TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ CÁT TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 28/2024/HS-ST Ngày: 12/7/2024. |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ CÁT, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Lê Lân.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Thanh Long.
Bà Nguyễn Thị Dung.
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Đặng Hải Yến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Ông Lê Đức Anh – Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 09/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2024/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 5 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 10/2024/HSST- QĐ ngày 11/6/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 14/2024/HSST-QĐ ngày 02/7/2024 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Ngọc S, tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 05/10/1991 tại: Q, Bình Định; Nơi cư trú: khu phố B, phường Đ, thành phố Q, tỉnh Bình Định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Con ông: Nguyễn Ngọc X, sinh năm: 1967 và bà Trần Thị M, sinh năm: 1967; Vợ: Nguyễn Thanh Trương Q, sinh năm: 1994 (Đã ly hôn), sống chung như vợ chồng với Huỳnh Thị P từ năm 2021 chưa đăng ký kết hôn; Con: 03 người, lớn nhất sinh năm: 2015, nhỏ nhất sinh năm 2023; Tiền sự: không;
Tiền án: 01 tiền án: Ngày 26/8/2021, bị Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xử phạt 09 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo bản án số: 128/2021/HS-ST ngày 26/8/2021. Đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 20/02/2022.
Nhân thân: Ngày 10/7/2024, bị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xử phạt 09 năm tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bản án chưa có hiệu lực pháp luật.
Bị cáo bị tạm giam trong 01 vụ án khác tại Trại tạm giam Công an tỉnh B.
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)
2. Trần Đình H, tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 02/3/1982 tại: P, Bình Định; Nơi cư trú: Thôn V, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 07/12; Con ông: Trần Vĩnh L, sinh năm; 1954 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm: 1950; Vợ: Phùng Thị T1, sinh năm: 1984; Con: 02 người, lớn nhất sinh năm: 2004, nhỏ nhất sinh năm: 2011; Tiền sự: không;
Tiền án: 01 tiền án: Ngày 15/7/2020, bị Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Không tố giác tội phạm” theo bản án số: 176/2020/HS-PT ngày 15/7/2020. Đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 03/9/2021.
Nhân thân: Ngày 12/6/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định xử phạt tù 03 tháng 06 ngày về tội “Đánh bạc” theo bản án số: 36/2015/HS-ST ngày 12/6/2015. Đã chấp hành xong.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 23/11/2023 tại Nhà tạm giữ Công an huyện P cho đến nay.
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)
3. Nguyễn Thế P1, tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 16/3/1993 tại: P, Bình Định; Nơi cư trú: Thôn L, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/12; Con ông: Nguyễn Thanh H1, sinh năm: 1963 và bà Lê Thị H2, sinh năm; 1967; Vợ: Trần Bích P2, sinh năm: 1994 (đã ly hôn); Con: 01 người, sinh năm: 2016 (chết); Tiền án, tiền sự: không;
Nhân thân: Ngày: 15/3/2012 bị Tòa án nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định xử phạt 04 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản” theo bản án số: 16/2012/HS-ST ngày 15/3/2012. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/3/2012.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/8/2023 tại Nhà tạm giữ Công an huyện P cho đến nay.
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
* Người làm chứng:
- Anh Võ Xuân H3, sinh năm: 2003; (vắng mặt)
Nơi cư trú: Thôn V, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định. - Anh Mai Xuân T2, sinh năm: 1997; (vắng mặt)
Nơi cư trú: Thôn M, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định. - Anh Võ Thành L1, sinh năm: 1995; (vắng mặt)
Nơi cư trú: Thôn K, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định.
- Anh Phan Trường M1, sinh năm: 1996; (vắng mặt)
Nơi cư trú: Thôn P, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định. - Anh Phan Đình Đ, sinh năm: 1997; (vắng mặt)
Nơi cư trú: Khu phố P, thị trấn C, huyện P, tỉnh Bình Định. - Anh Dương Minh T3, sinh năm: 2002; (vắng mặt)
Nơi cư trú: Khu phố P, thị trấn C, huyện P, tỉnh Bình Định. - Anh Nguyễn Văn T4, sinh năm: 1996; (vắng mặt)
Nơi cư trú: Khu phố P, thị trấn C, huyện P, tỉnh Bình Định. - Anh Trần T5, sinh năm: 1987; (vắng mặt)
Nơi cư trú: Khu phố C, thị trấn C, huyện P, tỉnh Bình Định. - Anh Lê Thanh H4, sinh năm: 1993; (vắng mặt)
Nơi cư trú: Thôn K, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định. - Anh Nguyễn Đăng T6, sinh năm: 2001; (vắng mặt)
Nơi cư trú: Thôn Đ, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định. - Anh Nguyễn Thành S1, sinh năm: 1982; (vắng mặt)
Nơi cư trú: Thôn T, xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định. - Anh Lê Văn H5, sinh năm: 1990; (vắng mặt)
Nơi cư trú: Khu phố C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Bình Định.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Đình H (sinh năm: 1982 ở thôn V, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định) và Nguyễn Thế P1 (sinh năm: 1993 ở thôn L, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định) có mối quan hệ xã hội thân thiết. Do P1 không có công việc ổn định và nghiện ma túy đá (methamphetamine) nên P1 liên hệ H để nhờ giúp đỡ. H nói với P1, H biết người bán ma túy Methamphetamine (gọi tắt là ma túy đá) nên H sẽ mua ma túy rồi đưa cho P1 vừa bán vừa sử dụng, sau khi bán được ma túy, P1 trả tiền mua ma túy lại cho H sau. P1 đồng ý.
Sau đó, Trần Đình H liên hệ với Nguyễn Ngọc S (sinh năm 1992, ở khu phố B, phường Đ, TP ., tỉnh Bình Định) để đặt mua ma túy đá; S đồng ý nên liên hệ với Trần Quang P3 (sinh năm 1998, ở khu V, phường N, TP ., Bình Định (tên thường gọi là T7), đã chết do tai nạn giao thông ngày 26/8/2023) để bán ma túy cho H thì P3 đồng ý. Giữa S và P3, thỏa thuận giá “01 hộp 10” ma túy đá là 7.500.000 đồng, “01 hộp 5” giá 4.000.000 đồng. Sau đó, S thông báo lại cho H, giá “01 hộp 10” ma túy đá là 8.500.000 đồng, “01 hộp 5” giá 4.500.000 đồng,
“nửa hộp năm” là 2.000.000 đồng; H đồng ý mua. H thông báo lại cho P1 biết giá “01 hộp 10” ma túy đá là 9.000.000 đồng, “01 hộp năm” giá 4.800.000 đồng, “nửa hộp năm” giá 2.100.000 đồng. P1 đồng ý.
Sau khi các bên đã thỏa thuận giá cả của ma túy đá, thì trong khoảng thời gian từ 07/7/2023 đến ngày 01/8/2023, Trần Đình H sử dụng tài khoản Zalo “Trần Đình H” liên hệ đến Zalo “Thiên Bình” của Nguyễn Ngọc S, đặt mua ma túy đá. H sử dụng tài khoản Ngân hàng I, tài khoản 9796709049 V và tài khoản khác, chuyển tiền mua ma túy đá cho S qua tài khoản Ngân hàng V của S. Cụ thể:
Lần 01: khoảng 14 giờ ngày 07/7/2023, Trần Đình H nhắn tin Zalo cho Nguyễn Ngọc S đặt mua “01 hộp 5” ma túy đá và bảo Nguyễn Đức T8 (sinh năm 2001, ở thôn H, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định) chuyển vào tài khoản của S số tiền 5.000.000 đồng (Tại chuyển tiền để trả nợ cho H, không biết chuyển tiền để mua ma túy). Sau khi nhận được tiền, S nói Trần Quang P3 liên hệ và giao ma túy cho H; P3 gọi bảo H đến ngã ba giao nhau giữa đường QL19 và đường Đ, TP ma túy đá đã được để sẵn trong cọc bê tông chứa rác; H đến địa điểm chỉ định, tự lấy ma túy mang về.
Lần 02: khoảng 14 giờ 50 phút ngày 11/7/2023, Trần Đình H nhắn tin Zalo cho Nguyễn Ngọc S, đặt mua “nửa hộp 5” ma túy đá nhưng S hết ma túy nên đồng ý cho H “10 số” để dùng tạm, H đồng ý và S nói với P3 liên hệ với H để lấy số ma túy trên. Đến tối cùng ngày, S thông báo cho H đã có ma túy rồi và nói Trần Quang P3 đem “nửa hộp 5” ma túy đá đến ngã ba giao nhau giữa đường QL19 và đường Đ, TP . giao trực tiếp cho H với giá 2.000.000 đồng.
Lần 03: khoảng 12 giờ 20 phút ngày 13/7/2023, Trần Đình H nhắn tin Zalo cho Nguyễn Ngọc S mua “01 hộp 10” ma túy đá và chuyển khoản cho S 5.500.000 đồng (trước đó ngày 09/7/2023 H đã chuyển khoản cho S 3.000.000 đồng) nên nói đã chuyển đủ cho S 8.500.000 đồng, giờ vô lấy ma túy; S đồng ý và nói P3 đem ma túy đá đến ngã ba giao nhau giữa đường QL19 và đường Đ, TP . giao trực tiếp cho H.
Lần 04: khoảng 19 giờ 50 phút ngày 14/7/2023, Trần Đình H nhắn tin Zalo cho Nguyễn Ngọc S mua “01 hộp 10” ma túy đá và bảo S giao ma túy cho H rồi H chuyển khoản cho S 8.500.000 đồng. Nhận được tiền, S nói P3 đem ma túy đá đến cầu Ô, huyện T giao trực tiếp cho H.
Lần 05: khoảng 11 giờ ngày 18/7/2023, Trần Đình H chuyển khoản cho Nguyễn Ngọc S 8.000.000 đồng (trước đó H đã chuyển thừa cho S 500.000 đồng vào ngày 07/7/2023) mua “01 hộp 10” ma túy đá. Sau đó, H nói Nguyễn Thế P1 đến ngã ba giao nhau giữa đường QL19 và đường Đ, TP . lấy ma túy để sẵn trong cọc bê tông nhưng khi đến nơi, P1 thấy không có ma túy nên điện cho H biết; H điện hỏi S: sao chưa đem ma túy đến; S nói: P3 đang đem đến. Sau đó, P3 giao ma túy cho P1 mang về. Đến 22 giờ 45 phút cùng ngày, H nhắn tin cho S biết: giờ chuyển tiền trước để mua “01 hộp 10" ma túy đá, hôm sau lấy; S đồng ý nên H chuyển 8.500.000 đồng cho S. Đến khoảng 14 giờ ngày
19/7/2023, H gọi điện cho S: giờ vô lấy “01 hộp 10” ma túy đá, đã chuyển tiền hôm qua. Sau đó, P3 giao trực tiếp “01 hộp 10” ma túy đá cho H tại ngã ba giao nhau giữa đường QL19 và đường Đ, TP ..
Lần 06: khoảng 21 giờ 25 phút ngày 19/7/2023, Trần Đình H chuyển khoản cho Nguyễn Ngọc S 8.500.000 đồng mua “01 hộp 10” ma túy đá; đến khoảng 10 giờ 40 phút ngày 20/7/2023, S nhắn tin cho H: có ma túy rồi, lấy bao nhiêu số; H gọi Zalo cho S, nói lấy “01 hộp 10”, tiền đã chuyển trước đó cho S; S đồng ý và trực tiếp mang ma túy đến gần vòng xoay cầu B, huyện T giao cho H.
Lần 07: khoảng 14 giờ 45 phút ngày 24/7/2023, Trần Đình H gọi Z cho Nguyễn Ngọc S mua “01 hộp 10" ma túy đá, nhưng chưa có tiền; S đồng ý bán nợ và nói P3 mang “01 hộp 10” ma túy đá đến ngã ba giao nhau giữa đường QL19 và đường Đ, TP . giao trực tiếp cho H. Đến khoảng 21 giờ 45 phút cùng ngày, H chuyển khoản cho S 8.500.000 đồng.
Lần 08: khoảng 15 giờ 15 phút ngày 26/7/2023, Trần Đình H gọi Z cho Nguyễn Ngọc S mua “02 hộp 10” ma túy đá với giá 17.000.000 đồng; H chuyển trước cho S 10.000.000 đồng; S đồng ý và nói P3 mang “02 hộp 10” ma túy đá đến ngã ba giao nhau giữa đường QL19 và đường Đ, TP . giao cho H. Khi nhận ma túy, H đưa P3 6.000.000 đồng tiền mặt và chuyển khoản tiếp cho S 1.000.000 đồng.
Lần 09: khoảng 15 giờ ngày 01/8/2023, Trần Đình H nhắn tin cho Nguyễn Ngọc S mua ma túy nhưng S không trả lời. Đến khoảng 17 giờ 50 phút cùng ngày, S gọi điện Z cho H nói chuyện, H hỏi mua “01 hộp 5” ma túy đá; S đồng ý và nhắn tin cho H: để ma túy ở đâu đó H đến lấy, chứ nay tình hình căng, không dám giao trực tiếp. H đồng ý và chuyển khoản cho S 4.500.000 đồng và 11.500.000 đồng tiền H mượn S trước đó. S nhận được tiền và nhắn tin cho H biết: P3 đang cầm ma túy đi giao có gì P3 gọi điện cho H biết chỗ để ma túy. Sau đó, P3 điện thoại cho H nói: ma túy để ở chân cầu B (đoạn đường tránh thuộc thị xã A) để H đến lấy. Lúc này, Nguyễn Đức T8 hỏi mua của H “nửa hộp 5” ma túy đá để sử dụng, do H không có xe nên bảo Tại đến chân cầu B lấy “01 hộp 5” ma túy đá đã để sẵn về giúp H (Tại không biết H nhờ lấy ma túy về bán cho người khác). Sáng ngày 02/8/2023, Tại chuyển khoản cho H 2.500.000 đồng tiền mua “nửa hộp 5” ma túy đá còn “nửa hộp 5” H nói Tại đem đến trước chùa G để bên mép đường rồi đi về, có người đến lấy. Sau đó, H bảo P1 đến lấy số ma túy này.
Như vậy, trong khoảng thời gian từ tháng 7/2023 đến 01/8/2023, Nguyễn Ngọc S và Trần Quang P3 đã bán cho Trần Đức H6: “08 hộp 10”, “02 hộp 5”, “nửa hộp 5” ma túy đá, với tổng số tiền 79.000.000 đồng. Nguyễn Ngọc S thu lợi bất chính với tổng số tiền 9.000.000 đồng (S thu lợi “01 hộp 10” ma túy đá là 1.000.000 đồng; “01 hộp 5” là 500.000 đồng).
Toàn bộ số ma túy đá đã mua này, Trần Đình H bán cho Nguyễn Đức T8 “nửa hộp 5” với giá 2.500.000 đồng, thu lợi bất chính 100.000 đồng; còn lại bán
cho Nguyễn Thế P1: “08 hộp 10”, “01 hộp 5”, 2 lần “nửa hộp 5” với tổng số tiền 81.000.000 đồng, thu lợi bất chính tổng số tiền 4.600.000 đồng. (H thu lợi “01 hộp 10” ma túy đá là 500.000 đồng; “01 hộp 5” là 300.000 đồng; “nửa hộp 5” là 100.000 đồng).
Sau khi nhận được ma túy đá từ Trần Đình H, Nguyễn Thế P1 vừa sử dụng một mình hoặc có lúc sử dụng cùng H và chia nhỏ các gói ma túy bán cho rất nhiều người, nhiều lần thu lợi bất chính tổng số tiền 9.100.000 đồng (trong đó P1 bán “01 hộp 10” thu lợi 1.000.000 đồng; “01 hộp 5” thu lợi 500.000 đồng; “nửa hộp 5” thu lợi 300.000 đồng). Do bán trong thời gian dài, cho nhiều người, ở nhiều địa phương khác nhau nên P1 không nhớ hết tên những người mua chỉ nhớ bán cho một số trường hợp. Cụ thể:
- Khoảng tháng 7/2023 (không nhớ ngày cụ thể), bán cho Võ Xuân H3 - sinh năm 2003 ở thôn V, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định 02 lần ma túy đá, mỗi lần với giá 300.000 đồng;
- Ngày 31/7 và 02/8/2023, bán cho Mai Xuân T2 - sinh năm 1997 ở thôn M, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định “01 cái 3” ma túy đá với giá 300.000 đồng; “01 cái 3” với giá 200.000 đồng;
- Đầu tháng 7/2023 và 03/8/2023, bán cho Võ Thành L1 - sinh năm 1995 ở thôn K, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định 02 lần ma túy đá, mỗi lần là “01 cái 3” với giá mỗi lần 300.000 đồng;
- Ngày 03/7/2023, giữa tháng 7/2023, ngày 21/7/2023 và ngày 22/7/2023, bán cho Phan Trường M1 - sinh năm 1996 ở thôn P, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định 04 lần ma túy đá, gồm: “01 cái 5” giá 480.000 đồng; “01 cái 5” và “01 cái 3” giá 800.000 đồng; “02 cái 5” giá 900.000 đồng; “01 cái 5” giá 400.000 đồng;
- Ngày 22/7/2023, bán cho Phan Đình Đ - sinh năm 1997 ở khu phố P, thị trấn C, huyện P, tỉnh Bình Định 02 lần ma túy đá; 01 lần giá 500.000 đồng, 01 lần giá 300.000 đồng;
- Đầu tháng 7/2023 và ngày 28/7/2023, bán cho Dương Minh T3 - sinh năm 2002 ở khu phố P, thị trấn C, huyện P, tỉnh Bình Định 02 lần ma túy đá; mỗi lần “01 cái 3” với giá 300.000 đồng;
- Ngày 15/7, 16/7, 23/7, 27/7, 28/7 và 29/7/2023, bán cho Nguyễn Văn T4 - sinh năm 1996 ở khu phố P, thị trấn C, huyện P, tỉnh Bình Định 08 lần ma túy đá, gồm: 01 lần, giá 600.000 đồng; 05 lần, giá 300.000 đồng/lần; 01 lần 200.000 đồng; 01 lần, giá 294.000 đồng (do tài khoản T4 không đủ 300.000 đồng);
- Ngày 27/7 và ngày 02/8/2023, bán cho Trần T5 - sinh năm 1987 ở khu phố C, thị trấn C, huyện P, tỉnh Bình Định 02 lần ma túy đá, với giá 300.000 đồng và 200.000 đồng;
- Ngày 19/7 và ngày 01/8/2023, bán cho Nguyễn Đăng T6 - sinh năm 2001 ở thôn Đ, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định 02 lần ma túy đá, mỗi lần “01 cái 3” với giá 300.000 đồng;
Ngoài ra, Trần Đình H còn điện thoại bảo Nguyễn Thế P1 bán ma túy đá cho bạn của H. Cụ thể:
- Ngày 19/7/2023, bán cho Nguyễn Thành S1 - sinh năm 1982 ở thôn T, xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định, số ma túy giá 1.400.000 đồng;
- Ngày 01/8/2023, bán cho Lê Văn H5 - sinh năm 1990 ở khu phố C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Bình Định, “01 hộp 5” ma túy đá giá 2.500.000 đồng, nhưng P1 chỉ lấy 2.400.000 đồng (vì H5 xin 100.000 đồng do ở xa);
- Ngày 02/8/2023, bán cho 01 người ở huyện P (không rõ họ tên), “nửa hộp 5” ma túy đá, giá 2.500.000 đồng (đây là số ma túy P1 lấy tại chùa G);
- Khoảng 9 giờ 30 phút ngày 03/8/2023, Nguyễn Thế P1 điều khiển xe mô tô 77E1-622.32 cầm 02 gói ma túy đá chứa trong 02 gói nilon, kích thước (2,7x01)cm và (2,1x01)cm có tổng khối lượng 0,2518 gam, đi bán cho 01 người tên S2 thì bị Tổ công tác của Công an huyện P phát hiện tại đường bê tông thôn L, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định và bắt quả tang.
Ngoài ra Nguyễn Thế P1 khai còn bán cho Nguyễn Bá H7 ở xã C, huyện P, tỉnh Bình Định; Phạm Ngọc L2 ở xã C, huyện P, tỉnh Bình Định; Nguyễn Thanh L3 ở thị trấn N, huyện P, tỉnh Bình Định; Nguyễn Văn T9 ở xã C, huyện P, tỉnh Bình Định. Nhưng qua xác minh các đối tượng này không có mặt ở địa phương nên cơ quan CSĐT Công an huyện P chưa làm việc được.
Ngay sau đó Cơ quan Cảnh sát điều tra (CSĐT) Công an huyện P tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Thế P1 thì lúc này còn có Trần Đình H. Trong quá trình khám xét, Nguyễn Thế P1 tự nguyện giao nộp các gói ma túy đá trong phòng ngủ của P1 nên cơ quan CSĐT đã tiến hành thu giữ:
- 23 gói nilon có cùng kích thước (2x1)cm được hàn kín 2 đầu và 01 gói nilon có kích thước (2x2)cm, hàn kín 02 đầu, bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng, được cất giấu trên đầu tủ đứng;
- 01 gói nilon có kích thước (3x1)cm được hàn kín 2 đầu, bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng, được cất giấu trong ví da, để trong ngăn tủ quần áo trong phòng;
- 01 gói nilon có kích thước (4x1)cm, bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng, để trên 01 loa màu đen, để trên nền phòng;
- 01 kéo bằng kim loại, kích thước (10x4,5)cm;
- 01 kéo bằng kim loại, kích thước (17,4x6,5)cm;
- 01 panh kẹp bằng kim loại, kích thước (17,4x0,2)cm;
- 05 ống hút nhựa màu trắng, có cùng đường kính 1,2cm; ống dài nhất 21cm; ống ngắn nhất 18cm, đều vát nhọn 01 đầu
- 04 ống hút nhựa màu trắng, có cùng đường kính 0,6cm. Trong đó 03 ống dài nhất 21cm; 01 ống dài 16,5cm, đều vát nhọn 01 đầu;
- 01 bình gas Namilux, kích thước (18,4x6,8)cm;
- 01 cân điện tử, kích thước (6,1x1,5x3,4)cm;
Cơ quan CSĐT Công an huyện P đã ra Quyết định trưng cầu Phòng K Công an tỉnh B giám định đối với các mẫu vật nghi là ma túy được thu giữ tại hiện trường.
Tại bản Kết luận giám định số: 356/KL-KTHS ngày 05 tháng 8 năm 2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:
- Các hạt tinh thể màu trắng (ký hiệu A1) đựng bên trong 02 gói nilon, kích thước (2,7x01)cm, (2,1x 01)cm, gửi giám định đều là ma túy, có tổng khối lượng 0,2518 gam là (loại) Methamphetamine;
- Các hạt tinh thể màu trắng (ký hiệu A2) đựng bên trong 23 gói nilon, có cùng kích thước (2x1)cm và 01 gói nilon, kích thước (2x2)cm, gửi giám định, đều là ma túy, có tổng khối lượng 2,7799 gam là (loại) Methamphetamine;
- Các hạt tinh thể màu trắng (ký hiệu A3) đựng bên trong 01 gói nilon, có kích thước (4x1)cm và 01 gói nilon, kích thước (3x1)cm, gửi giám định, đều là ma túy, có tổng khối lượng 0,3942 gam là (loại) Methamphetamine.
* Khám xét nơi ở của Trần Đình H, Cơ quan CSĐT không phát hiện các đồ vật, tài liệu gì liên quan đến ma túy.
* Kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể:
Trần Đình H và Nguyễn Thế P1 đều dương tính với ma túy loại Methamphetamine.
Không những bán ma túy mà Nguyễn Thế P1 còn sử dụng ma túy nên P1 cất giấu 01 gói ma túy đá, kích thước (2x1)cm và 01 gói ma túy đá, kích thước (3x1)cm, có tổng khối lượng 0,3942 gam để sử dụng thì bị phát hiện, thu giữ.
Hiện Cơ quan CSĐT Công an huyện P tạm giữ và chuyển giao Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phù Cát bảo quản gồm:
- Vỏ, bao bì đựng mẫu vật; 0,2106 gam mẫu A1; 2,6486 gam mẫu A2; 0,3266 gam mẫu A3 còn lại sau giám định (được niêm phong trong 01 bì thư có kích thước (26x18,5)cm dán kín niêm phong: dấu tròn: “Phòng K- Công an tỉnh B”, chữ ký của các ông: Thân Trọng T10, Hà Văn N, Lê Thanh T11. Trên bì thư ghi in dòng chữ: “Hoàn lại sau giám định”; “Vỏ bao bì đựng mẫu vật; 0,2106 gam mẫu A1; 2,6486 gam mẫu A2; 0,3266 gam mẫu A3 còn lại sau giám định”).
- 01 (một) kéo bằng kim loại, kích thước (10x4,5)cm;
- 01 (một) kéo bằng kim loại, kích thước (17,4x6,5)cm;
- 01 (một) panh kẹp bằng kim loại, kích thước (17,4x0,2)cm;
- 05 (năm) ống hút nhựa màu trắng, có cùng đường kính 1,2cm; ống dài nhất 21cm; ống ngắn nhất 18cm, đều vát nhọn 01 đầu;
- 04 (bốn) ống hút nhựa màu trắng, có cùng đường kính 0,6cm. Trong đó 03 ống dài nhất 21cm; 01 ống hút dài 16,5cm, đều vát nhọn 01 đầu;
- 01 (một) bình gas, hiệu NAMILUX, kích thước (18,4x6,8)cm;
- 01 (một) cân điện tử, màu đen, trắng, kích thước (6,1x1,5x3,4)cm;
- 01 (một) con dao, có vỏ bọc bằng gỗ, kích thước dài 38cm, chỗ rộng nhất 05cm, cán dao bằng gỗ tròn dài 11cm, đường kính 03cm; lưỡi dao bằng kim loại, không rõ hình dáng, kích thước (21x3,5)cm;
- 01 (một) ĐTDĐ hiệu OPPO Reno2F, màu xanh, số IMEI1:869563044562251; số IMEI2: 869563044562244 của Nguyễn Thế P1;
- 01 ĐTDĐ hiệu OPPO A55, màu xanh, số IMEI1:866787051327679; số IMEI2: 866787051327661 của Trần Đình H.
(Đã chuyển giao cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Phù Cát bảo quản có đặc điểm như biên bản giao nhận tài liệu, vật chứng ngày 02/4/2024).
Ngoài ra trong quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện P đã tạm giữ và xử lý các vật chứng như sau:
Trả lại: 01 xe mô tô, hiệu vision màu xanh biển số 77E1-622.32 cho bà Lê Thị H2 (mẹ của Nguyễn Thế P1) và 01 xe mô tô hiệu Airblade, biển số 77E1-765.64 cho bà Phùng Thị T1 (vợ của Trần Đình H) là chủ sở hữu 02 xe mô tô trên.
Trong quá trình điều tra, các bị cáo Trần Đình H, Nguyễn Thế P1 đã tích cực hợp tác với cơ quan điều tra, giao nộp số ma túy cất giấu để làm rõ nội dung vụ án, khai báo ra những tội phạm mới; bị cáo Trần Đình H đã nộp số tiền thu lợi bất chính 4.700.000 đồng.
Tại bản Cáo trạng số: 14/CT-VKSPC, ngày 27/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định đã truy tố các bị cáo Nguyễn Ngọc S và Trần Đình H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015; truy tố bị cáo Nguyễn Thế P1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại các điểm b, c khoản 2 Điều 251 và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo Nguyễn Ngọc S và Trần Đình H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” thuộc trường hợp “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015; truy tố bị cáo Nguyễn Thế P1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” thuộc trường hợp “Phạm tội 02 lần trở lên” và “Mua bán với 02 người trở lên” theo quy định tại các điểm b, c khoản 2 Điều 251 và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 249 của BLHS năm 2015 và không có thay đổi, bổ sung gì thêm.
Đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX):
* Về hình phạt:
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 38 của BLHS để xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc S với mức án từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; các điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54; Điều 58; Điều 38 của BLHS để xử phạt bị cáo Trần Đình H với mức án từ 06 năm đến 06 năm 06 tháng tù.
- Áp dụng các điểm b, c khoản 2 Điều 251, khoản 1 Điều 249; các điểm s, t khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38 của BLHS để xử phạt bị cáo Nguyễn Thế P1 với mức án từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
* Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu, tiêu hủy: Vỏ, bao bì đựng mẫu vật; 0,2106 gam mẫu A1; 2,6486 gam mẫu A2; 0,3266 gam mẫu A3 còn lại sau giám định (được niêm phong trong 01 bì thư có kích thước (26x18,5)cm dán kín niêm phong; 01 (một) kéo bằng kim loại, kích thước (10x 4,5)cm; 01 (một) kéo bằng kim loại, kích thước(17,4x6,5)cm; 01 (một) panh kẹp bằng kim loại, kích thước(17,4x0,2)cm; 05 (năm) ống hút nhựa màu trắng, có cùng đường kính 1,2cm; ống dài nhất 21cm; ống ngắn nhất 18cm, đều vát nhọn 01 đầu; 04 (bốn) ống hút nhựa màu trắng, có cùng đường kính 0,6cm. Trong đó 03 ống dài nhất 21cm; 01 ống hút dài 16,5cm, đều vát nhọn 01 đầu; 01 (một) bình gas, hiệu NAMILUX, kích thước (18,4x6,8)cm; 01 (một) cân điện tử, màu đen, trắng, kích thước (6,1x1,5x3,4)cm; 01 (một) con dao, có vỏ bọc bằng gỗ, kích thước dài 38cm, chỗ rộng nhất 05cm, cán dao bằng gỗ tròn dài 11cm, đường kính 03cm; lưỡi dao bằng kim loại, không rõ hình dáng, kích thước (21x3,5)cm;
- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 (một) ĐTDĐ hiệu OPPO Reno2F, màu xanh, số IMEI1:869563044562251; số IMEI2: 869563044562244 của Nguyễn Thế P1; 01 ĐTDĐ hiệu OPPO A55, màu xanh, số IMEI1:866787051327679; số IMEI2: 866787051327661 của Trần Đình H.
* Các biện pháp tư pháp:
- Tịch thu số tiền thu lợi bất chính là 4.700.000 đồng của gia đình bị cáo Trần Đình H đã nộp vào Chi cục thi hành án dân sự huyện Phù Cát để sung ngân sách Nhà nước.
- Truy thu sung ngân sách Nhà nước số tiền các bị cáo thu lợi bất chính cụ thể: của bị cáo Nguyễn Ngọc S số tiền 9.000.000 đồng, của bị cáo Nguyễn Thế P1 số tiền 9.100.000 đồng.
Tại phiên tòa, trong phần tự bào chữa các bị cáo Nguyễn Ngọc S, Trần Đình H, Nguyễn Thế P1 đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình cũng như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố và không có ý kiến gì tranh
luận. Trong lời nói sau cùng, các bị cáo thực sự ăn năn, hối cải, mong HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận thấy như sau:
[1]. Xét về mặt thủ tục tố tụng: Trong các giai đoạn điều tra, truy tố, cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, có đủ căn cứ để xác định: ở các giai đoạn tố tụng này, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, hành vi của những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp; quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng được đảm bảo, các nguyên tắc trong tố tụng hình sự được tôn trọng và thực hiện đầy đủ theo quy định của pháp luật hình sự.
[2]. Xét nội dung của vụ án và hành vi của bị cáo thực hiện, HĐXX thấy rằng:
Tại phiên tòa sơ thẩm các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi diễn biến của vụ án như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Lời khai của các bị cáo trước tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản giữ người trong trường hợp khẩn cấp; biên bản khám xét khẩn cấp; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu; bản kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra, làm rõ tại phiên tòa. Như vậy, có đủ cơ sở chứng cứ và yếu tố pháp lý kết luận:
Vì hám lợi và muốn có ma túy để sử dụng, Nguyễn Ngọc S, Trần Đình H và Nguyễn Thế P1 đã giao dịch mua bán trái phép chất ma túy Methamphetamine với nhau, sau đó Nguyễn Thế P1 bán lại cho người khác sử dụng để thu lợi bất chính. Cụ thể từ tháng 7/2023 đến ngày 01/8/2023 các bị cáo đã thực hiện các hành vi sau đây:
Đối với Nguyễn Ngọc S, qua môi giới cho Trần Quang P3 bán trái phép ma túy Methamphetamine cho Trần Đình H, trực tiếp bán và giao ma túy cho Trần Đình H 09 lần với khối lượng là “08 hộp 10”, “02 hộp 5” và “nửa hộp 5” với tổng số tiền 79.000.000 đồng, thu lợi bất chính 9.000.000 đồng.
Trần Đình H sau khi mua được ma túy Methamphetamine từ Trần Quang P3 và Nguyễn Ngọc S, Trần Đình H đã trực tiếp bán cho Nguyễn Đức T8 01 lần “nửa hộp 5” giá 2.500.000 đồng; giới thiệu cho Nguyễn Thế P1 bán ma túy cho Nguyễn Thành S1, Lê Văn H5 và bán cho Nguyễn Thế P1 09 lần với khối lượng là “08 hộp 10”, “01 hộp 5”, 02 lần “nửa hộp 5” với tổng số tiền 83.500.000 đồng, thu lợi bất chính 4.700.000 đồng
Nguyễn Thế P1 vừa muốn có ma túy để sử dụng, vừa muốn có ma túy để bán kiếm lợi nên thông qua Trần Đình H mua của H “08 hộp 10”, “01 hộp 5”, 02 lần “nửa hộp 5” ma túy Methamphetaminem với tổng số tiền 81.000.000 đồng. Sau đó P1 chia nhỏ số ma túy này, bán nhiều lần, cho nhiều đối tượng sử dụng. Nguyễn Thế P1 đã bán ma túy cho Nguyễn Thành S1 và Lê Văn H5 theo chỉ đạo của Trần Đình H và trực tiếp bán ma túy cho Võ Xuân H3, Mai Xuân T2, Võ Thành L1, Phan Trường M1, Phan Đình Đ, Dương Minh T3, Nguyễn Văn T4, T, Lê Thanh H4, Nguyễn Đăng T6 và nhiều người khác để kiếm lời, thu lợi bất chính 9.100.000 đồng. Trong lần giao dịch cuối cùng thì bị phát hiện và bắt quả tang vào khoảng 09 giờ 30 phút ngày 03/8/2023 tại đường bê tông thôn L, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định thu giữ được 26 gói nilon chứa ma túy Methamphetamine, có tổng khối lượng 3,0317 gam dùng để bán và 02 gói nilon chứa ma túy Methamphetamine, có tổng khối lượng 0,3942 gam được cất giấu để sử dụng.
Hành vi của các bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến chính sách độc quyền về quản lý, sử dụng các chất ma túy của Nhà nước mà còn gây ảnh hưởng lớn đến sức khỏe của cộng đồng, đe dọa nghiêm trọng đến an toàn, trật tự công cộng gây ảnh hưởng đến tình hình trật tự an toàn xã hội ở địa phương. Do đó cần phải xử lý nghiêm khắc mới có tác dụng giáo dục, răn đe đối với chính các bị cáo và phòng ngừa chung cho người khác.
[3]. Xét tính chất nguy hiểm của hành vi, lỗi của các bị cáo đã thực hiện, hậu quả đã xảy ra, HĐXX xác định: Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định truy tố các bị cáo Nguyễn Ngọc S và Trần Đình H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015; truy tố bị cáo Nguyễn Thế P1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại các điểm b, c khoản 2 Điều 251 và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 249 của BLHS năm 2015 là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
HĐXX kết luận: Các bị cáo Nguyễn Ngọc S và Trần Đình H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” thuộc trường hợp “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của BLHS năm 2015; bị cáo Nguyễn Thế P1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” thuộc trường hợp “Phạm tội 02 lần trở lên” và “Đối với 02 người trở lên” theo quy định tại các điểm b, c khoản 2 Điều 251 và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 249 của BLHS năm 2015. Do đó cần xét xử các bị cáo với mức án nghiêm minh, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục các bị cáo và răn đe phòng ngừa chung, góp phần ổn định tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội ở địa phương.
[4]. Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, vị trí, vai trò của từng bị cáo để quyết định hình phạt, HĐXX thấy rằng:
Trong vụ án này, tuy có nhiều người cùng tham gia nhưng chưa thể hiện là một vụ án có tổ chức chặt chẽ mà chỉ mang tính đồng phạm giản đơn. Các bị cáo
chỉ vì hám lợi nên đã liên lạc với nhau khi có nhu cầu để thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Các bị cáo Nguyễn Ngọc S, Trần Đình H đều có nhân thân xấu và có tiền án. Tuy các bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù nhưng chưa được xóa án tích mà đã phạm tội mới nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thuộc trường hợp “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 2 Điều 52 BLHS. Đối với Nguyễn Ngọc S đã bị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xử phạt 09 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tuy nhiên bản án chưa có hiệu lực pháp luật. Do đó, không tổng hợp hình phạt tại bản án này mà khi các bản án có hiệu lực pháp luật sẽ tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành chung.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ rõ thái độ ăn năn, hối cải về lỗi lầm của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS. Do đó, HĐXX sẽ áp dụng chung cho cả 03 bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự này. Riêng bị cáo Trần Đình H, trong quá trình điều tra đã tích cực hợp tác với cơ quan CSĐT trong việc phát hiện ra đồng phạm mới nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ hình sự quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 BLHS. Mặt khác, bị cáo Trần Đình H đã tác động gia đình nộp lại số tiền thu lợi bất chính từ việc bán ma túy nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khác quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Bị cáo Trần Đình H được áp dụng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 51 BLHS. Do đó, HĐXX xem xét áp dụng khoản 1 Điều 54 để xử phạt bị cáo dưới mức khung hình phạt mà Viện kiểm sát đã truy tố để bị cáo thấy được tính nhân đạo của pháp luật, Nhà nước mà cố gắng học tập, cải tạo để sớm tái hòa nhập cộng đồng.
Đối với Nguyễn Thế P1 tuy không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng bị cáo là người có nhân thân xấu. Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo tự nguyện giao nộp số ma túy đã cất giấu, đồng thời khai báo cho cơ quan CSĐT phát hiện thêm đồng phạm trong việc làm rõ nội dung vụ án. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, t khoản 1 Điều 51 của BLHS. Tuy nhiên, bị cáo bị truy tố ở hai hai tình tiết định khung hình phạt “Phạm tội 02 lần trở lên” và “Đối với 02 người trở lên” do đó cần phải xét xử bị cáo với mức án nghiêm minh trong khung hình phạt để đảm bảo giáo dục, răn đe.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định trên nên được HĐXX chấp nhận.
Trong vụ án, có đối tượng Trần Quang P3 đã nhiều lần bán ma túy cho Nguyễn Ngọc S, Trần Đình H. Tuy nhiên, ngày 26/8/2023 Trần Quang P3 đã chết do tai nạn giao thông nên HĐXX không xét.
Đối với Nguyễn Đức T8, có hành vi đi lấy giúp ma túy cho Trần Đức H6, nhưng đây là số ma túy Tại mua của H6 để sử dụng nên Cơ quan CSĐT Công an huyện P, không truy cứu TNHS đối với Nguyễn Đức T8 là có cơ sở.
[5].Về trách nhiệm dân sự và các biện pháp tư pháp khác:
[5.1]. Về trách nhiệm dân sự: Không.
[5.2]. Về xử lý vật chứng:
Cơ quan CSĐT Công an huyện P đã tạm giữ và xử lý trả lại các vật chứng: 01 xe mô tô, hiệu vision màu xanh biển số 77E1-622.32 cho bà Lê Thị H2 (mẹ của Nguyễn Thế P1) và 01 xe mô tô hiệu Airblade, biển số 77E1-765.64 cho bà Phùng Thị T1 (vợ của Trần Đình H) là chủ sở hữu hợp pháp 02 xe mô tô trên là đúng quy định pháp luật nên HĐXX không xem xét.
Vỏ, bao bì đựng mẫu vật; 0,2106 gam mẫu A1; 2,6486 gam mẫu A2; 0,3266 gam mẫu A3 còn lại sau giám định (được niêm phong trong 01 bì thư có kích thước (26x18,5)cm dán kín niêm phong; 01 (một) kéo bằng kim loại, kích thước (10x4,5)cm; 01 (một) kéo bằng kim loại, kích thước(17,4x6,5)cm; 01 (một) panh kẹp bằng kim loại, kích thước(17,4x0,2)cm; 05 (năm) ống hút nhựa màu trắng, có cùng đường kính 1,2cm; ống dài nhất 21cm; ống ngắn nhất 18cm, đều vát nhọn 01 đầu; 04 (bốn) ống hút nhựa màu trắng, có cùng đường kính 0,6cm. Trong đó 03 ống dài nhất 21cm; 01 ống hút dài 16,5cm, đều vát nhọn 01 đầu; 01 (một) bình gas, hiệu NAMILUX, kích thước (18,4x6,8)cm; 01 (một) cân điện tử, màu đen, trắng, kích thước (6,1x1,5x3,4)cm; 01 (một) con dao, có vỏ bọc bằng gỗ, kích thước dài 38cm, chỗ rộng nhất 05cm, cán dao bằng gỗ tròn dài 11cm, đường kính 03cm; lưỡi dao bằng kim loại, không rõ hình dáng, kích thước (21x3,5)cm. HĐXX xét thấy vật chứng này trực tiếp liên quan đến vụ án nên tịch thu, tiêu hủy.
01 (một) ĐTDĐ hiệu OPPO Reno2F, màu xanh, số IMEI1:869563044562251; số IMEI2: 869563044562244 của Nguyễn Thế P1; 01 ĐTDĐ hiệu OPPO A55, màu xanh, số IMEI1:866787051327679; số IMEI2: 866787051327661 của Trần Đình H. HĐXX xét thấy các vật chứng này các bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
(Các vật chứng trên có đặc điểm như biên bản giao nhận tài liệu, vật chứng đã mô tả kèm theo hồ sơ vụ án. Hiện đang tạm giữ tại Chi cục THADS huyện P).
[5.3]. Các biện pháp tư pháp khác: Số tiền bị cáo Trần Đình H thu lợi bất chính từ việc mua bán ma túy là 4.700.00 đồng, bị cáo Trần Đình H đã nộp cho Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Phù Cát do đó HĐXX tịch thu sung ngân sách Nhà nước. Đồng thời truy thu sung ngân sách Nhà nước số tiền thu lợi bất chính, cụ thể: 9.000.000 đồng của bị cáo Nguyễn Ngọc S, 9.100.000 đồng của bị cáo Nguyễn Thế P1.
[6]. Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội buộc các bị cáo Nguyễn Ngọc S, Trần Đình H, Nguyễn Thế P1 mỗi bị cáo phải chịu án phí HSST sung vào ngân sách Nhà nước.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 38 của BLHS đối bị cáo Nguyễn Ngọc S.
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251; các điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54; Điều 58; Điều 38 của BLHS đối với bị cáo Trần Đình H.
Căn cứ vào các điểm b, c khoản 2 Điều 251; khoản 1 Điều 249; các điểm s, t khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38 của BLHS đối với bị cáo Nguyễn Thế P1.
Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; các điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về tội danh:
1.1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Ngọc S và Trần Đình H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
1.2. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thế P1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt:
2.1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc S 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B trong 01 vụ án khác. Khi bản án của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định và bản án của Tòa án nhân dân huyện Phù Cát có hiệu lực pháp luật sẽ tổng hợp hình phạt chung và khấu trừ thời hạn đã tạm giam.
2.2. Xử phạt bị cáo Trần Đình H 06 (Sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam từ ngày 23/11/2023.
2.3. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thế P1 07 (Bảy) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 01 (Một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt cho cả 02 tội là 08 (Tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/8/2023.
3. Về trách nhiệm dân sự và các biện pháp tư pháp:
3.1 Về trách nhiệm dân sự: Không.
3.2. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu, tiêu hủy: Vỏ, bao bì đựng mẫu vật; 0,2106 gam mẫu A1; 2,6486 gam mẫu A2; 0,3266 gam mẫu A3 còn lại sau giám định (được niêm phong trong 01 bì thư có kích thước (26x18,5)cm dán kín niêm phong; 01 (một) kéo bằng kim loại, kích thước (10x4,5)cm; 01 (một) kéo bằng kim loại, kích thước(17,4x6,5)cm; 01 (một) panh kẹp bằng kim loại, kích thước(17,4x0,2)cm; 05 (năm) ống hút nhựa màu trắng, có cùng đường kính 1,2cm; ống dài nhất 21cm; ống ngắn nhất 18cm, đều vát nhọn 01 đầu; 04 (bốn) ống hút nhựa màu trắng, có cùng đường kính 0,6cm. Trong đó 03 ống dài nhất 21cm; 01 ống hút dài 16,5cm, đều vát nhọn 01 đầu; 01 (một) bình gas, hiệu NAMILUX, kích thước (18,4x6,8)cm; 01 (một) cân điện tử, màu đen, trắng, kích thước (6,1x1,5x3,4)cm; 01 (một) con dao, có vỏ bọc bằng gỗ, kích thước dài 38cm, chỗ rộng nhất 05cm, cán dao bằng gỗ tròn dài 11cm, đường kính 03cm; lưỡi dao bằng kim loại, không rõ hình dáng, kích thước (21x3,5)cm.
Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 (một) ĐTDĐ hiệu OPPO Reno2F, màu xanh, số IMEI1:869563044562251; số IMEI2: 869563044562244 của Nguyễn Thế P1; 01 ĐTDĐ hiệu OPPO A55, màu xanh, số IMEI1:866787051327679; số IMEI2: 866787051327661 của Trần Đình H.
(Đặc điểm các vật chứng nêu trên theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/4/2024, hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định).
3.3. Các biện pháp tư pháp khác:
- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền là 4.700.000 đồng gia đình bị cáo Trần Đình H đã nộp cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Phù Cát. (theo biên lai thu tiền số 0004494 ngày 13/3/2024).
- Truy thu sung ngân sách Nhà nước của bị cáo Nguyễn Ngọc S số tiền 9.000.000 đồng.
- Truy thu sung ngân sách Nhà nước của bị cáo Nguyễn Thế P1 số tiền 9.100.000 đồng.
4. Về án phí: Buộc các bị cáo Nguyễn Ngọc S, Trần Đình H và Nguyễn Thế P1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí HSST sung vào ngân sách Nhà nước.
5. Quyền kháng cáo đối với bản án: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Phan Lê Lân |
Bản án số 28/2024/HS-ST ngày 12/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ CÁT, TỈNH BÌNH ĐỊNH về vụ án hình sự (mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 28/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự (Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ CÁT, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: NGUYỄN NGỌC S VÀ ĐỒNG PHẠM - MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY
