TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯ PĂH TỈNH GIA LAI Bản án số : 28 /2024/HS-ST Ngày : 27/9/2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯ PĂH - GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :
+ Thẩm Phán - Chủ tọa phiên tòa : Ông Nguyễn Văn Bảo.
+ Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Văn Tàu – Hiệu trưởng trường THPT Mạc Đĩnh Chi
- Ông Phạm Trung Kiên-Giám đốc Trung tâm Văn hóa TT&TT huyện Chư Păh
+ Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Nữ Hương Giang - Thư ký TAND huyện Chư Păh - Gia Lai.
+ Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Păh - Gia Lai tham gia phiên tòa: ông Lương Minh Phúc - Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở TAND huyện Chư Păh – Tỉnh Gia Lai mở phiên toà công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 24/2024/TLST-HS, ngày 30 tháng 8 năm 2024 và quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2024/QĐXXST-HS ngày 13/9/2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Quang T (tên gọi khác: Không); sinh ngày 17/9/2006, tại: Gia Lai. Nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn G, xã N, huyện C, tỉnh Gia Lai. Nghề nghiệp: Học sinh; trình độ học vấn: 12/12. Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; giới tính: Nam. Con ông Nguyễn Đình N, sinh năm 1969 và bà Nguyễn Thị Phượng N1, sinh năm 1977. Gia đình bị cáo có 03 chị em, bị cáo là con nhỏ nhất trong gia đình, chị lớn nhất sinh năm 1996. Tiền án, Tiền sự: Không; Nhân thân: tốt. Bị cáo chưa có vợ, con. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
Đại diện theo pháp luật của bị cáo: Ông Nguyễn Đình N, sinh năm 1969 và bà Nguyễn Thị Phượng N1, sinh năm 1977. Địa chỉ: Thôn G, xã N, huyện C, tỉnh Gia Lai. (có mặt)
Người bào chữa cho bị cáo: ông Trịnh Xuân T1 – Trợ giúp viên pháp lý, trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh G. (có mặt)
Bị hại: Nguyễn Thị T2 (đã chết). Đại diện theo pháp luật của bị hại: Ông Phạm Xuân K, sinh năm 1965. Địa chỉ: Thôn H, xã N, huyện C, tỉnh Gia Lai. (có mặt)
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Phượng N1, sinh năm 1977. Địa chỉ: Thôn G, xã N, huyện C, tỉnh Gia Lai. (có mặt)
1
Người làm chứng:
- Bà Trần Thị Mỹ H, sinh năm 1981. Địa chỉ: Thôn H, xã N, huyện C, tỉnh Gia Lai. (có mặt)
- Ông Lã Minh K1, sinh năm 1964. Địa chỉ: Thôn H, xã N, huyện C, tỉnh Gia Lai. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 09 giờ 50 ngày 21/01/2024, Nguyễn Quang T (không có giấy phép lái xe theo quy định) tự ý lấy xe mô tô biển kiểm soát 81B1-793.97 của bà Nguyễn Thị Phượng N1 (là mẹ của T) rồi điều khiển xe mô tô từ nhà đi đến trường Trung học phổ thông M để đón bạn là Phạm Thị Bích L. Trên đường đi được khoảng 500 mét thì T nhớ ra là quên mang mũ bảo hiểm cho bạn, nên đã điều khiển xe quay về nhà để lấy mũ bảo hiểm. Lúc này T lưu thông trên đường H theo hướng Kon Tum đi Gia Lai ở làn đường dành cho xe thô sơ phía bên phải với tốc độ khoảng 50km/h. Khi đến km 1587+300m thuộc địa phận Thôn H, xã N, huyện C (ở lề đường bên trái có biển cảnh báo nguy hiểm giao nhau với đường không ưu tiên), T phát hiện thấy phía trước cách khoảng 20 mét có bà Nguyễn Thị T2 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 81E1-105.03 đang dừng trên làn đường dành cho xe thô sơ ở bên phải sát lề đường, đầu xe hướng chéo ra đường, bà T2 quay đầu nhìn về phía sau để quan sát và bật đèn xi nhan trái để xin qua đường. T thấy vậy thì giảm tốc độ xe còn khoảng 45km/h, bấm còi báo hiệu và điều khiển xe mô tô lưu thông qua làn đường dành cho xe cơ giới để vượt qua xe mô tô của bà T2. Cùng lúc này bà T2 điều khiển xe qua đường, khi xe mô tô do bà T2 điều khiển đã chuyển hướng sang đường được khoảng 04 mét thì xe mô tô do T điều khiển chạy tới tông trúng vào hông xe bên trái của bà T2 đang lưu thông ở làn đường dành cho xe cơ giới hướng Kon Tum đi Gia Lai, làm xe mô tô của bà T2 bị ngã ra đường và bị đẩy về phía trước khoảng 10 mét, còn xe mô tô của T thì lao sang phần đường bên trái, ngã cách vị trí va chạm khoảng 17 mét. Hậu quả làm bà T2 bị thương nặng được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Q đến ngày 22/01/2024 thì tử vong, còn Nguyễn Quang T bị thương nhẹ, hai xe mô tô bị hư hỏng nhẹ.
Sau khi xảy ra vụ việc, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã tổ chức khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi và khám phương tiện theo quy định.
Tại Bản kết luận giám định pháp y tử thi số: 165/KLGĐTT-KTHS ngày 22/02/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh G kết luận nguyên nhân chết của bà Nguyễn Thị T2 là do: Chấn thương sọ não.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 08/KL-ĐGTS ngày 11 tháng 3 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện C kết luận: Giá trị định giá của những linh kiện, phụ tùng thiết bị hư hỏng không thể khắc phục và tiền công thay thế, sửa chữa các
2
phụ tùng thiết bị của xe mô tô BKS 81B1-793.97 do va chạm giao thông là 1.690.000 đồng.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 09/KL-ĐGTS ngày 14 tháng 3 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện C kết luận: Giá trị định giá của những linh kiện, phụ tùng thiết bị hư hỏng không thể khắc phục và tiền công thay thế, sửa chữa các phụ tùng thiết bị của xe mô tô BKS 81E1-105.03 do va chạm giao thông là 2.260.000 đồng.
Quá trình khám nghiệm hiện trường, Cơ quan Cảnh sát điều tra thu giữ: Xe mô tô BKS 81B1-793.97 và xe mô tô BKS 81E1-105.03. Qua điều tra xác định chiếc xe mô tô BKS 81B1-793.97 là tài sản hợp pháp của bà Nguyễn Thị Phượng N1 (là mẹ của bị can) đã mua lại của bà Hoàng Thị Hồng H1. Còn xe mô tô BKS 81E1-105.03 là tài sản hợp pháp của gia đình bà Nguyễn Thị T2. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại các xe trên cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp và không ai có ý kiến gì đối với hư hỏng của các xe.
* Về dân sự: Sau khi xảy ra tai nạn, Nguyễn Quang T đã tác động để gia đình bồi thường xong cho gia đình bị hại số tiền 200.000.000 đồng. Nên đại diện gia đình bị hại không có yêu cầu gì thêm, đồng thời có đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho T
Tại bản cáo trạng số 27/CT-VKS ngày 30 tháng 8 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Păh – Gia Lai đã truy tố bị cáo Nguyễn Quang T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyên Chư Păh giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo. Đề nghị HĐXX:
Áp dụng điểm a khoản 2, Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54, Điều 65; Điều 91 và Điều 101 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Quang T mức án từ 24 tháng đến 30 tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 48 tháng đến 60 tháng.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố, thống nhất bản luận tội của Đại diện viện kiểm sát.
Ý kiến của Luật sư bào chữa cho bị cáo T: cho rằng khi phạm tội do bị cáo còn trong tuổi chưa thành niên nên nhận thức chưa đầy đủ, chưa hiểu hết quy tắc Luật tham gia giao thông, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường, gia đình bị hại có đơn và tại phiên tòa xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu, gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn. Bị cáo không bị tình tiết tăng nặng nào lại có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị áp dụng
3
Điều 54, 65, 91, 101 BLHS năm 2015, xử bị cáo T hình phạt dưới khung từ 18 đến 20 tháng tù và cho hưởng án treo để tạo điều kiện cho bị cáo sửa chữa lỗi lầm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo, đại diện bị hại và những người liên quan cũng không có ý kiến gì.
[2] Về hành vi của bị cáo bị truy tố:
Khoảng 10 giờ 00 phút, ngày 21/01/2024, Nguyễn Quang T điều khiển xe mô tô BKS 81B1-793.97 có dung tích xi lanh 124 cm³, khi T điều khiển xe đến Km 1587+330m đường H, thuộc thôn H, xã N, huyện C, đi từ hướng Chư Păh về P, do chủ quan không giảm tốc độ xe, khi phát hiện bà Nguyễn Thị T2 đang điều khiển xe mô tô BKS 81E1-105.03 qua đường từ bên phải sang trái theo cùng hướng lưu thông của T, khoảng cách gần, T không tránh được nên đã tông vào làm bà T2 chết, 02 xe hư hỏng.
[3] Về lời khai của bị cáo tại phiên tòa: Bị cáo thừa nhận hành vi vi phạm pháp luật như nội dung bản cáo trạng. Bị cáo T thừa nhận lỗi do bị cáo chưa có kinh nghiệm lái xe, không có Giấy phép lái xe, không làm chủ tốc độ và chủ quan nên khi phát hiện phía trước có người bị hại khoảng cách quá gần không xử lý kịp đã tông vào người bị hại.
[4] Về các chứng cứ: Kết luận giám định tử thi số: 165/KLGĐTT-KTHS ngày 22/02/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh G kết luận nguyên nhân chết của bà Nguyễn Thị T2 là : “Chấn thương sọ não”; Kết luận giám định số: 58/KL-KTHS ngày 05/03/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh K kết luận 02 tập tin Video trong 02 đĩa CD; Kết luận số: 08/KL-ĐGTS ngày 11/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện C; Biên bản khám nghiệm, sơ đồ hiện trường ngày 21/01/2024; biên bản khám nghiệm phương tiện giao thông ngày 24/01/2024; bản ảnh; lời khai nhân chứng.
[5] Về những ý kiến của Luật sư bào chữa cho bị cáo HĐXX thấy: Bị cáo còn trong tuổi chưa thành niên, còn là học sinh, nhận thức pháp luật còn hạn chế, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại; gia đình người bị hại có yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu. Bị cáo không bị tình tiết tăng nặng nào lại có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nên áp dụng Điều 54, 91, 101 BLHS năm 2015, chấp nhận cho bị cáo T hình phạt dưới khung.
[5] Từ những cơ sở, chứng cứ nêu trên có đủ căn cứ kết luận:
4
Bị cáo Nguyễn Quang T điều khiển xe mô tô có dung tích xi lanh hơn 100cm³, trong khi độ tuổi của bị cáo chưa được cấp giấy phép lái xe theo quy định, do quan chủ quan, thiếu chú ý quan sát, xử lý kém nên khi phát hiện người bị hại điều khiển xe mô tô sang đường không giảm tốc độ kịp, không xử lý tránh được dẫn đến tông vào làm chết người. Hành vi của bị cáo xâm phạm tính mạng, xâm phạm an toàn công cộng, nên bị cáo T phạm vào tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, theo quy định tại điểm a Khoản 02 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Păh truy tố bị cáo T về tội danh và điều khoản theo quy định của Bộ luật hình sự như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét tính chất vụ án: Bị cáo có đầy đủ năng lực điều khiển hành vi, đang học lớp 12, biết việc điều khiển xe mô tô dung tích xi lanh hơn 50cm³ là vi phạm pháp luật nhưng chủ quan, tự ý lấy xe trong gia đình đi, khi điều khiển xe mô tô tham gia giao thông không tập trung chú ý, quan sát, không tuân thủ quy tắc giao thông, khi phát hiện phía trước có người sang đường lẽ ra bị cáo phải giảm tốc độ để nhường đường nhưng bị cáo không tập trung chú ý, khi phát hiện không giảm tốc độ kịp, không né tránh được nên đã gây tai nạn nghiêm trọng, thiệt hại về tính mạng con người và tài sản. Xâm phạm trật tự quản lý, an toàn giao thông đường bộ. Vì vậy cần có hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo, để bị cáo có thời gian sửa chữa, ăn năn, rút ra cho mình bài học kinh nghiệm đồng thời có tác dụng phòng ngừa chung. Trong vụ án này cũng có một phần lỗi của người bị hại khi điều khiển xe sang đường không dứt khoát, ngập ngừng, quan sát phán đoán còn chủ quan.
[6] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo tác động gia đình đã bồi thường thiệt hại cho bị hại; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đại diện gia đình người bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo; gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, người bị hại cũng có một phần lỗi, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s Khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên cho bị cáo T được hưởng.
Bị cáo T có 02 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 01 Điều 51 BLHS nên áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự và khi phạm tội bị cáo dưới 18 tuổi nên được áp dụng Điều 91, Điều 101 Bộ Luật hình sự, cho bị cáo được hưởng mức hình phạt dưới khung và hưởng chế định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.
Bị cáo T lần đầu phạm tội do lỗi vô ý, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, có nhân thân tốt, xét thấy không cần phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù cách ly khỏi đời sống xã hội mà áp dụng cho bị cáo hình phạt tù cho hưởng án treo cũng đủ tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.
5
[8] Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị cáo T đã bồi thường cho gia đình của bị hại số tiền 200.000.000 đồng, đại diện gia đình bị hại không có yêu cầu gì thêm về mặt dân sự nên không xem xét.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo T là người dưới 18 tuổi phạm tội nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[9] Về xử lý vật chứng: Chiếc xe mô tô BKS 81B1-793.97 là tài sản hợp pháp của bà Nguyễn Thị Phượng N1 (là mẹ của bị can) và chiếc xe mô tô BKS 81E1-105.03 là tài sản hợp pháp của gia đình bà Nguyễn Thị T2. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại các xe trên cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp và không ai có ý kiến gì nên không xem xét.
[10] Vấn đề khác: Đối với bà Nguyễn Thị Phượng N1 là chủ sở hữu chiếc xe mô tô BKS 81B1-793.97, khi bị cáo T tự ý lấy xe đi bà N1 không biết nên không xem xét trách nhiệm về việc giao xe cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quang T phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
-Căn cứ điểm a Khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65; Điều 91 và Điều 101 Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang T 24 ( hai mươi bốn) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 48 (bốn mươi tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (27/9/2024).
Giao bị cáo Nguyễn Quang T cho UBND xã N, huyện C, tỉnh Gia Lai giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Người được hưởng án treo thực hiện nghĩa vụ theo Điều 87; Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
-Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:
Buộc bị cáo Nguyễn Quang T phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) tiền án phí Hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.
Báo cho bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, đại diện người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án hôm nay (27/9/2024) lên Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai để xin xét xử phúc thẩm.
6
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Văn Bảo |
7
Bản án số 28/2024/HS-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯ PĂH - TỈNH GIA LAI về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 28/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯ PĂH - TỈNH GIA LAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Quang Trường phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
