Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MÙ CANG CHẢI

TỈNH YÊN BÁI

Bản án số: 28/2024/ HS- ST

Ngày 12- 11- 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÙ CANG CHẢI, TỈNH YÊN BÁÍ

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Tòng Văn Quân

Các Hội thẩm thân dân: 1. Ông Lương Văn Sanh

2. Ông Sùng A Xà

- Thư ký phiên toà: Ông Lý A Dà- Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mù Cang Chải tham gia phiên toà: Ông Giàng A Sinh- Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 11 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 28/2024/TLST- HS ngày 10 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2024/QĐXXST- HS ngày 30 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:

Giàng Thị C- sinh ngày 01 tháng 01 năm 1969, tại huyện M, tỉnh Yên Bái; nơi cư trú: bản Mý Háng T, xã P, huyện M, tỉnh Yên Bái; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa: Không biết chữ; dân tộc: Mông; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Giàng Nhà S và bà Thào Thị D (Đều đã chết); có chồng là Thào Sáu C1 (đã chết) và 03 con (con lớn nhất sinh 1990, con nhỏ nhất sinh năm 1997); tiền sự: Không; tiền án: Có 01 tiền án tại Bản án số: 35/2017/HSST ngày 14/11/2017 của Toà án nhân dân huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Đến ngày 25/03/2023 chấp hành xong án phạt tù (chưa được xoá án tích); nhân thân: Tại Bản án số: 01/2013/HSST ngày 31/01/2013 của Toà án nhân dân huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái xử phạt 02 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” (đã được xoá án tích). Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/6/2024. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị D1- Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Y. Có mặt.

- Người làm chứng: Chị Mùa Thị B, sinh năm 2005; Trú tại: bản N, xã T, huyện T, tỉnh Lai Châu. Vắng mặt.

- Người phiên dịch: Ông Thào A D2, sinh năm 1979; trú tại: tổ E, thị trấn M, huyện M, tỉnh Yên Bái. Có mặt.

1

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 28/6/2024, tổ công tác Công an huyện M, tỉnh Yên Bái làm nhiệm vụ tại bản Mý Háng Tủa Chử, xã P, huyện M, tỉnh Yên Bái phát hiện tại nhà ở của Giàng Thị C có biểu hiện nghi vấn liên quan đến tội phạm về ma túy nên tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra phát hiện trong nhà có mặt của Giàng Thị C và một người phụ nữ khác. Tổ công tác yêu cầu những người này có đồ vật, tài liệu gì liên quan đến hành vi vi phạm pháp luật thì tự giao nộp, Giàng Thị Chu tự giao nộp: 01 túi nilon màu trắng có khóa kẹp một đầu, bên trong có 27 gói nilon màu xanh, đều hàn kín một đầu, trong đó có 25 gói, bên trong mỗi gói đều có chứa 01 viên nén màu hồng; 02 gói bên trong mỗi gói có chứa mảnh viên nén màu hồng; tiền có chữ Ngân hàng N 8.086.000 đồng; 01 điện thoại di động; 01 túi vải màu đen. Giàng Thị C khai nhận các viên nén màu hồng và mảnh viên nén màu hồng giao nộp ở trên đều là ma túy tổng hợp của bản thân cất giấu với mục đích để bán kiếm lời, bản thân vừa bán 05 gói ma túy gồm có cả viên nén màu hồng và mảnh viên nén màu hồng đều là ma túy tổng hợp cho người phụ nữ đang có mặt tại nhà ở của Giàng Thị Chu . Người phụ nữ này tự khai họ tên là Mùa Thị B, sinh năm 2005, trú tại bản Noong Quài, xã T, huyện T, tỉnh Lai Châu và thừa nhận vừa mua được 05 gói ma túy tổng hợp màu hồng của Giàng Thị C nhưng đã sử dụng hết. Tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Giàng Thị C và niêm phong vật chứng theo quy định của pháp luật.

Cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M, tỉnh Yên Bái tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở, đồ vật đối với Giàng Thị Chu . Quá trình khám xét không phát hiện thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

* Tại bản Kết luận giám định số: 412/KL-KTHS ngày 05 tháng 7 năm 2024 của phòng K Công an tỉnh Y kết luận:

  1. Các viên nén màu hồng thu giữ khi bắt quả tang Giàng Thị C có tổng khối lượng là 2,5 gam.
    • 0,2 gam trích từ 2,5 gam các viên nén màu hồng gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine.
  2. Các mảnh viên nén màu hồng thu giữ khi bắt quả tang Giàng Thị C có tổng khối lượng là 0,09 gam. Lấy toàn bộ 0,09 gam các mảnh viên nén màu hồng gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine.

* Tại bản Kết luận giám định số: 414/KL-KTHS ngày 05 tháng 7 năm 2024 của phòng K Công an tỉnh Y kết luận:

  • - Số tiền: 8.086.000 đồng gồm nhiều tờ tiền Việt Nam có mệnh giá khác nhau gửi giám định đều là tiền thật do Ngân hàng N phát hành.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa Giàng Thị C khai nhận: Khoảng 17 giờ ngày 27/6/2024, Giàng Thị C gặp và mua 01 túi nilon màu trắng có khóa kẹp một đầu, bên trong có 32 gói Methamphetamine với tổng số tiền 450.000 đồng. Sau khi mua bán ma túy xong người đàn ông này đi đâu làm gì không rõ, còn Giàng Thị C cất giấu số ma

2

túy đã mua được vào trong túi vải màu đen đeo trên người rồi đi về nhà với mục đích có ai mua thì bán kiếm lời. Cụ thể khoảng 13 giờ ngày 28/6/2024, Giàng Thị C đã bán 05 gói Methamphetamine với giá 200.000 đồng cho Mùa Thị B. Số Methamphetamine còn lại bị cáo cất giấu để bán kiếm lời thì bị bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng như đã nêu trên.

Cáo trạng số: 30/CT- VKS- MCC ngày 10 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mù Cang Chải truy tố Giàng Thị C về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên trình bày lời luận tội đã phân tích, đánh giá hành vi của bị cáo trong quá trình thực hiện tội phạm và giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, Xử phạt bị cáo Giàng Thị C từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo. Do bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định của pháp luật.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị tiêu huỷ vật chứng là ma tuý; 02 (hai) vỏ phong bì đã mở niêm phong, các mảnh nilon gói; 01 (một) túi vải màu đen, đã qua sử dụng.

  • - Đối với số tiền 8.086.000 đồng thu giữ của bị cáo (Trong đó 200.000 đồng là tiền phạm tội mà có, cần tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước; còn lại 7.886.000 đồng là tiền thu nhập hợp pháp của bị cáo cần trả lại cho bị cáo.
  • - Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động, loại bàn phím số, màu đen, mặt trước có ký hiệu MXMID, đã qua sử dụng.

Người bào chữa trình bày lời bào chữa nhất trí với tội danh và điều khoản truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo là người phụ nữ dân tộc thiểu số, không biết chữ, nhận thức pháp luật còn hạn chế; Quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo; tích cực hợp tác với Cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm. Đề nghị Tòa án áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s, t khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự, cân nhắc giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Bị cáo thuộc hộ nghèo, là đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nhất trí với lời bào chữa của người bào chữa và không có ý kiến bổ sung.

Khi được nói lời sau cùng; bị cáo đề nghị được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tố tụng, người tham gia tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện M, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện

3

Mù Cang Chải, Kiểm sát viên; trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa các thành viên của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thủ tục tố tụng tại phiên tòa theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

  1. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với biên bản thu giữ vật chứng, phù hợp với kết luận giám định, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Ngày 27/6/2024 Giàng Thị C mua một lượng Methamphetamine với giá 450.000 đồng mục đích để bán kiếm lời. Cụ thể đã bán cho Mùa Thị B 05 gói với giá 200.000 đồng, số Methamphetamine còn lại là 2,59 gam bị cáo cất giấu nhằm mục đích bán kiếm lời. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
  2. Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, bị cáo nhận thức được việc “Mua bán trái phép chất ma tuý” là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố tình thực hiện. Hành vi của bị cáo không những xâm phạm quy định của Nhà nước về phòng ngừa, ngăn chặn, đấu tranh phòng, chống ma tuý, mà còn làm gia tăng tệ nạn nghiện ma tuý, là nguyên nhân, điều kiện làm phát sinh các loại tội phạm khác trên địa bàn, ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
  3. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; Tình tiết giảm nhẹ: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, được Hội đồng xét xử áp dụng khi quyết định hình phạt.
  4. Về nhân thân: Bị cáo Giàng Thị C đã bị kết án và xử phạt tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo Bản số: 01/2013/HSST ngày 31/01/2013 của Toà án nhân dân huyện Mù Cang Chải (đã được xóa án tích). Nhưng bị cáo không lấy làm bài học cho bản thân mà tiếp tục phạm tội thể hiện bị cáo là người có nhân thân xấu.
  5. Căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử cần áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng, giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, đồng thời cũng đảm bảo răn đe, phòng ngừa chung.
  6. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo khó khăn, không có khả năng, điều kiện thi hành nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
  7. Các vấn đề khác liên quan đến vụ án:

4

Đối với khối lượng ma túy bị cáo Giàng Thị C đã bán cho Mùa Thị B, do B đã sử dụng hết, khi mua bán giữa Giàng Thị C và Mùa Thị B không cân để xác định thực tế khối lượng, không có căn cứ xác định khối lượng của số ma túy này, do đó Cơ quan điều tra không đề cập xem xét trách nhiệm hình sự là phù hợp.

Quá trình điều tra bị cáo khai nhận ngày 26/6/2024 bị cáo còn mua ma túy của một người phụ nữ không quen biết và đã sử dụng hết, khi sử dụng bị cáo không cân xác định thực tế khối lượng nên không đủ căn cứ để xử lý trách nhiệm hình sự. Do bị cáo đã bị khởi tố và tạm giam nên không có điều kiện thi hành, do đó không đề cập đến việc xử lý đối với bị cáo về hành vi này.

Đối với những người bán ma túy cho Giàng Thị C, quá trình điều tra bị cáo khai nhận không biết tên, địa chỉ, đặc điểm nhận dạng của người này nên Cơ quan điều tra không đủ căn cứ để xác minh, điều tra làm rõ.

  1. Về xử lý vật chứng:
  • - 0,09 gam M đã sử dụng hết để làm mẫu giám định tại phòng K Công an tỉnh Y. Không hoàn lại mẫu vật.
  • - 2,3 gam Methamphetamie còn lại được niêm phong vào 01 phong bì do phòng K Công an tỉnh Y phát hành, mặt trước phong bì có ghi: “Vật chứng thu giữ khi bắt quả tang Giàng Thị C - SN: 1969, tại bản Mý Háng Tủa Chử, xã P, huyện M, tỉnh Yên Bái ngày 28/6/2024” (Sau khi trích mẫu giám định). Là vật cấm lưu hành cần tịch thu tiêu huỷ.
  • - 02 (hai) vỏ phong bì đã mở niêm phong, túi nilon và các mảnh nilon gói; 01 (một) túi vải màu đen, đã qua sử dụng. Không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ.
  • - 01 điện thoại di động, loại bàn phím số, màu đen, mặt trước có ký hiệu MXMID, đã qua sử dụng. Là tài sản hợp pháp của bị cáo cần trả lại cho bị cáo.
  • - Đối với số tiền 8.086.000 đồng thu giữ của bị cáo (Trong đó 200.000 đồng là tiền phạm tội mà có, cần tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước; còn lại 7.886.000 đồng là tiền thu nhập hợp pháp của bị cáo cần trả lại cho bị cáo.
  1. Về án phí: Do bị cáo thuộc hộ nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn cần miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
  2. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 251 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Giàng Thị C phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý "

  1. Về hình phạt:

5

  • - Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Giàng Thị C 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 28/6/2024.

  1. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
  • - Tịch thu tiêu huỷ: Khối lượng 2,3 gam Methamphetamie còn lại được niêm phong vào 01 (một) phong bì do phòng K Công an tỉnh Y phát hành, mặt trước phong bì có ghi: “Vật chứng thu giữ khi bắt quả tang Giàng Thị C - SN: 1969, tại bản Mý Háng Tủa Chử, xã P, huyện M, tỉnh Yên Bái ngày 28/6/2024” (Sau khi trích mẫu giám định). Mặt sau phong bì các mép được dán kín, có chữ ký, họ tên của Lê Vũ L, Hoàng Hữu Quốc T, Đoàn Xuân T1, Nguyễn Đức P, Nguyễn Thị D1 và các hình dấu tròn đỏ của phòng K Công an tỉnh Y; 02 (hai) vỏ phong bì đã mở niêm phong, túi nilon và các mảnh nilon gói; 01 (một) túi vải màu đen, đã qua sử dụng.
  • - Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại di động loại bàn phím số, màu đen, mặt trước có ký hiệu MXMID, đã qua sử dụng và 7.886.000 đồng (Bảy triệu tám trăm tám mươi sáu nghìn đồng).
  • - Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
  1. Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án,

Bị cáo Giàng Thị C được miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm.

  1. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh YB;
  • - VKSND huyện MCC;
  • - VKSND tỉnh Yên Bái;
  • - Công an huyện MCC (2 bản);
  • - Chi cục THADS huyện MCC;
  • - Sở Tư pháp;
  • - Bị cáo; - Người bào chữa;
  • - Nhà tạm giữ Công an huyện MCC;
  • - Lưu T.H.A phạt tù, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đã ký

Tòng Văn Quân

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 28/2024/ HS- ST ngày 12/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÙ CANG CHẢI, TỈNH YÊN BÁI về mua bán trái phép chất ma tuý (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 28/2024/ HS- ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma tuý (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÙ CANG CHẢI, TỈNH YÊN BÁI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngày 27/6/2024 Giàng Thị C mua một lượng Methamphetamine với giá 450.000 đồng mục đích để bán kiếm lời. Cụ thể đã bán cho Mùa Thị B 05 gói với giá 200.000 đồng, số Methamphetamine còn lại là 2,59 gam bị cáo cất giấu nhằm mục đích bán kiếm lời. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger