|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGÂN SƠN TỈNH BẮC KẠN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 28/2024/HS-ST
Ngày: 15-8-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGÂN SƠN, TỈNH BẮC KẠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Út Lệ
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Ngọc Hùng
Bà Đồng Khánh Hòa
- Thư ký phiên tòa: Bà La Quỳnh Anh - Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngân Sơn tham gia phiên tòa: Ông Triệu Văn Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 8 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn kết nối với điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh B, Tòa án nhân dân huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 20/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Hoàng Thị T (Tên gọi khác: Không có), sinh ngày 29 tháng 9 năm 1980 tại huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Nơi ĐKHKTT: Thôn N, xã L, huyện N, tỉnh Bắc Kạn. Nơi ở: Thôn P, xã B, huyện N, tỉnh Bắc Kạn. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 01/10; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Hoàng Văn T1, sinh năm 1953 và bà Lộc Thị P, sinh năm 1954; Bị cáo có chồng là Hoàng Văn H, sinh năm 1979 và có 01 con, sinh năm 2017. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/4/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Có mặt tại điểm cầu thành phần.
Người chứng kiến:
- - Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1973
- - Ông Hoàng Văn H1, sinh năm 1992
Cùng có địa chỉ: Thôn P, xã B, huyện N, tỉnh Bắc Kạn (Vắng mặt).
- Người tham gia tố tụng khác: Ông Trần Văn M - Cán bộ Nhà tạm giữ Công an huyện N, tỉnh Bắc Kạn hỗ trợ phiên tòa tại điểm cầu thành phần (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 15 giờ 30 phút ngày 23/4/2024 tại khu phòng cho thuê trọ của bà Nguyễn Thị N thuộc thôn P, xã B, huyện N, tỉnh Bắc Kạn, tổ công tác Công an huyện N phát hiện và lập biên bản đối với Hoàng Thị T, sinh năm 1980, nơi thường trú: Thôn N, xã L, huyện N, tỉnh Bắc Kạn, chỗ ở hiện nay: Thôn P, xã B, huyện N, tỉnh Bắc Kạn (T đang thuê trọ tại phòng trọ thứ nhất, bên trái từ ngoài đường nhìn vào của bà N) đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tang vật thu giữ: 01 (một) gói bằng giấy màu đỏ-trắng-vàng, bên trong có 03 (ba) gói nhỏ chất bột màu trắng, mỗi gói được gói bằng một lớp giấy mặt ngoài màu vàng, mặt trong màu trắng tại trong đệm trải trên giường ngủ của T (do T tự nguyện giao nộp) (niêm phong trong phong bì ký hiệu T1). Tạm giữ: 01 (một) điện thoại di động và số tiền 1.480.000 đồng của Hoàng Thị T.
Hồi 17 giờ 55 phút cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N tiến hành khám xét khẩn cấp người, chỗ ở, đồ vật và tài sản liên quan đối với Hoàng Thị T tại thôn P, xã B, huyện N, tỉnh Bắc Kạn. Kết quả: Không thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu gì.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã tiến hành mở niêm phong cân xác định khối lượng và thử phản ứng phát hiện chất ma túy đối với gói ma túy thu giữ khi bắt quả tang Hoàng Thị T, sau đó đã tiến hành niêm phong lại toàn bộ số ma túy trong phong bì ký hiệu B1 để gửi trưng cầu giám định. Tại bản Kết luận giám định số 143/KL-KTHS ngày 26/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Mẫu chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu B1 gửi giám định là ma túy; loại Heroine (H), có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất. Mẫu chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu B1 gửi giám định có khối lượng là: 0,23g (không phẩy hai ba gam).
Quá trình điều tra, truy tố, Hoàng Thị T khai nhận: Số ma túy mà Cơ quan Công an thu giữ ngày 23/4/2024 là của T, do T mua về để sử dụng cho bản thân, cụ thể: Do bản thân sử dụng ma túy nên vào khoảng 12 giờ ngày 21/4/2024, T một mình đón xe ô tô khách từ phòng trọ xuống khu vực trung tâm thôn P, xã B, huyện N để tìm mua ma túy. Khi đến đoạn gần nhà họp thôn P, T mua được 01 (một) gói ma túy được gói bằng một lớp giấy một mặt màu vàng, một mặt màu trắng với một người đàn ông không biết tên tuổi, địa chỉ với số tiền 400.000 đồng, sau đó, T đi xe ô tô khách về lại phòng trọ. Số ma túy mua được, T đã sử dụng một phần, phần còn lại Thân chia thành 03 gói nhỏ, gói bằng loại giấy một mặt màu vàng, một mặt màu trắng và gói cả 03 gói trong một lớp giấy có màu đỏ-trắng-vàng cất giấu vào trong đệm trải trên giường ngủ của T. Đến khoảng 15 giờ 30 phút ngày 23/4/2024, khi bị cơ quan công an đến kiểm tra hành chính, T đã tự nguyện giao nộp số ma túy trên.
Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1973 và anh Hoàng Văn H1, sinh năm 1992, cùng trú tại thôn P, xã B, huyện N, tỉnh Bắc Kạn xác nhận: Ngày 23/4/2024 bản thân được chứng kiến việc Cơ quan Công an kiểm tra, lập biên bản về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy đối với Hoàng Thị T.
Tại bản cáo trạng số 22/CT-VKSNS, ngày 02 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngân Sơn đã truy tố bị cáo Hoàng Thị T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngân Sơn giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hoàng Thị T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị xử lý bị cáo như sau:
* Về trách nhiệm hình sự:
- - Về hình phạt chính: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo từ 01 năm tù đến 01 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 23/4/2024.
- - Hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng đối với bị cáo.
* Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 của BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): Tịch thu tiêu hủy: Số ma túy (H) hoàn lại sau khi giám định, giấy gói cũ, phong bì niêm phong cũ có trong các phong bì niêm phong ký hiệu T87, B2, B3; Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo và số tiền 1.480.000 đồng tạm giữ của bị cáo có trong các phong bì ký hiệu T2, B4.
* Về án phí: Đề nghị miễn án phí cho bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo có bản bào chữa nhất trí với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngân Sơn về tội danh, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, xử lý vật chứng. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử phạt bị cáo mức thấp nhất trong khung hình phạt. Hình phạt bổ sung: Không áp dụng. Về án phí: Miễn toàn bộ án phí cho bị cáo.
Bị cáo khai nhận hành vi của mình đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngân Sơn đã truy tố và nhất trí với quan điểm luận tội của Kiểm sát viên, bản bào chữa của người bào chữa. Bị cáo không có ý kiến tranh luận, bào chữa hay khiếu nại gì. Lời sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngân Sơn, Kiểm sát viên, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định của pháp luật.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo
Tại phiên tòa, bị cáo Hoàng Thị T khai nhận: Do nghiện ma túy nên ngày 23/4/2024, bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép 03 (ba) gói nhỏ ma túy (heroine) có tổng khối lượng 0,23g (không phẩy hai ba gam) tại phòng trọ của mình thuộc thôn P, xã B, huyện N, tỉnh Bắc Kạn mục đích sử dụng cho bản thân và đã bị tổ công tác Công an huyện N phát hiện lập biên bản, tiến hành thu giữ toàn bộ tang vật.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản sự việc lập hồi 15 giờ 30 phút, ngày 23/4/2024; Biên bản khám xét lập hồi 17 giờ 55 phút ngày 23/4/2024; Biên bản mở đóng niêm phong, cân xác định khối lượng chất bột màu trắng nghi là chất ma túy và gửi mẫu giám định ngày 23/4/2024, phù hợp với Kết luận giám định số 143/KL-KTHS ngày 26/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh B, phù hợp với các biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung đối với bị can và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Qua tranh luận tại phiên tòa không có mâu thuẫn, không làm phát sinh tình tiết, chứng cứ mới.
Vì vậy, có đầy đủ cơ sở kết luận hành vi của Hoàng Thị T đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Điều luật có nội dung:
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) Heroine........ có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”
[3] Xét về tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm
Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc mua, tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng do ý thức coi thường pháp luật, không chịu tu dưỡng đạo đức, lối sống, bị cáo đã nghiện ma túy và đã cố ý thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 0,23g (không phẩy hai ba gam) ma túy (Heroine).
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến sự độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, gây mất trật tự trị an xã hội, tiếp tay cho các đối tượng hám lời có cơ hội lưu thông, buôn bán ma túy, là nguyên nhân làm lây lan, phát sinh nhiều tệ nạn nguy hiểm xã hội và các hành vi vi phạm pháp luật khác. Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngân Sơn quyết định truy tố bị cáo trước Tòa án để xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là đúng quy định của pháp luật, đúng với diễn biến khách quan của vụ án, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội.
[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự.
Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân. Do vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Từ những nhận định trên, căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần thiết cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Đề nghị mức hình phạt của Kiểm sát viên là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Người bào chữa tại phiên tòa đã đưa ra được những chứng cứ chứng minh về các tình tiết giảm nhẹ và các chứng cứ khác nhằm giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, xét thấy bản bào chữa của người bào chữa có căn cứ và cơ sở pháp luật, do vậy cần chấp nhận.
[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy, không có việc làm, thu nhập ổn định. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét áp dụng.
[6] Về xử lý vật chứng trong vụ án:
Số ma túy (Heroine) hoàn lại sau khi giám định, giấy gói cũ và phong bì niêm phong cũ là vật cấm lưu hành và vật không có giá trị nên cần tịch thu tiêu huỷ.
Đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vivo và số tiền 1.480.000 đồng bị tạm giữ là tài sản của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội, bị cáo có đề nghị lấy lại. Xét cần trả lại cho bị cáo.
[7] Các vấn đề liên quan trong vụ án:
Đối với người đàn ông không rõ họ, tên, địa chỉ là người bị cáo khai đã bán ma túy cho bị cáo vào ngày 21/4/2024, quá trình điều tra không xác định được nhân thân, địa chỉ cụ thể của người này nên Cơ quan điều tra không đủ cơ sở làm rõ, xử lý.
Đối với bà Nguyễn Thị N, người cho bị cáo thuê trọ, quá trình điều tra xác định bà N không biết việc bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy nên Cơ quan điều tra không xem xét, xử lý.
[8] Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, thuộc hộ nghèo, cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí. Do vậy bị cáo được miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Tuyên bố bị cáo Hoàng Thị T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm c, khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017)
Xử phạt bị cáo 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 23/4/2024
-
Về xử lý vật chứng trong vụ án: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017), Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
2.1. Tịch thu tiêu hủy:
- - 01 (một) phong bì niêm phong bên trong có mẫu vật hoàn trả và phong bì niêm phong cũ, ký hiệu T87.
- - 01 (một) phong bì niêm phong bên trong có giấy gói cũ và phong bì niêm phong cũ thu giữ của Hoàng Thị T ngày 23/4/2024, ký hiệu B2.
- - 01 (một) phong bì niêm phong bên trong có phong bì niêm phong cũ, ký hiệu B3.
2.2. Trả lại cho bị cáo Hoàng Thị T:
- - 01 điện thoại di động tạm giữ ngày 23/4/2024 có trong 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T2.
- - Số tiền 1.480.000 đồng đã được kiểm tra có trong 01 (một) phong bì niêm phong, ký hiệu B4.
(Tình trạng, số lượng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 09/7/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ngân Sơn).
-
Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/UBTVQH, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.
- Quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn mười năm ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Hoàng Út Lệ |
Bản án số 28/2024/HS-ST ngày 15/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGÂN SƠN, TỈNH BẮC KẠN về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 28/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGÂN SƠN, TỈNH BẮC KẠN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
