|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG TRỊ TỈNH QUẢNG TRỊ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 28/2024/HS-ST
Ngày: 12-11-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG TRỊ, TỈNH QUẢNG TRỊ
-
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Phương Tiến.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Huyền Thương.
Bà Nguyễn Thị Thu Hạnh.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Liên - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thị xã Quảng Trị.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Trị tham gia phiên Tòa: Ông Lê Đức Bát - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 26/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Lê Vĩnh S (tên gọi khác: Ú), sinh ngày 01/01/1989; nơi sinh: tỉnh Quảng Trị; nơi cư trú: Khu phố E, Phường C, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn 08/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông: Lê Vĩnh N, sinh năm 1953, con bà Đỗ Thị C, sinh năm 1955 (đã chết); vợ, con: chưa có.
Tiền án; tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 31/3/2021, bị Toà án nhân dân thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị xử phạt 07 tháng 05 ngày tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo Bản án số 08/2021/HS-ST, bị cáo đã chấp hành xong.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/6/2024 cho đến nay. Có mặt.
2. Võ Văn N1 (tên gọi khác: Ẹ), sinh ngày 18/6/1996; nơi sinh: tỉnh Quảng Trị; nơi thường trú: Khu phố D, Phường A, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn 12/12; nghề nghiệp: Lái xe; con ông: Võ Văn H, sinh năm 1963, con bà: Đinh Thị T, sinh năm 1972; vợ: Nguyễn Thị Hoài A, sinh năm: 2002; có 01 con sinh năm 2024. Tiền án; tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/6/2024 cho đến nay. Có mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
+ Chị Nguyễn Thị Hoài A, sinh năm 2002; trú tại: Khu phố D, Phường A, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị. Có mặt.
+ Anh Hoàng Xuân T1, sinh năm 1984; trú tại: Khu phố B, Phường C, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 40 phút ngày 11/6/2024, Võ Văn N1 nảy sinh ý định sử dụng ma túy nhưng vì không đủ tiền mua nên đã gọi điện thoại cho Lê Vĩnh S với mục đích hỏi có ma túy không để cùng sử dụng nhưng S không nghe máy. Khoảng 05 phút sau, S sử dụng tài khoản Zalo "Sang L” gọi vào tài khoản Z “Văn Nhất” (San lưu là Ec) của N1 hỏi có việc gì thì N1 nói: “Anh có tiền không lấy ít đồ về anh em tâm sự cho vui” (ý N1 hỏi có tiền không mua ma túy về cùng nhau sử dụng) thì S trả lời: “Anh có tiền đây, qua nhà chở anh đi”. Nghe vậy, N1 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 36N1-214.22 của chị Nguyễn Thị Hoài A - Sinh năm 2002 (là vợ của N1), qua nhà S ở Khu phố E, Phường C, thị xã Q. Sau đó, cả hai thống nhất đến nhà nghỉ T2 thuộc Khu phố B, Phường C, thị xã Q, thuê phòng và mua ma túy về cùng nhau sử dụng, S là người trả tiền mua ma túy, còn Nhất là người trả tiền thuê phòng. Tại nhà nghỉ T2, gặp anh Hoàng Xuân T1 - Sinh năm 1984 (là chủ nhà nghỉ), N1 nói: “Cho bọn em thuê một phòng” thì anh T1 chỉ vào Phòng số 01. Sau khi vào phòng, S gọi 01 gói thuốc lá Thăng Long, 01 chai nước ngọt, mượn 01 cái kéo, rồi liên lạc qua ứng dụng Z với một người tên “Béo” (không rõ nhân thân, địa chỉ cụ thể) hỏi mua ma tuý với giá 1.000.000đồng thì người này đồng ý và hẹn khoảng 15 phút nữa đưa đến khu vực phía trước nhà nghỉ T2. Lúc này, N1 ngồi trên giường lấy vỏ chai nước ngọt đục một lỗ trên thân chai và dùng 01 tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng quấn thành hình trụ tròn gắn vào để làm dụng cụ hít ma túy, rồi dùng kéo cắt giấy kẽm trong gói thuốc lá Thăng Long ra 03 mảnh nhỏ để làm “xẻng” với mục đích là đặt ma túy lên trên “xẻng” hơ lửa và sử dụng vỏ chai nước ngọt để hít.
Khi thấy N1 chuẩn bị xong các dụng cụ sử dụng ma tuý nên S đi ra phía trước cổng nhà nghỉ T2 đứng đợi khoảng 05 phút thì người tên “Béo” điều khiển xe mô tô (San không nhớ rõ đặc điểm cụ thể) đến. S đưa cho “Béo” 1.000.000đồng và hỏi ma túy ở đâu thì người này chỉ vào mép đường bên trái cổng nhà nghỉ T2. San đi đến thấy 01 đoạn ống nhựa bên trong có chứa các viên nén màu hồng nên nhặt lấy đem vào Phòng số 01, đặt ra giữa giường, rồi lấy kéo cắt đoạn ống nhựa làm 02 phần và kiểm tra bên trong có 21 viên. Có ma tuý, N1 lấy 01 viên ra sử dụng, còn S đi ra khỏi phòng để mượn thêm bật lửa thì lực lượng Công an thị xã Q vào kiểm tra, phát hiện 20 viên ma túy cùng các dụng cụ liên quan đến việc sử dụng trái phép chất ma túy nên lập biên bản phạm tội quả tang về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
Tại Kết luận giám định số 714/KL-KTHS ngày 18/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q, kết luận: 20 viên nén màu hồng đựng trong túi niêm phong có ký hiệu NS3 2141776 gửi đến giám định là ma túy loại Methamphetamine nằm trong Danh mục IIC, STT: 247 Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất, có khối lượng là 1,7984gam.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tạm giữ các vật chứng, đồ vật, tài liệu liên quan đến vụ án như sau: 01 chai nhựa trong suốt; 02 đoạn ống nhựa màu trắng; 01 tờ tiền có mệnh giá 2.000đồng; 20 viên ma tuý loại Methamphetamine; 01 bật lửa, màu xanh, trên thân có ký hiệu “Viva”; 01 kéo dài 13cm, cán được làm bằng nhựa màu vàng – đen; 03 mảnh giấy màu trắng đã bị cháy một phần; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro Max màu vàng (gold); số máy MLH63ZA/A, số sê ri: F7RMWVR6G4; có gắn thẻ sim mã số 8984048000932741931; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy M12, màu xanh; số sê ri: RF8T307K3RV; SỐ IMEI (Khel): 358581283104419, Số IMEI (Khe2): 359402873104413, có gắn 01 thẻ sim mã số 8984048000316605640 và 01 thẻ sim mã số 8984048000014410595; 01 xe mô tô biển kiểm soát 36N1-214.22.
Cáo trạng số 26/CT-VKS-TXQT ngày 07/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Trị đã truy tố bị cáo Lê Vĩnh S và Võ Văn N1 đã phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
Qua xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Trị giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng tuyên bố:
Bị cáo bị cáo Lê Vĩnh S và Võ Văn N1 về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” được quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt Lê Vĩnh S từ 27 tháng đến 30 tháng tù, Võ Văn N1 từ 24 tháng đến 26 tháng tù đối với tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam.
Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 chai nhựa trong suốt; 02 đoạn ống nhựa màu trắng; 20 viên ma tuý loại Methamphetamine; 01 bật lửa, màu xanh, trên thân có ký hiệu “Viva”; 01 kéo dài 13cm, cán được làm bằng nhựa màu vàng – đen; 03 mảnh giấy màu trắng đã bị cháy một phần; 01 thẻ sim mã số 8984048000932741931V, 01 thẻ sim mã số 8984048000316605640 và 01 thẻ sim mã số 8984048000014410595.
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 (một) tờ tiền của Ngân hàng N2 có mệnh giá 2.000 đồng, có số seri HZ 4168271; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro Max màu vàng (gold); số máy MLH63ZA/A, số sê ri: F7RMWVR6G4, Số IMEI (Khel) 358581283104419; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy M12, màu xanh; số sê ri: RF8T307K3R, SỐ IMEI (Khe2): 359402873104413.
Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án đề nghị tuyên bị cáo Lê Vĩnh S, Võ Văn N1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo không tranh luận gì, thừa nhận hành vi phạm tội của mình và nhất trí với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Trị, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Qua xem xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa, quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Trị và các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định:
Vào ngày 11/6/2024, Lê Vĩnh S và Võ Văn N1 đã thống nhất cùng nhau tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Trong đó, Lê Vĩnh S là người bỏ ra số tiền 1.000.000 đồng, trực tiếp liên lạc với người tên “Béo” để mua và lấy 21 viên ma tuý. Võ Văn N1 là người khởi xướng, thuê phòng tại nhà nghỉ T2 và làm các dụng cụ để sử dụng ma túy. Nhất đã lấy 01 viên ra sử dụng, còn S đi ra khỏi phòng để mượn thêm bật lửa thì lực lượng Công an thị xã Q vào kiểm tra, phát hiện 20 viên ma túy cùng các dụng cụ liên quan đến việc sử dụng trái phép chất ma túy nên lập biên bản phạm tội quả tang về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
Tại bản Kết luận giám định số 714/KL-KTHS ngày 18/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q, kết luận: 20 viên nén màu hồng đựng trong túi niêm phong có ký hiệu NS3 2141776 gửi đến giám định là ma túy loại Methamphetamine nằm trong Danh mục IIC, STT: 247 Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất, có khối lượng là 1,7984gam.
Xét thấy hành vi chuẩn bị địa điểm, mua ma túy, chuẩn bị dụng cụ để cùng nhau sử dụng ma túy của Võ Văn N1, Lê Vĩnh S đủ yếu tố cấu thành tội “Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Trị truy tố bị cáo Võ Văn N1, Lê Vĩnh S về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” được quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội danh và điều khoản áp dụng.
Võ Văn N1 là người khởi xướng và thuê phòng nghỉ, chuẩn bị dụng cụ để sử dụng ma túy, Lê Vĩnh S là người trực tiếp bỏ tiền và tìm mua ma túy về sử dụng. Xét thấy vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn. (Điều 17 Bộ luật Hình sự)
[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:
Các bị cáo Lê Vĩnh S, Võ Văn Nhất là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, thấy rõ tác hại của việc sử dụng ma túy có khả năng gây nghiện mạnh, nguy hiểm cho sức khỏe của con người, nhưng lại cố ý tụ tập thực hiện. Hành vi của các bị cáo không những gây mất trật tự trị an trên địa bàn mà còn kéo theo nhiều tệ nạn khác, xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý Nhà nước về chất ma túy. Do đó, để đẩy lùi tệ nạn ma túy và các tệ nạn xã hội khác, cần phải xử lý nghiêm đối với hành vi phạm tội của các bị cáo theo quy định của pháp luật để răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.
[4] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng: Không có.
Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thần khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Đối với bị cáo Võ Văn N1 có bố là ông Võ Văn H được Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã Q tặng danh hiệu “Chiến sĩ tiên tiến” vì đã có thành tích xuất sắc trong phong trào “Toàn dân bảo vệ An ninh tổ quốc” năm 2015. Bản thân Võ Văn N1 tham gia và hoàn thành nghĩa vụ quân sự theo Quyết định số 179/QĐ-TĐ ngày 08/01/2020 của Trung đoàn A1, Sư đoàn I, nên khi lượng hình hình cũng cần xem xét cho bị cáo. Đối với bị cáo Lê Vĩnh S đã từng bị Toà án nhân dân thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị xử phạt 07 tháng 05 ngày tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo Bản án số 08/2021/HS-ST ngày 31/3/2021, đã chấp hành xong ngày 12/5/2021. Vì vậy, khi lượng hình HĐXX cần xem xét áp dụng hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ, nhân thân của các bị cáo.
[5] Về vấn đề khác:
Đối với đối tượng tên B, là người đã bán ma túy cho Lê Vĩnh S, nhưng S không biết rõ tên tuổi, địa chỉ cụ thể. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Q đã tiến hành xác minh nhưng chưa có kết quả, khi nào xác định được sẽ đề nghị xử lý sau.
Đối với chị Nguyễn Thị Hoài A là chủ sở hữu xe mô tô biển kiểm soát 36N1-214.22, không biết Võ Văn N1 sử dụng xe chở bị can Lê Vĩnh S đến nhà nghỉ T2 để cùng nhau “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” nên không xem xét.
Việc anh Hoàng Xuân T1 là chủ nhà nghỉ T2 có giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh hợp pháp, việc Lê Vĩnh S và Võ Văn N1 “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” tại nơi mình quản lý nhưng anh T1 không biết nên không xem xét trách nhiệm hình sự.
[6] Về xử lý vật chứng:
Quá trình điều tra xét thấy việc thu giữ 01 xe mô tô biển kiểm soát 36N1-214.22, màu xám – đen, nhãn hiệu Honda Vision là của chị Nguyễn Thị Hoài A. Bị cáo Võ Văn N1 sử dụng chở bị cáo Lê Vĩnh S đi sử dụng ma túy chị Nguyễn Thị Hoài A không biết. Vì vậy, cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là chị Nguyễn Thị Hoài A là đúng quy định pháp luật. Bị cáo không có ý kiến gì về tài sản đã được trả lại. Nên Hội đồng xét xử không xem xét.
01 chai nhựa trong suốt; 02 đoạn ống nhựa màu trắng; 20 viên ma tuý loại Methamphetamine; 01 bật lửa, màu xanh, trên thân có ký hiệu “Viva”; 01 kéo dài 13cm, cán được làm bằng nhựa màu vàng – đen; 03 mảnh giấy màu trắng đã bị cháy một phần; 01 thẻ sim mã số 8984048000932741931; 01 thẻ sim mã số 8984048000316605640 và 01 thẻ sim mã số 8984048000014410595. Là vật không có giá trị sử dụng và cấm tàng trữ, lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.
01 (một) tờ tiền của Ngân hàng N2 có mệnh giá 2.000 đồng, có số seri HZ 4168271; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro Max màu vàng (gold); số máy MLH63ZA/A, số sê ri: F7RMWVR6G4; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy M12, màu xanh; số sê ri: RF8T307K3RV; SỐ IMEI (Khe1): 358581283104419, Số IMEI (Khe2): 359402873104413. Là công cụ dùng vào việc phạm tội cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
(Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự).
[7] Xét các đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, áp dụng điều luật, xử lý vật chứng là có căn cứ cần chấp nhận.
[8] Hiện bị cáo Võ Văn N1, Lê Vĩnh S đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam, cần tiếp tục ra quyết định tạm giam đối với bị cáo để đảm bảo chấp hành án.
[9] Về án phí: Bị cáo Võ Văn N1, Lê Vĩnh S mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Võ Văn N1, Lê Vĩnh S phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
1. Căn cứ khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Võ Văn N1 24 (Hai bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 11/6/2024;
Bị cáo Lê Vĩnh S 27 (Hai bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 11/6/2024.
2. Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 túi niêm phong có mã số NS3A 102871 được dán kín các mép và có chữ ký xác nhận của người tham gia niêm phong, đóng dấu của Phòng K Công an tỉnh Q; 01 hộp giấy, ký hiệu BG, bên ngoài có dán giấy niêm phong, trên giấy niêm phong có chữ ký xác nhận của người tham gia niêm phong và hình dấu của phòng K Công an tỉnh Q; 01 bật lửa, màu xanh trên thân có ký hiệu “Vina”; 01 cái kéo dài 13 cm, cán được làm bằng nhựa màu vàng – đen, dài 6,8cm, lưỡi được làm bằng kim loại; 03 mảnh giấy màu trắng đã bị đốt cháy một phần, có kích thước lần lượt là (3x1)cm, (3x0,8)cm, (3x0,9)cm; 01 thẻ sim mã số 8984048000932741931; 01 thẻ sim có mã số 8984048000316605640; 01 thẻ sim có mã số 8984048000014410595.
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro Mã màu vàng (gold) số máy MLH63ZA/A, số sê ri: F7RMWVR6G4; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy M12, màu xanh; số sê ri: RF8T307K3RV, số IMEI (khe 1): 358581283104419, số IMEI (khe2) 359402873104413.
(Vật chứng hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/11/2024 giữa Công an thị xã Q và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Quảng Trị).
Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước đối với tờ tiền 2.000 đồng (Hai nghìn đồng) có số se ri HZ 4168271 được niêm phong trong bì giấy, được dán kín các mép và có chữ ký xác nhận của người tham gia niêm phong, đóng dấu của Phòng K Công an tỉnh Q). Hiện cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Q, ký hiệu “TSGĐ” đang bảo quản tại Kho bạc Nhà nước thị xã Q theo Biên bản giao nhận tài sản số: 23.1.1/2024/BBBG-KBTX ngày 10/9/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Q và Kho bạc Nhà nước thị xã Q.
3. Về án phí: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, nộp án phí Tòa án buộc bị cáo Lê Vĩnh S, Võ Văn N1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Phương Tiến |
Bản án số 28/2024/HS-ST ngày 12/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG TRỊ, TỈNH QUẢNG TRỊ về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 28/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG TRỊ, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Vĩnh S, Võ Văn N phạm tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy"
