sau khi trừ chiết khấu giá trị sơn, phụ kiện sơn là 17.984.000 đồng.
Ngày 22/9/2022 Cơ quan điều tra quyết định trưng cầu giám định chữ viết trong Giấy xác nhận nợ ghi ngày viết 20/6/2019 và chữ viết trong Giấy cam kết ghi ngày viết 04/10/2019, cùng ghi tên người viết là Lộc Văn G với tờ khai chứng minh nhân dân Lộc Văn G, số [...] ngày 24/8/2011 và 31/8/2011. Tại kết luận giám định số 229/KL-KTHS ngày 20/10/2022 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Chữ viết trên mẫu cần giám định với chữ viết trên mẫu so sánh là do cùng một người viết ra.
Ngày 16/02/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N ra Quyết định truy nã đối với Lộc Văn G. Ngày 04/5/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N lập biên bản bắt người đang bị truy nã đối với G tại thôn N, xã S, huyện V, tỉnh Thái Nguyên. Quá trình điều tra xác định, sau khi bỏ trốn khỏi địa phương G quen biết và sống chung như vợ chồng với chị Hoàng Thị C1, sinh năm 1986, trú tại thôn N, xã S, huyện V, tỉnh Thái Nguyên từ giữa năm 2020 nhưng không đăng ký kết hôn, không nói cho chị C1 biết việc nợ tiền anh H, không đăng ký lưu trú tại đây, quá trình sinh sống chị C1 không biết G vi phạm pháp luật.
Vật chứng của vụ án gồm: 02 (hai) tờ giấy của anh H ghi chép theo dõi các lần G mua sơn, phụ kiện sơn, tiền còn nợ khi sơn nhà cho anh X2, anh L1; Giấy xác nhận nợ ghi ngày viết 20/6/2019, giấy cam kết ghi ngày viết 04/10/2019 của Lộc Văn G, được lưu cùng hồ sơ vụ án.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra bị hại anh Dương Quang H yêu cầu bị cáo phải bồi thường tổng số tiền sơn, phụ kiện sơn sau khi trừ triết khấu còn nợ là 17.984.000 đồng (làm tròn số 17.985.000 đồng). Bị cáo đã tác động với chị Hoàng Thị C1 bồi thường cho anh H tổng số tiền 18.000.000 đồng. Bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm về dân sự.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Hoàng Thị C1 không yêu cầu bị cáo phải bồi hoàn số tiền 18.000.000 đồng chị đã thay bị cáo bồi thường cho bị hại.
Tại bản cáo trạng số 26/CT-VKSNR ngày 18/7/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn, truy tố bị cáo Lộc Văn G về “Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự. Điều luật có nội dung:
-
“1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
-
a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;
-
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”
Tại phiên toà:
- Bị cáo Lộc Văn G đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như nội dung Cáo trạng đã nêu. Theo thỏa thuận sau khi sơn xong nhà, được anh X2 và anh L1 trả tiền thì bị cáo sẽ trả tiền sơn cho anh H với tổng số tiền 17.985.000 đồng, tuy nhiên sau khi được anh X2, anh L1 trả tiền bị cáo G đã sử dụng cá nhân hết, sau đó do không có khả năng trả nợ nên bị cáo đã bỏ trốn khỏi địa phương và thay đổi số điện để nhằm tránh bị anh H đòi nợ. Bị cáo rất ăn năn, hối hận về hành vi phạm tội của mình, quá trình điều tra bị cáo đã tác động với chị Hoàng Thị C1 là người sống chung như vợ chồng với bị cáo nhưng không đăng ký kết hôn bồi thường cho anh H tổng số tiền 18.000.000 đồng. Do vậy đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, cho bị cáo hưởng mức án nhẹ nhất.
- Bị hại anh Dương Quang H đồng thời là người đại diện theo uỷ quyền cho bị hại chị Hà Thị H1, anh H có ý kiến: Anh đã được nhận lại số tiền bị cáo H đã nợ tiền sơn, phụ kiện sơn của anh với tổng số tiền là 18.000.000,đ. Anh H, chị H1 không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm và đề nghị Tòa án xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, chị Hoàng Thị C1 có ý kiến: Chị C1 là vợ bị cáo không có đăng ký kết hôn nhưng có tổ chức lễ cưới, quá trình điều tra bị cáo có tác động chị bồi thường cho bị hại số tiền 18.000.000,đ, chị C1 không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả lại số tiền này cho chị.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đồng thời là người làm chứng anh Nông Văn X2, anh Hoàng Văn L1 có đơn xin xét xử vắng mặt, trong đơn nêu: Anh X2, anh L1 có thuê bị cáo sơn nhà cho mình, anh X3, anh L2 đã thanh toán đầy đủ tiền công và tiền sơn cho bị cáo, do vậy anh X2, anh L1 không liên quan gì đến hành vi phạm tội của bị cáo và không có yêu cầu gì đối với với bị cáo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo cáo trạng. Đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Lộc Văn G phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175; Điều 38; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt: Lộc Văn G từ 09 đến 15 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 04/5/2024, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu nên không xem xét. Đề nghị HĐXX lưu hồ sơ vụ án các tài liệu, chứng cứ là 02 tờ giấy của anh H ghi chép theo dõi các lần G mua sơn, phụ kiện sơn, tiền còn nợ khi sơn nhà cho anh X2, anh L1; Giấy xác nhận nợ và giấy cam kết của Lộc Văn G. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
- Người bào chữa cho bị cáo phát biểu quan điểm bào chữa: Nhất trí với nội dung luận tội của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Do bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn, hiểu biết nhận thức về pháp luật của bị cáo còn nhiều hạn chế. Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, quá trình điều tra bị cáo đã tác động chị Hoàng Thị C1 là vợ bị cáo chưa đăng ký kết hôn nhưng đã tổ chức lễ cưới bồi thường thiệt hại cho bị hại. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất từ 06 đến 08 tháng tù, miễn án phí hình sự sơ thẩm và không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Lời nói sau cùng: Bị cáo rất ăn năn, hối hận về hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập đúng trình tự thủ tục Bộ luật tố tụng Hình sự quy định và có giá trị pháp lý làm căn cứ cho việc giải quyết vụ án. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
[2]. Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đồng thời là người làm chứng anh Nông Văn X2 và anh Hoàng Văn L1 vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 292, Điều 293 của BLTTHS, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ.
[3]. Về căn cứ định tội, định khung hình phạt: Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan Điều tra, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác, các tài liệu khác đã được cơ quan điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Vào tháng 7/2018, Lộc Văn G và anh Dương Quang H đã thỏa thuận để G mua nợ các thùng sơn, lon sơn, phụ kiện sơn để sơn nhà cho anh Nông Văn X2 và Hoàng Văn L1, tại xã Đ, huyện N trước, sau khi sơn nhà xong được chủ nhà thanh toán tiền thì G sẽ trả tiền sơn cho anh H. Tuy nhiên sau khi được chủ nhà thanh toán tiền sơn, G không trả tiền sơn cho anh H theo thỏa thuận. Tính đến ngày 04/11/2019 G còn nợ anh H số tiền sơn và phụ kiện sơn có giá trị là 17.984.000 đồng nhưng G không trả tiền mà bỏ trốn, thay đổi số điện thoại, cắt đứt liên lạc với anh H, chiếm đoạt số tiền 17.984.000 đồng. Ngày 04/5/2024 G bị bắt theo quyết định truy nã.
Hành vi của bị cáo nêu trên là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do đó, cần phải xử lí bằng pháp luật hình sự và có mức hình phạt tương xưng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đồng thời nêu gương phòng ngừa chung cho xã hội. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, sau khi nhận được tiền công và tiền sơn nhà bị cáo không trả cho anh H mà đã sử dụng, chi tiêu cá nhân hết, sau đó do không có khả năng trả nợ bị cáo đã bỏ trốn khỏi địa phương, thay đổi số điện để tránh bị anh H đòi nợ và chiếm đoạt số tiền sơn, phụ kiện sơn của anh H. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự.
Do đó Viện kiểm sát nhân dân huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn đã căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự để truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4]. Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về nhân thân: Bị cáo không có tiền sự, tiền án, có nhân thân tốt.
- Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã tác động chị Hoàng Thị C1, là người chung sống như vợ chồng với bị cáo nhưng không có đăng ký kết hôn bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả cho bị hại tổng số tiền 18.000.000 đồng; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân; bị cáo có bác ruột là ông Lộc Văn D (tên gọi khác Lục Văn D1) tham gia hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học, chú ruột ông Lộc Văn T (tên gọi khác Lục Văn T1) là liệt sĩ, được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Do đó bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5]. Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đề xuất của đại diện Viện kiểm sát và quy định của Bộ luật hình sự, HĐXX thấy rằng: Bị cáo có đầy đủ hiểu biết, có đủ khả năng nhận thức về hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng do không có khả năng trả lại tiền và mục đích muốn chiếm đoạt số tiền bán sơn, phụ kiện sơn của bị hại nên bị cáo đã thực hiện hành vi bỏ trốn, thay đổi số điện thoại, cắt đứt liên lạc để chiếm đoạt số tiền đó. Do vậy, cần áp dụng một mức án tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian có như vậy mới đảm bảo tính giáo dục, răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: HĐXX xét thấy bị cáo sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, bị cáo lao động tự do, không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, không có tài sản có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
[6]. Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, bị hại và người đại diện theo ủy quyền của bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Hoàng Thị C1 không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả lại số tiền 18.000.000 đồng chị đã thay bị cáo bồi thường cho bị hại. Do vậy HĐXX không xem xét.
[7]. Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí, nên HĐXX xem xét miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 175, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
-
Tuyên bố bị cáo Lộc Văn G phạm “Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
Xử phạt: Lộc Văn G 07 (B) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/5/2024. Tiếp tục tạm giam bị cáo Lộc Văn G 45 (Bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo Lộc Văn G.
-
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lộc Văn G.
-
Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333/BLTTHS, bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án phần trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Võ Thanh Bình |
Bản án số 28/2024/HS-ST ngày 29/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NA RÌ - TỈNH BẮC KẠN về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 28/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NA RÌ - TỈNH BẮC KẠN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lộc Văn G - Nợ tiền mua Sơn vàphụ kiện sơn nhà, sau đó bỏ trốn khỏi địa phương chiếm đoạt tài sản.
