Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HÀ TĨNH

Bản án số: 28/2024/HS-ST

Ngày: 24 - 4 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thương Huyền

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Đức; ông Bùi Văn Hồng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Huyền Trang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thùy Lương - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 4 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm Hội trường xét xử Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh kết nối với điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam Công an tỉnh H, xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 04/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 01 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2024/QĐXXST- HS ngày 15 tháng 3 năm 2024 và Thông báo mở lại phiên tòa số 06/2024/TB-TA ngày 09/4/2024 đối với bị cáo:

Lâm Thanh T; giới tính: Nam; tên gọi khác: Không; sinh ngày: 26/6/1998, tại: tỉnh Bình Phước; nơi đăng ký HKTT: Thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; nơi tạm trú: Tổ A, phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Nùng; tôn giáo: Không; con ông Lâm Tiến V và bà Vi Thị T1; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.

Bị khởi tố bị can và áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt tạm giam từ ngày 30/10/2023 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. (Bị cáo có mặt tại điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh)

- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Đoàn Văn H, sinh năm: 1982, địa chỉ: Khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. (Có mặt)
  2. Anh Trần Quang H1, sinh năm: 1989; địa chỉ: Thôn Y, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. (Vắng mặt)
  3. Anh Đỗ Văn L, sinh năm: 1987; địa chỉ: Thôn P, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. (Vắng mặt)

1

  1. Chị Hoàng Thị V1, sinh năm: 1998; địa chỉ: Thôn B, xã H, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. (Vắng mặt)

- Những làm chứng: Ông Nguyễn Khắc P, sinh năm: 1970; địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. (Có mặt)

Những người tham gia tố tụng khác:

+ Cán bộ, chiến sỹ dẫn giải bị cáo tại điểm cầu Thành phần Trại Tạm giam Công an tỉnh H gồm có: Ông Nguyễn Văn T2 - Tổ trưởng Tổ dẫn giải; các đồng chí: Ông Nguyễn Quốc V2,ông Nguyễn Văn T3 – thành viên Tổ dẫn giải – Trại tạm giam công an tỉnh H (Có mặt)

+ Lực lượng cảnh sát hỗ trợ tư pháp tại điểm cầu Trung tâm Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh: Ông Trần Mạnh H2 - Tổ trưởng Đội Hỗ trợ Tư pháp – Công an tỉnh H. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20h, ngày 17/4/2023, Lâm Thanh T được một người phụ nữ tên V3 (không xác định được nhân thân, lai lịch) đặt vấn đề thuê T đón, chở 06 công dân Trung Quốc nhập cảnh trái phép vào Việt Nam từ khu vực cây xăng N thuộc xã N, huyện G, thành phố Hà Nội đến khu vực Cổng xanh Khu công nghiệp T, tỉnh Bình Dương với chi phí 46.000.000 đồng. Sau đó, V3 sẽ đưa 06 công dân này sang nước Thái Lan làm việc, T đồng ý. V3 gửi số điện thoại 0941.859.xxx và trao đổi với Lâm Thanh T liên lạc vào số điện thoại này để đón, chở 06 công dân Trung Quốc. Do Lâm Thanh T không có giấy phép lái xe ô tô nên khoảng 22h ngày 17/4/2023, Lâm Thanh T đặt vấn đề thuê Đoàn Văn H (sinh năm 1982, trú tại tổ dân phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương) đón, chở 06 công dân Trung Quốc từ khu vực cây xăng N thuộc xã N, huyện G, thành phố Hà Nội đến khu vực Cổng xanh Khu công nghiệp T, tỉnh Bình Dương với chi phí 40.000.000 đồng, H đồng ý. Do đường xa nên Đoàn Văn H đã điện thoại cho Trần Quang H1 (sinh năm 1989, trú tại xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa) trao đổi, đặt vấn đề thuê H1 chở 06 công dân Trung Quốc nhập cảnh trái phép từ khu vực cây xăng N, thuộc xã N, huyện G, thành phố Hà Nội đi vào thành phố Đà Nẵng, sau đó Đoàn Văn H sẽ đi từ tỉnh Bình Dương ra thành phố Đà Nẵng đón 06 công dân Trung Quốc này chở vào tỉnh Bình Dương. Đoàn Văn H sẽ trả công cho Trần Quang H1 số tiền 20.000.000 đồng, H1 đồng ý. Do bị mệt không đi được nên Trần Quang H1 đã gọi điện thuê Đỗ Văn L (sinh năm 1987, trú tại xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa) đón, chở 06 công dân Trung Quốc trên với tiền công 18.000.000 đồng, khi vào đến thành phố Đà Nẵng sẽ nhận tiền, L đồng ý. Sau đó, Đỗ Văn L gọi điện rủ Phạm Văn T4 (sinh năm 1990, trú tại xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa) đi chở khách cùng mình và hứa sẽ trả công 2.000.000 đồng tiền công (L không nói cho T4 biết những người khách này là công dân Trung Quốc nhập cảnh trái phép), T4 đồng ý. Khoảng 23h30' ngày 17/4/2023, Đỗ Văn L điều khiển xe ô tô Ford Everest, biển kiểm soát: 99A-033.55 chở Phạm Văn T4

2

đi từ nhà đến khu vực cây xăng N, xã N, huyện G, thành phố Hà Nội. Đỗ Văn L liên lạc đến số điện thoại 0941.859.xxx do Trần Quang H1 cung cấp, một người đàn ông nghe máy, hỏi L đặc điểm, biển kiểm soát xe ô tô của L và bảo L ngồi chờ. Đến khoảng 05h 30' ngày 18/4/2023, có một người đàn ông (không rõ tên, địa chỉ) chở 06 công dân Trung Quốc đến giao cho L. Sau đó, Đỗ Văn LPhạm Văn T4 chở 06 công dân Trung Quốc đi vào thành phố Đà Nẵng. Trên đường đi, Trần Quang H1 gọi điện cho Đỗ Văn L nhắc nhở L phải đi cẩn thận, không dừng ăn uống dọc đường nhằm tránh bị cơ quan chức năng phát hiện. Khi Đỗ Văn L điều khiển xe ô tô đến khu vực đường T thì Phạm Văn T4 chuyển sang lái xe. Đến khoảng 07h ngày 18/4/2023, V3 yêu cầu Lâm Thanh T quay video 06 công dân Trung Quốc ngồi trên xe ô tô gửi qua cho V3 để V3 chắc chắn là đã đón được khách. Sau đó, Lâm Thanh T yêu cầu Đoàn Văn H quay video 06 công dân Trung Quốc đang trên xe ô tô gửi cho T, một lúc sau H gửi video cho T qua wechat "Mèo con” của TT gửi video 06 công dân Trung Quốc trên xe ô tô cho V3 qua wechat “Nhỏ em” của V3.

Đến khoảng 08h ngày 18/4/2023, V3 gọi điện cho Lâm Thanh T qua wechat hỏi T đang ở đâu để V3 đưa số tiền 20.000.000 đồng, T trả lời đang ở thành phố Đ, tỉnh Bình Phước. Khoảng hơn 09h cùng ngày có một người đàn ông lạ mặt đến đưa cho T số tiền 20.000.000 đồng. Đến khoảng 10h, ngày 18/4/2023, Đoàn Văn H yêu cầu Lâm Thanh T chuyển 20.000.000 đồng cho H1, số tiền còn lại sẽ trả khi Đoàn Văn H chở 06 công dân Trung Quốc nhập cảnh trái phép đến tỉnh Bình Dương. Lâm Thanh T đồng ý và sử dụng tài khoản số 704155796900001, ngân hàng N1 chuyển 20.000.000 đồng vào tài khoản số 9704229262282937, ngân hàng TMCP Q1 cho Trần Quang H1. Đến 13h 35' ngày 18/4/2023, khi xe ô tô biển kiểm soát: 99A-033.55 do Phạm Văn T4 điều khiển chở Đỗ Văn L và 06 công dân Trung Quốc đi đến địa phận xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh thì bị tổ công tác Phòng C Công an tỉnh H phát hiện, lập biên bản sự việc.

Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh H đã tiến hành trưng cầu người phiên dịch, lấy lời khai và xác minh lý lịch, nhân thân của 06 công dân Trung Quốc, kết quả xác định: Tang Wen B (sinh năm 2002, trú tại số B đường Q, H, M, huyện M, C dân tộc Choang, dân tộc Miêu Văn S, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc), H5 (sinh năm 2003, trú tại huyện T, C, G, Trung Quốc), Tao Jian G (sinh năm 2002, trú tại H, M, Bác T, Mã Q, Châu Tự T5 dân tộc Choang, dân tộc Miêu Văn S, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc), Wang P1 (sinh năm 1989, trú tại Đ, Đôn Đ, H, N, tỉnh Giang Tô, Trung Quốc), Xie F (sinh năm 2000, trú tại số C, T, L, T, T, C, tỉnh Giang Tây, Trung Quốc), Bao Bin B1 (sinh năm 1989, trú tại V, Đ, Lạc T6, C, Trung Quốc) đã được một số đối tượng (không xác định được nhân thân, lai lịch cụ thể) tổ chức nhập cảnh trái phép bằng đường mòn lối mở từ Trung Quốc sang Việt Nam với mục đích để đi từ Việt Nam sang Thái Lan tìm việc làm.

Sau khi bị lực lượng chức năng phát hiện, 06 công dân Trung Quốc (gồm Tang Wen B, Hua Z, Tao Jian G, W, X, Bao Bin B1) được đưa đến Nhà nghỉ dưỡng Công an, thuộc thị trấn T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh để phục vụ công tác

3

điều tra. Đến ngày 01/5/2023, người tên V3 trao đổi với Lâm Thanh T đi đến thị trấn T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh đưa 06 công dân Trung Quốc trốn đến tỉnh Quảng Bình, sau đó sẽ có người đón 06 công dân Trung Quốc này đi, V3 sẽ trả công cho Lâm Thanh T 10.000.000 đồng, T đồng ý. Ngày 02/5/2023, Lâm Thanh T đi đến thị trấn T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh thuê phòng tại khách sạn T7 để nghỉ. Sau đó, Lâm Thanh T đi đến vị trí đối diện cửa sổ phòng nghỉ của 06 công dân Trung Quốc ra ký hiệu cho những người này biết T đến để đưa họ đi. Đến khoảng gần 01h ngày 03/05/2023, Lâm Thanh T mượn 01 chiếc tua vít của anh Nguyễn Khắc P (sinh năm 1970, trú tại thị trấn T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh, là lái xe taxi) và nói với anh P chờ để chở khách vào tỉnh Quảng Bình. Sau đó, Lâm Thanh T đột nhập vào Nhà nghỉ dưỡng Công an Thiên Cầm, dùng tua vít mở khóa cửa phòng nơi 06 công dân Trung Quốc nhập cảnh trái phép đang lưu trú. Sau khi mở cửa xong, thì chỉ có 05 công dân Trung Quốc bỏ trốn cùng Lâm Thanh T, còn 01 công dân Trung Quốc do sợ nên không đi. Lâm Thanh T dẫn 05 công dân Trung Quốc đi lên xe taxi của anh Nguyễn Khắc P. Tuy nhiên anh P thấy 05 công dân Trung Quốc nói tiếng nước ngoài, nghi ngờ có dấu hiệu vi phạm pháp luật nên anh P không đồng ý chở những người này và yêu cầu 05 công dân Trung Quốc xuống xe. Sau đó, Lâm Thanh T dẫn 05 công dân Trung Quốc đi bộ đến khu vực núi T để lẩn trốn thì lực lượng chức năng phát hiện và bắt giữ được 05 công dân Trung Quốc, còn Lâm Thanh T thì trốn thoát. Đến ngày 26/10/2023, Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh H triệu tập Lâm Thanh T đến làm việc và T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Ngày 31/5/2023, Công an tỉnh H đã phối hợp với các đơn vị chức năng tiến hành trao trả 06 công dân Trung Quốc cho nước Cộng hòa nhân dân T8 tại Cửa khẩu Quốc tế H6, thuộc thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn theo quy định.

- * Vật chứng thu giữ và xử lý:

- 01 điện thoại di động 0PP0 Reno4 màu xanh dương đã qua sử dụng gắn sim số 0363733211 thu giữ của Lâm Thanh T được chuyển đến Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Hà Tĩnh để xử lý theo quy định.

- Ngoài ra trong vụ án còn trích xuất các dữ liệu điện tử gồm:

  • + 01 USB chứa file ghi âm cuộc gọi liên quan đến việc Lâm Thanh T thuê xe taxi đến chở 06 công dân Trung Quốc bỏ trốn khi đang lưu trú tại thị trấn T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh vào ngày 02/5/2023 và ngày 03/5/2023.
  • + 01 USB chứa file video thể hiện việc Lâm Thanh T dẫn 05 công dân Trung Quốc lên xe taxi vào ngày 02/5/2023 để bỏ trốn.
  • + 01 USB chứa file video thể hiện Lâm Thanh T xuất hiện tại địa điểm Phường Đ, thành phố H vào sáng ngày 03/5/2023.

(Các USB này lưu hồ sơ vụ án)

* Những đối tượng, hành vi khác liên quan trong vụ án:

- Đối với phụ nữ tên V3 đã thuê Lâm Thanh T tổ chức cho 06 công dân Trung Quốc đã nhập cảnh trái phép vào Việt Nam đi từ Hà Nội đến tỉnh Bình

4

Dương với chi phí 46.000.000 đồng. Do thông tin của người này không đầy đủ nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra, làm rõ.

- Đối với người sử dụng số điện thoại 0941.859.xxx mà Lâm Thanh T đã gửi số điện thoại trên cho Trần Quang H1Đỗ Văn L để liên lạc và giao 06 công dân Trung Quốc cho Đỗ Văn L tại phường N, quận G, thành phố Hà Nội. Cơ quan điều tra đã tiến hành tra cứu thông tin và xác định: Người đăng ký sử dụng số điện thoại 0941.859.xxx là Vương Bích H3 (sinh năm 1983, trú tại thị trấn Ô, huyện P, tỉnh Thái Nguyên). Tuy nhiên, kết quả uỷ thác điều tra xác định, trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên không có công dân tên Vương Bích H3 có lai lịch như trên cư trú nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra, xử lý.

- Đối với chị Hoàng Thị V1 là người sở hữu tài khoản số 704155796900001, ngân hàng N1 mà Lâm Thanh T sử dụng để chuyển số tiền 20.000.000 đồng cho Trần Quang H1. Tuy nhiên, chị V1 không biết Lâm Thanh T chuyển tiền để tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép nên Cơ quan điều tra không đề cập hình thức xử lý đối với chị Hoàng Thị V1 là phù hợp.

- Đối với hành vi phạm tội của Đoàn Văn H, Trần Quang H1, Đỗ Văn L đã được khởi tố, điều tra, xét xử trong vụ án khác.

- Đối với 06 công dân, quốc tịch Trung Quốc gồm: Tang Wen B, Hua Z, Tao Jian G, Wang P1, Xie FBao Bin B1 có hành vi “Vi phạm các quy định về nhập cảnh” quy định tại Điều 18, Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2021 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự an toàn xã hội. Căn cứ vào kết quả tra cứu xác định 06 công dân Trung Quốc nói trên không có tiền án, tiền sự tại Việt Nam nên Cơ quan điều tra đã chuyển toàn bộ hồ sơ, tài liệu có liên quan của 06 công dân Trung Quốc trên đến Phòng Q2 Công an tỉnh H để xử lý theo quy định.

Tại bản Cáo trạng số: 08/CT-VKS-P1 ngày 10 tháng 01 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã truy tố Lâm Thanh T về tội “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 348 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 2, khoản 4 Điều 348; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 35, Điều 38 BLHS; xử phạt Lâm Thanh T mức án 05 năm 06 tháng tù đến 06 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 30/10/2023; phạt bổ sung số tiền từ 20 đến 30 triệu đồng.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động OPPO Reno4 màu xanh dương đã qua sử dụng gắn sim số 0363733211 thu giữ của Lâm Thanh T đã sử dụng trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội.

5

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí, buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa bị cáo khẳng định nội dung Cáo trạng đã truy tố là đúng và không có ý kiến gì tranh luận gì chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan an ninh điều tra Công an tỉnh H, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng và hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Lâm Thanh T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với Cáo trạng của Viện kiểm sát, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để khẳng định:

Vào ngày 17/4/2023, Lâm Thanh T được một người phụ nữ tên V3 (không xác định được nhân thân, lai lịch) thuê tổ chức cho 06 công dân Trung Quốc đã nhập cảnh trái phép vào Việt Nam đi từ thành phố Hà Nội đến tỉnh Bình Dương với số tiền công là 46.000.000 đồng. Sau đó, Lâm Thanh T đã thuê Đoàn Văn H đón, chở 06 công dân Trung Quốc trên đi từ thành phố Hà Nội đến tỉnh Bình Dương với số tiền công là 40.000.000 đồng. Do đường xa nên Đoàn Văn H thuê Trần Quang H1 chở 06 công dân Trung Quốc đi từ thành phố Hà Nội đến thành phố Đà Nẵng với số tiền công là 20.000.000 đồng, Đoàn Văn H sẽ đón 06 công dân Trung Quốc này tại Đà Nẵng và chở vào tỉnh Bình Dương để bàn giao cho Lâm Thanh T. Do bị mệt Trần Quang H1 đã thuê Đỗ Văn L chở 06 công dân Trung Quốc từ thành phố Hà Nội đến thành phố Đà Nẵng với số tiền công là 18.000.000 đồng. Sau đó, Đỗ Văn L gọi điện rủ Phạm Văn T4 (L không nói cho T4 biết 06 khách này là công dân Trung Quốc nhập cảnh trái phép) đi chở khách cùng mình và hứa sẽ trả công 2.000.000 đồng. Đến 13h 35' ngày 18/4/2023, khi Đỗ Văn L chở 06 công dân Trung Quốc gồm Tang Wen B, Hua Z, Tao Jian G, Wang P1, X, Bao Bin B1 nhập cảnh trái phép đi đến địa phận xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh thì bị lực lượng chức năng phát hiện, bắt giữ; 06 công dân Trung Quốc được đưa đến Nhà nghỉ dưỡng Công an, thuộc thị trấn T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh để phục vụ công tác điều tra. Đến ngày 01/5/2023, người phụ nữ Tên V3 đã trao đổi với Lâm Thanh T đi đến thị trấn T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh đưa 06

6

công dân Trung Quốc trốn đến tỉnh Quảng Bình sẽ trả công 10.000.000 đồng. Đến khoảng gần 01h ngày 03/05/2023, Lâm Thanh T mượn 01 chiếc tua vít của anh Nguyễn Khắc P và đột nhập vào Nhà nghỉ dưỡng Công an Thiên Cầm, dùng tua vít mở khóa cửa phòng dẫn 05 công dân Trung Quốc đi (01 công dân Trung Quốc sợ nên không đi theo), đến khu vực núi T để lẩn trốn thì lực lượng chức năng phát hiện và bắt giữ được 05 công dân Trung Quốc, còn Lâm Thanh T thì bỏ trốn. Vì vậy, việc truy tố và xét xử bị cáo Lâm Thanh T theo tội danh và điều luật như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh truy tố là đúng người, đúng tội, không oan sai.

[3] Xét về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:

Xét hành vi của Lâm Thanh T thấy rằng: Vì hám lợi bị cáo thỏa thuận với người phụ nữ tên V3 để đưa 06 công dân Trung Quốc đã nhập cảnh trái phép vào Việt Nam đi từ thành phố Hà Nội đến tỉnh Bình Dương với số tiền công là 46.000.000 đồng. Bị cáo Lâm Thanh T là người thuê Đoàn Văn H để chở 06 công dân Trung Quốc đã nhập cảnh trái phép vào Việt Nam đến tỉnh Bình Dương để bàn giao cho V3. Khi bị lực lượng chức năng phát hiện bị cáo đã bỏ trốn.

Bản thân bị cáo khi thực hiện hành vi phạm tội có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi đưa 06 công dân không có giấy tờ hợp pháp nhập cảnh vào Việt Nam là vi phạm pháp luật nhưng vì hám lợi nên vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính về hoạt động xuất nhập cảnh và làm ảnh hưởng đến chính sách đối ngoại của Nhà nước thể hiện sự coi thường pháp luật.

[4]. Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo có nhân thân tốt. Bị cáo Lâm Thanh T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Trên cơ sở xem xét một cách toàn diện về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng cần phải xử phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc để răn đe, giáo dục chung. Tuy nhiên, cũng cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt để thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.

[5] Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 2 Điều 35, khoản 4 Điều 348 Bộ luật hình sự: Cần phạt bổ sung bị cáo Lâm Thanh T số tiền 20.000.000 đồng.

[6]. Đối với những người liên quan trong vụ án:

- Đối với phụ nữ tên V3 đã thuê Lâm Thanh T tổ chức cho 06 công dân Trung Quốc đã nhập cảnh trái phép vào Việt Nam đi từ Hà Nội đến tỉnh Bình Dương với chi phí 46.000.000 đồng. Do thông tin của người này không đầy đủ nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra, làm rõ.

7

- Đối với người sử dụng số điện thoại 0941.859.xxx mà Lâm Thanh T đã gửi số điện thoại trên cho Trần Quang H1Đỗ Văn L để liên lạc và giao 06 công dân Trung Quốc cho Đỗ Văn L tại phường N, quận G, thành phố Hà Nội. Cơ quan điều tra đã tiến hành tra cứu thông tin và xác định: Người đăng ký sử dụng số điện thoại 0941.859.xxx là Vương Bích H3 (sinh năm 1983, trú tại thị trấn Ô, huyện P, tỉnh Thái Nguyên). Tuy nhiên, kết quả uỷ thác điều tra xác định, trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên không có công dân tên Vương Bích H3 có lai lịch như trên cư trú nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra, xử lý.

- Đối với chị Hoàng Thị V1 là người sở hữu tài khoản số 704155796900001, ngân hàng N1 mà Lâm Thanh T sử dụng để chuyển số tiền 20.000.000 đồng cho Trần Quang H1. Tuy nhiên, chị V1 không biết Lâm Thanh T chuyển tiền để tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép nên Cơ quan điều tra không đề cập hình thức xử lý đối với chị Hoàng Thị V1 là phù hợp.

- Đối với hành vi phạm tội của Đỗ Văn L, Đoàn Văn H, Trần Quang H1. Các bị cáo Đỗ Văn L, Đoàn Văn H, Trần Quang H1 đã bị Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xét xử về tội: “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép” (tại bản án số 02/2024/HS-ST ngày 10/01/2024). Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Đoàn Văn H, Trần Quang H1 đã có kháng cáo, Tòa án nhân dân Cấp cao tại Hà Nội đã xét xử các bị cáo Đoàn Văn H, Trần Văn H4 (tại bản án số 368/2024/HS-PT ngày 23/4/2024)

- Đối với 06 công dân, quốc tịch Trung Quốc gồm: Tang Wen B, Hua Z, Tao Jian G, Wang P1, Xie FBao Bin B1 có hành vi “Vi phạm các quy định về nhập cảnh” quy định tại Điều 18, Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2021 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự an toàn xã hội...Căn cứ vào kết quả tra cứu xác định 06 công dân Trung Quốc nói trên không có tiền án, tiền sự tại Việt Nam nên Cơ quan điều tra đã chuyển toàn bộ hồ sơ, tài liệu có liên quan của 06 công dân Trung Quốc trên đến Phòng Q2 Công an tỉnh H để xử lý theo quy định.

[7]. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

- Tịch thu sung Ngân sách nhà nước vật chứng là công cụ, phương tiện bị cáo sử dụng trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội: 01 điện thoại di động 0PP0 Reno4 màu xanh dương, đã qua sử dụng gắn sim số 0363733211.

(Đặc điểm vật chứng thể hiện tại Biên bản giao nhận vật chứng số 20/2024 ngày 11/01/2024 giữa Cơ quan an ninh điều tra Công an tỉnh H và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hà Tĩnh)

[8]. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Quốc hội khóa 14 quy định về án phí, lệ phí tòa án, buộc bị cáo Lâm Thanh T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[9]. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên

8

án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 2, khoản 4 Điều 348; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 35, Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106; Điều 135, Điều 136, Điều 331, Điều 333 BLTTHS; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lâm Thanh T phạm tội “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép"
  2. Về hình phạt:

    Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Lâm Thanh T 05 năm 06 tháng (Năm năm sáu tháng) tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam (từ ngày 30/10/2023)

    Về hình phạt bổ sung: Xử phạt bị cáo Lâm Thanh T 20.000.000 (Hai mươi triệu ) đồng

  3. Về xử lý vật chứng:

    - Tịch thu sung Ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động OPPO Reno4 màu xanh dương, đã qua sử dụng gắn sim số 0363733211.

    (Đặc điểm vật chứng thể hiện tại Biên bản giao nhận vật chứng số 20/2024 ngày 11/01/2024 giữa Cơ quan an ninh điều tra Công an tỉnh H và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hà Tĩnh)

  4. Về án phí: Buộc bị cáo Lâm Thanh T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND cấp cao;
  • - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Phòng PC44, PV 06 Công an tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Trại tạm giam công an tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Cục THADS tỉnh Hà Tĩnh;
  • - THAHS TAND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Phòng LLTP Sở Tư pháp;
  • - Bị cáo;
  • - Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu HSVA.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thương Huyền

9

10

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 28/2024/HS-ST ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép

  • Số bản án: 28/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Lâm Thanh T phạm tội “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger