Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN QUẾ SƠN

TỈNH QUẢNG NAM

Bản án số: 28/2024/HS-ST

Ngày 19/9/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ SƠN, TỈNH QUẢNG NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Trương Thị Sen.

Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Nguyễn Công Tài.

Bà Nguyễn Thị Tám.

- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Hồ Thu Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: ông Trần Hoàng Vũ - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 9 năm 2024, tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Quế Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 29/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 82/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Văn Trần N, sinh năm 1992 tại thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam; nơi cư trú: thôn N, xã Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn M (đã chết) và bà Trần Thị H, sinh năm 1958; bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị Huỳnh L, sinh năm 1991 và có 01 con sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: không.

    Nhân thân:

    • Ngày 05/3/2015 bị Toà án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời gian 12 tháng tại Quyết định số 02/QĐ-TA, bị cáo chấp hành xong ngày 02/12/2015.
    • Ngày 03/3/2016 bị Công an thị xã Đ xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.000.000 đồng về hành vi “Đánh bạc trái phép” tại Quyết định số 221/QĐ-XPHC. Bị cáo chưa nộp phạt, Công an thị xã Đ không áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành Quyết định XPHC nêu trên.
    • Ngày 25/12/2017 bị Tòa án nhân dân thị xã Điện Bàn xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 79/2017/HSST, bị cáo chấp hành xong ngày 19/11/2018, đã xoá án tích.
    • Ngày 22/10/2019 bị Tòa án nhân dân thị xã Điện Bàn xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý" tại Bản án số 73/2019/HSST, bị cáo chấp hành xong ngày 18/4/2021, đã xoá án tích.

    Bị cáo bị bắt tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Q từ ngày 14/6/2024 đến nay. Có mặt.

  2. Văn Anh K, sinh năm 1981 tại huyện D, tỉnh Quảng Nam; nơi cư trú: khối phố N, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: lao động phổ thông; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Văn Công C, sinh năm 1954 và bà Huỳnh Thị H1, sinh năm 1955; bị cáo chưa có vợ con; tiền sự: không;

    Tiền án:

    ngày 25/11/2019, bị Toà án nhân dân tỉnh Quảng Nam xử phạt 22 tháng 24 ngày tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” tại Bản án số 41/2019/HS-ST. Bị cáo đã chấp hành xong án phạt tù ngày 25/11/2019; chưa chấp hành xong phần án phí hình sự sơ thẩm nên chưa được xoá án tích.

    Nhân thân:

    ngày 03/3/2016 bị Công an thị xã Đ xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc trái phép” tại Quyết định số 224/QĐ-XPHC. Bị cáo đã nộp phạt xong.

    Bị cáo bị bắt tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Q từ ngày 14/6/2024 đến nay. Có mặt.

Bị hại: anh Nguyễn Minh T, sinh năm 1986; địa chỉ: tổ dân phố H, thị trấn H, huyện Q, tỉnh Quảng Nam. Văng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • Anh Lưu Đinh H2, sinh năm 2001. Có mặt.
  • Anh Lưu Đinh H3, sinh năm 1998. Có mặt.

Cùng địa chỉ: xóm X, thôn C, xã D, huyện D, tỉnh Quảng Nam.

  • Anh Trần Huỳnh G, sinh năm 1992; địa chỉ: tổ C, khối phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.
  • Anh Tăng Văn Q, sinh năm 1990; địa chỉ: khối phố A, phường H, thành phố T, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.
  • Anh Trịnh Lương T1, sinh năm 1990; địa chỉ: thôn B, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.
  • Chị Nguyễn Thị Thu T2, sinh năm 1994; địa chỉ: tổ B, khối phố X, thị trấn N, huyện D, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ ngày 12/6/2024, bị cáo N đang ở phòng trọ của bị cáo K tại khối phố M, thị trấn N, huyện D thì điện thoại cho H2 - là bạn bè quen biết ngoài xã hội với N để mượn xe đi công việc. Sau khi liên hệ H2 và mượn được xe môtô hiệu Vario màu đỏ, biển số 92F1-595.65, N rủ K đi dạo chơi, uống cà phê, K đồng ý. K điều khiển xe môtô biển số 92F1-595.65 chở N đi dạo đến xã D, huyện D thì nói N chở. N điều khiển xe môtô chở K đi đến địa phận xã D, huyện D thì hỏi N “Chừ mình đi đâu đây em”, N nói lại “Anh cứ đi với em, không có chi phải lo”, K hỏi lại “Chừ đi mô”, N nói “Em đi kiếm chiếc xe cho họ” (tức đi trộm cắp xe máy). Nghe vậy, K hiểu ý của N đi trộm cắp xe máy nên K nói: “Em làm chi làm, anh không muốn dính líu đến mấy chuyện ni nghe”. Thấy K ngập ngừng, N nói “Anh cứ yên tâm đi, anh có liên quan chi mà sợ rứa”. Lúc này, K đồng ý đi nên không hỏi gì thêm mà tiếp tục ngồi sau để N chở đi tìm xe môtô nào sơ hở thì trộm cắp. Khi đi đến xã B, huyện T, K nói với N: “Khi nào em lấy được xe, anh chạy về luôn nghe”, N nói lại: “Anh chạy vào ngã tư K chở em về với chớ xe mô em về” (ý của bị cáo N là chạy vào ngã tư K thuộc huyện P, tỉnh Quảng Nam để tìm nơi tiêu thụ rồi bị cáo K chở N về), K đồng ý và không nói gì thêm.

Nguyên tiếp tục điều khiển xe môtô chở K đi từ xã B, huyện T đến địa bàn thị trấn H, huyện Q. Khi đi ngang qua Cơ sở thu mua phế liệu của anh Nguyễn Minh T, Nguyên phát hiện xe môtô nhãn hiệu Honda, loại Future, màu xanh, biển số 92G1-402.99 của anh T có gắn sẵn chìa khoá trên xe, để ở trước cơ sở phế liệu, bên trái theo hướng B đi Khu công nghiệp Đ. Nguyên có ý định trộm cắp chiếc xe trên nên nói với K “Có xe rồi”. Nguyên chở K đi qua vị trí để xe Future khoảng 50m rồi quay ngược lại để cả hai quan sát, rồi cả hai đi tiếp tục đi khoảng 50m và dừng xe trước Nhà nghỉ S1 (gần cơ sở phế liệu). Bị cáo N xuống xe và nói “Anh đứng ở đây, cho em mượn cái điện thoại cái”, bị cáo K đưa điện thoại di động hiệu VIVO màu trắng xanh, bên trong có gắn sim số 0905323363 của mình cho N. N đi bộ lại vị trí để chiếc xe môtô 92G1-402.99, ngồi lên xe hút thuốc và bấm điện thoại để quan sát xung quanh. Lúc này, bị cáo K ngồi trên xe môtô 92F1- 595.65 để cảnh giới và đợi N trộm cắp xe. K đứng chờ một lát rồi điều khiển xe môtô 92F1-595.65 chạy chậm chậm ra hướng đường Quốc lộ 1 chờ N. Nguyên quan sát thấy những người làm trong cơ sở thu mua phế liệu không để ý nên ngồi lên xe môtô, bật chìa khoá và điều khiển xe môtô chạy về hướng thành phố T. Khi K đang điều khiển xe chạy chậm để chờ N thì thấy N điều khiển xe môtô biển số 92G1-402.99 chạy vượt qua mình nên biết N đã trộm cắp được xe môtô. K điều khiển xe môtô chạy theo sau vào ngã tư K để chở N về như đã thống nhất từ trước.

N điều khiển xe môtô trộm cắp được đến ngã tư K dừng lại và kiểm tra bên trong cốp xe có 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe môtô số 92005265, biển số 92G1-402.99, tên chủ xe Nguyễn Minh T. Lúc này, N điện thoại cho một người tên “Khánh” (người này là Trần Huỳnh G - là bạn bè quen biết qua mạng với N trước đó), nói đến ngã tư K để mua xe. Gơ đang ngồi uống cà phê với Tăng Văn Q nên nhờ Q chở đến ngã tư K gặp N để mua xe (trước đó, G đã liên hệ và gặp N hỏi mua một chiếc xe môtô, loại xe số, có giấy tờ, khoảng 05 đến 07 triệu đồng để đi làm trên núi). Gơ đến gặp N thì N nói mới mua được xe có giấy tờ đầy đủ, N đưa giấy đăng ký xe cho G xem, G kiểm tra xe và mua xe với giá 6.000.000 đồng. Do G không đủ tiền nên nói N đưa xe và giấy đăng ký xe để G đi lấy tiền, nói Q ở lại với N để chờ. Q điều khiển xe chở N và gặp K đi dạo quanh xã T, thành phố T để chờ Gơ. Gơ điều khiển xe môtô trên đến Dịch vụ cầm đồ A S do anh Trịnh Lương T1 làm quản lý để cầm với giá 15.000.000 đồng. Sau đó, G liên hệ với Q để gặp N tại nhà một người anh của Q và đưa N số tiền 6.000.000 đồng. Sau khi nhận được tiền, K chở N về lại phòng trọ của K, N đưa cho K số tiền 500.000 đồng. Nguyên tiêu xài cá nhân hết 3.800.000 đồng, còn lại 1.700.000 đồng. Sau đó, Công an huyện Q mời bị cáo N và K đến làm việc. Quá trình làm việc, N và K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Đến ngày 22/6/2024, G đọc thông tin trên mạng biết N bị bắt về hành vi trộm xe môtô biển số 92G1-402.99 nên đến Dịch vụ cầm đồ A S lấy lại xe môtô biển số 92G1-402.99 và giao nộp cho cơ quan Công an.

Tại Kết luận định giá tài sản số 30/KL-HĐĐGTS ngày 13/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Q xác định: 01 xe môtô biển kiểm soát 92G1-402.99, nhãn hiệu Honda Future, màu xanh đen có giá trị 28.050.000 đồng; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 92G1-402.99 có giá trị 230.000 đồng. Tổng giá trị tài sản trộm cắp là 28.280.000 đồng.

Bản cáo trạng số 27/CT-VKSQS ngày 27 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Sơn đã truy tố các bị cáo Nguyễn Văn Trần N, Văn Anh K về tội "Trộm cắp tài sản" theo điểm a khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Sơn giữ nguyên cáo trạng đã truy tố và căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra, cũng như nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự 2015. Tuyên bố các bị cáo N, K phạm tội “Trộm cắp tài sản”; xử phạt bị cáo N mức án từ 30 đến 36 tháng tù, bị cáo K mức án từ 24 đến 30 tháng tù; về trách nhiệm dân sự: bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường gì thêm; về xử lý vật chứng: căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015: đề nghị Hội đồng xét xử xử lý theo quy định pháp luật.

Các bị cáo thống nhất như nội dung bản cáo trạng và bản luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa, không ai tham gia tranh luận gì thêm.

Các bị cáo nói lời sau cùng: các bị cáo nhận thức hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội đối chiếu với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án là phù hợp nên Hội đồng xét xử kết luận:

Khoảng 09 giờ ngày 12/6/2024, trên đường đi từ huyện D đến huyện Q, tỉnh Quảng Nam, bị cáo NK đã trao đổi, thống nhất ý chí cùng nhau đi tìm xe môtô để trộm cắp và cùng nhau đến khu vực ngã tư K, huyện P để cùng nhau về sau khi tiêu thụ được tài sản. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, bị cáo N điều khiển xe môtô Vario, màu đỏ, biển số 92F1-595.65 chở bị cáo K đến khu vực tổ dân phố H, thị trấn H, huyện Q, tỉnh Quảng Nam, lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu, bị cáo NK trộm cắp 01 xe môtô nhãn hiệu Future, màu xanh đen, biển số 92G1-402.99 của anh Nguyễn Minh T. Sau đó, bị cáo N bán xe môtô được 6.000.000 đồng, chia cho bị cáo K 500.000 đồng. Giá trị tài sản trộm cắp là 28.050.000 đồng. Hành vi của các bị cáo N, K đã đủ yếu tố cấu thành tội "Trộm cắp tài sản" theo điểm a khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự như nội dung bản cáo trạng và quan điểm luận tội của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3]. Xét tính chất vụ án, hành vi phạm tội của các bị cáo: quyền sở hữu tài sản của mọi công dân được pháp luật công nhận và bảo vệ. Tại thời điểm phạm tội, các bị cáo nhận thức rõ được điều đó nhưng do lười lao động, muốn có tiền tiêu xài nên các bị cáo đã lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu để trộm cắp tài sản giá trị 28.050.000 đồng. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, cần phải xử phạt các bị cáo một mức án nghiêm, tương xứng với tính chất và hành vi phạm tội của các bị cáo mới có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.

Trong vụ án, bị cáo N là người khởi xướng và trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp; bị cáo K thống nhất ý chí và làm nhiệm vụ cảnh giới để bị cáo N trộm cắp tài sản; sau khi trộm cắp được tài sản, bị cáo N tìm nơi tiêu thụ, bị cáo K đi cùng để chở bị cáo N về và được N chia 500.000 đồng. Do đó, bị cáo N có vai trò cao hơn bị cáo K, nhưng bị cáo K phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự ngang nhau.

[4]. Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì thấy: các bị cáo N, K đều có nhân thân xấu; bị cáo K còn có 01 tiền án về tội “Gây rối trật tự công cộng”, đến nay chưa được xóa án tích lại phạm tội mới nên thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, tuy nhiên cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục đối với các bị cáo.

[5]. Đối với những vấn đề liên quan trong vụ án:

  • Trần Huỳnh G là người mua xe môtô 92G1-402.99 do các bị cáo trộm cắp, khi mua xe anh G không biết đây là tài sản trộm cắp. Khi bán xe, bị cáo N nói xe này vừa mới mua lại có giấy tờ đầy đủ nên G đồng ý mua với giá 6.000.000 đồng. Sau khi mua xe, G biết thông tin đây là xe do bị cáo N trộm cắp nên đã tự giao nộp cho cơ quan Công an. Do đó không xử lý G về hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.
  • Tăng Văn Q là người được G nhờ chở đến gặp bị cáo N để mua xe, anh Q không biết xe môtô biển số 92G1-402.99 là tài sản trộm cắp mà có nên không xử lý.
  • Trịnh Lương T1 là người cầm xe môtô biển số 92G1-402.99, anh T1 không biết là tài sản trộm cắp mà có nên không xử lý.
  • Đối với Dịch vụ cầm đồ A S có hành vi nhận cầm cố tài sản thuộc sở hữu của người khác nhưng không có giấy uỷ quyền hợp lệ. Cơ quan điều tra Công an huyện Q đã có Công văn số 420/ĐTTH đề nghị Công an thành phố T tiếp tục xác minh và đề xuất xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.

[6]. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại - anh Nguyễn Minh T đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì về vấn đề dân sự; anh Trần Huỳnh G không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền mua xe nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7]. Về biện pháp tư pháp: Bị cáo N đã bán xe trộm cắp được số tiền 6.000.000 đồng, bị cáo chia cho bị cáo K 500.000 đồng, giao nộp Công an số tiền 1.700.000 đồng. Bị cáo đã tiêu xài cá nhân số tiền 3.800.000 đồng là khoản thu lợi bất chính do thực hiện hành vi trộm cắp tài sản mà có nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.

[8]. Về xử lý vật chứng:

  • Đối với 01 xe môtô nhãn hiệu Future, màu xanh đen, biển số 92G1-402.99, số khung: RLHJC7656NY324666, số máy: JC90E0307115 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 92005265, biển số 92G1-402.99, tên chủ xe Nguyễn Minh T: đây là tài sản trộm cắp, Công an huyện Q đã trả lại cho anh T là phù hợp.
  • Đối với số tiền 1.700.000 đồng thu giữ của bị cáo N và 500.000 đồng thu giữ của bị cáo K là tiền có được từ việc bán tài sản trộm cắp nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
  • Đối với 01 điện thoại di động hiệu REDMI 6 màu bạc, số Imei 1: 865904049062216; 01 điện thoại di động hiệu Nokia 105, số Imei 1: 356819638209919 và 01 điện thoại di dộng hiệu VIVO màu trắng xanh là tài sản của chị Nguyễn Thị Thu T2 cho các bị cáo N, K mượn để sử dụng, chị T2 không biết việc các bị cáo đi trộm cắp tài sản nên cần tuyên trả lại cho chị T2.
  • Đối với 01 thẻ sim số 0905323363 của bị cáo K và 02 thẻ sim số 0773946956 và 0935718066 của bị cáo N không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy;
  • Đối với 01 áo sơ mi dài tay, màu trắng và 01 quần jean dài, màu đen của bị cáo N; 01 cái áo khoác jean dài tay, màu xám và 01 quần jean lửng, màu xanh của bị cáo K. Các bị cáo không yêu cầu nhận lại và không còn giá trị sử dụng nên cân tịch thu, tiêu hủy.
  • Đối với 01 xe môtô nhãn hiệu VARIO, màu đỏ, biển số 92F1- 595.65 là tài sản của Lưu Đinh H3, anh H3 để xe ở nhà cho anh Lưu Đinh H2 sử dụng, bị cáo N mượn anh H2 chiếc xe này làm phương tiện đi lại, anh H3 và anh H2 đều không biết việc bị cáo N sử dụng xe làm phương tiện đi trộm cắp tài sản nên cần tuyên trả lại cho anh H3.

[9]. Về án phí: các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Đối với bị cáo K áp dụng thêm điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

    Tuyên bố: các bị cáo Nguyễn Văn Trần NVăn Anh K phạm tội "Trộm cắp tài sản".

    Xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn Trần N 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam (14/6/2024).

    Xử phạt: bị cáo Văn Anh K 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam (14/6/2024).

  2. Về biện pháp tư pháp: căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự tuyên:

    Tịch thu của bị cáo Nguyễn Văn Trần N số tiền 3.800.000 (ba triệu tám trăm nghìn) đồng sung ngân sách nhà nước.

  3. Về xử lý vật chứng: căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tuyên:
    • - Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 2.200.000 đồng.
    • - Trả lại cho chị Nguyễn Thị Thu T2: 01 điện thoại di động hiệu REDMI 6 màu bạc, số Imei 1: 865904049062216; 01 điện thoại di động hiệu Nokia 105, số Imei 1: 356819638209919 và 01 điện thoại di dộng hiệu VIVO màu trắng xanh.
    • - Trả lại cho anh Lưu Đinh H3: 01 xe môtô nhãn hiệu VARIO, màu đỏ, biển số 92F1- 595.65.
    • - Tịch thu, tiêu hủy:
      • + Thẻ sim số 0905323363, 0773946956 và 0935718066;
      • + 01 áo sơ mi dài tay, màu trắng; 01 quần jean dài, màu đen; 01 cái áo khoác jean dài tay, màu xám; 01 quần jean lửng, màu xanh.

    (Số tiền đang tạm gửi tại Kho bạc Nhà nước huyện Q theo ủy nhiệm chi ngày 17/9/2024. Các vật chứng đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quế Sơn theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/9/2024 ).

  4. Án phí: căn cứ các Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Quyền kháng cáo: các bị cáo và những người tham gia tố tụng có mặt quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (19/9/2024). Người tham gia tố tụng vắng mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Vụ Giám đốc kiểm tra;
  • - TAND tỉnh Quảng Nam;
  • - VKSND tỉnh Quảng Nam;
  • - VKSND huyện Quế Sơn;
  • - Chi cục THADS huyện Quế Sơn;
  • - Văn phòng Công an huyện Quế Sơn;
  • - Cơ quan CSĐT CA huyện Quế Sơn;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Nam;
  • - Bị cáo, người TGTT khác;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trương Thị Sen

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 28/2024/HS-ST ngày 19/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ SƠN, TỈNH QUẢNG NAM về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 28/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ SƠN, TỈNH QUẢNG NAM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Trần V cùng đồng bọn phạm tội "Trộm cắp tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger