Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2024/HS-ST

Ngày 10 tháng 6 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Nguyễn Hà Giang.
Các Hội thẩm nhân dân:Bà Nguyễn Thị Phẩm;
Bà Bùi Thị Hảo.
- Thư ký phiên tòa:Ông Nguyễn Hồng Quân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa:Bà Nguyễn Quý Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 24/2024/TLST- HS ngày 09/4/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 89/2024/QĐXXST-HS ngày 24/4/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 45/2024/HSST-QĐ ngày 15/5/2024 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Phạm Hà V; Tên gọi khác: không; Giới tính: Nữ; Sinh ngày 06/12/2002, tại thị xã P, tỉnh Phú Thọ; Dân tộc: Kinh;Tôn giáo:Không; Quốc tịch: Việt Nam;Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; ĐKHKTT + chỗ ở: khu F, xã P, thị xã P, tỉnh Phú Thọ; Bố đẻ: Phạm Văn H, sinh năm 1977; Mẹ đẻ: Hà Thị Thùy D, sinh năm 1980; Đều trú tại: xã V, thị xã P, tỉnh Phú Thọ; Chồng: Phan Thanh H1, sinh năm 1994; Hiện đang chấp hành án tại trại Giam Q1, Bộ C; Con: có 02 con; con lớn sinh năm 2021, con nhỏ sinh năm 2023.

    Tiền án, tiền sự: không.

    Bị cáo không bị bắt tạm giữ, tạm giam, được áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện đang tại ngoại tại nơi cư trú. (Có mặt tại phiên tòa).

  2. Họ và tên: Lê Ngọc A; Tên gọi khác: không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 05/10/1993, tại thị xã P, tỉnh Phú Thọ; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;Trình độ học vấn: 09/12;Nghề nghiệp: Lao động tự do; ĐKHKTT + chỗ ở: khu F, xã P, thị xã P, tỉnh Phú Thọ; Bố đẻ: Lê Văn T, sinh năm 1971; Mẹ đẻ: Lê Thị H2, sinh năm 1971; Hiện bố, mẹ đều trú tại: khu F, xã P, thị xã P, tỉnh Phú Thọ; Vợ: Bùi Thị Thu H3, sinh năm 2000; Con: có 02 con, con lớn sinh năm 2020, con nhỏ sinh năm 2023; Hiện vợ, con đều trú tại: khu F, xã P, thị xã P, tỉnh Phú Thọ;

    Tiền án, tiền sự: không.

    - Nhân thân:

    • Bản án số 18/2020/HSST ngày 20/5/2020, Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ xử phạt Lê Ngọc A 15 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 tháng về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”. Chấp hành xong bản án ngày 20/8/2022. Lê Ngọc A đã nộp 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.

    Bị cáo không bị bắt tạm giữ, tạm giam, được áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện đang tại ngoại tại nơi cư trú. (Có mặt tại phiên tòa).

  3. Họ và tên: Lưu Tôn K; Tên gọi khác: không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 22/11/1991, tại huyện Đ, tỉnh Phú Thọ; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ học vấn: 11/12;Nghề nghiệp: Lao động tự do; ĐKHKTT + chỗ ở: khu I, xã T, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ; Bố đẻ: Lưu Tôn Q, sinh năm 1970; Mẹ đẻ: Nguyễn Thị H4, sinh năm 1975; Hiện bố, mẹ đều trú tại: xã T, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ; Vợ: Ngô Thị P, sinh năm 1989; Con: có 02 con, con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2020. Hiện vợ, con đều trú tại: xã T, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ;

    Tiền án, tiền sự: không.

    - Nhân thân:

    • Bản án số 80/2007/HSST ngày 18/9/2007, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xử phạt Lưu Tôn K 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng về tội “Cướp giật tài sản”. Chấp hành xong toàn bộ bản án.
    • Bản án số 07/2010/HSST ngày 28-29/01/2010, Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ xử phạt Lưu Tôn K 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chuyển 12 tháng tù cho hưởng án treo tại Bản án số 80/2007/HSST ngày 18/9/2007 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ thành 12 tháng tù. Tổng hợp hình phạt, buộc K phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 18 tháng tù. Chấp hành xong ngày 24/12/2010. Lưu Tôn K đã nộp tiền án phí, các quyết định khác của Bản án.

    Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 07/01/2024 đến ngày 10/01/2024 được áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện đang tại ngoại tại nơi cư trú. (Có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 18 giờ 20 phút ngày 07/01/2024, tại nhà ở của bà Hà Thị Thùy D, sinh năm 1980 ở khu G, xã V, thị xã P, tỉnh Phú Thọ. Tổ công tác của phòng C1 Công an tỉnh P phát hiện, bắt quả tang Phạm Hà V, sinh năm 2002, đăng ký thường trú: Khu F, xã P, thị xã P, tỉnh Phú Thọ đang có hành vi sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu IPhone 14 Promax gắn sim số 0399256475, cài đặt tài khoản Zalo “Vân Lady” nhận số lô của Lưu Tôn K, sinh năm 1991 ở khu I, xã T, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ với số tiền tương ứng là 34.500.000 đồng. Thu giữ của V: 01 điện thoại di động có đặc điểm như nêu trên.

Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Phạm Hà V, không thu giữ đồ vật, tài sản gì. Khám xét khẩn cấp nơi ở của Lưu Tôn K, thu giữ của K 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, mầu vàng, số Imei: 355347089582056, gắn sim số 0836097915.

Quá trình điều tra xác định: Để có tiền chi tiêu cá nhân nên các bị can và người chơi quy ước đánh bạc với nhau dưới hình thức gửi tin nhắn qua tài khoản Zalo, ứng dụng Telegram. Một điểm lô tính 23.000 đồng, nếu trúng thưởng sẽ được hưởng 80.000 đồng/1 điểm lô; Số lô trúng thưởng được tính là trùng với 2 số cuối của tất cả các giải kết quả xổ số, số. Việc xác định trúng số lô được căn cứ vào kết quả xổ số kiến thiết miền bắc mở thưởng trong ngày để xác định thắng, thua và thanh toán. Sau khi có kết quả người chơi sẽ tự đối chiếu, thanh toán thắng thua. Với quy ước này, các bị can thực hiện hành vi phạm tội như sau:

Ngày 07/01/2024, K sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, lắp sim thuê bao 0836097915, đăng nhập vào tài khoản Z “Phát Tài Lộc Phát” của K, đăng ký bởi số điện thoại 0969.763.xxx để chuyển các số lô qua tài khoản Zalo “Vân Lady” của Phạm Hà V. Sau khi nhận tin nhắn, V và K thống nhất V nhận của K 15 số lô (81, 82, 96, 99, 63, 65, 25, 15, 47, 54, 51, 01, 03, 66, 62) mỗi số lô là 100 điểm, tương ứng với số tiền là 34.500.000 đồng. Số tiền đánh bạc K và V chưa thanh toán cho nhau.

Cũng trong ngày 07/01/2024, V nhận các số lô qua ứng dụng tin nhắn Telegram của một người tên T1 (V không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể). Sau khi nhận tin nhắn, V và người chơi thống nhất V nhận của người chơi 15 số lô (81, 82, 96, 99, 63, 65, 25, 15, 47, 54, 51, 01, 03, 66, 62), mỗi số lô là 100 điểm, tương ứng với số tiền là 34.500.000 đồng. Số tiền đánh bạc V và người chơi chưa thanh toán cho nhau.

Sau khi nhận các số lô của K và người chơi tên T1, V định giữ lại để tính thắng thua. Nhưng do sợ bị thua nên V tổng hợp lại, sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu IPhone 14 Promax gắn sim số 0399256475, cài đặt tài khoản “Gau Tom” trên ứng dụng Telegram chuyển các số lô đến tài khoản “Anh Ku A1” trên ứng dụng Telegram của Lê Ngọc A, sinh năm 1993 ở xã P, thị xã P, tỉnh Phú Thọ. V và Anh thống nhất Anh nhận của V 15 số lô (81, 82, 96, 99, 63, 65, 25, 15, 47, 54, 51, 01, 03, 66, 62) mỗi số lô 200 điểm, tương ứng với số tiền 69.000.000 đồng. Số tiền đánh bạc V và A chưa thanh toán cho nhau.

Như vậy, ngày 07/01/2024, Phạm Hà V có hành vi nhận số lô của Lưu Tôn K với số tiền 34.500.000 đồng, của người chơi tên T1 với số tiền là 34.500.000 đồng. Lê Ngọc A nhận số lô của V với số tiền là 69.000.000 đồng. Do vậy, V phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi đánh bạc với số tiền là 69.000.000 đồng; Lưu Tôn K phải chịu trách nhiện hình sự về hành vi đánh bạc với số tiền là 34.500.000 đồng; Lê Ngọc A phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi đánh bạc với số tiền 69.000.000 đồng.

Đối với số tiền đánh bạc với người tên T1 tương ứng với số tiền 34.500.000 đồng. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra chưa xác định được người chơi trực tiếp với V nên không xác định đây là số tiền V trực tiếp đánh bạc với người tên T1.

Tại Cơ quan điều tra, Phạm Hà V, Lưu Tôn K, Lê Ngọc A đều thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Phạm Hà V có ông ngoại được thưởng Huân chương chiến sĩ giải phóng hạng Nhất, hạng Nhì, hạng Ba; được tặng Kỷ niệm chương chiến sĩ cách mạng bị địch bắt tù, đầy; được tặng kỷ niệm chương đã có cống hiến xây dựng Sư đoàn C2; được tặng Tám chữ vàng danh dự kỷ niệm 20 năm ngày thành lập Hội C3; Phạm Hà V đã nộp 34.500.000 đồng là số tiền V tham gia đánh bạc. Lê Ngọc A có ông nội được tặng Huân chương kháng chiến hạng Nhì, đầu thú về hành vi phạm tội của mình.

Các bị can không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

2. Về trích dẫn Cáo trạng của Viện kiểm sát:

Tại Bản cáo trạng số: 26/CT-VKSPT-P2 ngày 08/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đã truy tố các bị cáo:

  • Các bị cáo Phạm Hà V, Lê Ngọc A về tội “Đánh bạc” theo điểm b khoản 2 Điều 321 của Bộ luật Hình sự;
  • Bị cáo Lưu Tôn K về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự;

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố, Đề nghị Hội đồng xét xử:

* Về tội danh và điều luật áp dụng:

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự đối với Phạm Hà V.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với Lê Ngọc A.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật Hình sự đối với Lưu Tôn Kiên .

Tuyên bố các bị cáo Phạm Hà V, Lê Ngọc A, Lưu Tôn K đều phạm tội “Đánh bạc”.

*Về hình phạt:

Xử phạt: - Bị cáo Phạm Hà V 36 tháng tù nhưng được hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 tháng.

Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Phạm Hà V, cho Ủy ban nhân dân nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân nơi bị cáo cư trú trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trường hợp bị cáo Phạm Hà V, thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, bị cáo Phạm Hà V, cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo Phạm Hà V, phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Xử phạt: Bị cáo Lê Ngọc A từ 42 đến 48 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án phạt tù.

Xử phạt: Bị cáo Lưu Tôn K từ 30.000.000đ đến 35.000.000đ.

Hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung đối với các bị cáo Phạm Hà V, Lê Ngọc A.

*Về xử lý vật chứng:

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

  • Tịch thu 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 14 Pro Max, vỏ mầu tím than đã qua sử dụng của Phạm Hà V và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 7 Plus, vỏ màu vàng đã qua sử dụng của Lưu Tôn K để bán sung vào ngân sách Nhà nước.
  • Tịch thu 01 sim điện thoại số 0399.256.xxx của Phạm Hà V và 01 sim điện thoại số 0836.097.xxx của Lưu Tôn Kiên Đ tiêu hủy.

- Tịch thu số tiền của các bị cáo dùng vào việc phạm tội để sung vào ngân sách Nhà nước gồm: Bị cáo Lưu Tôn K số tiền 34.500.000 đồng (Ba mươi tư triệu năm trăm nghìn đồng); Bị cáo Phạm Hà V số tiền 34.500.000 đồng (Ba mươi tư triệu năm trăm nghìn đồng).

Tạm giữ số tiền 34.500.000 đồng (Ba mươi tư triệu năm trăm nghìn đồng) do bị cáo Phạm Hà V đã nộp để đảm bảo việc thi hành án.

Tạm giữ số tiền 69.700.000 đồng (Sáu mươi chín triệu bảy trăm nghìn đồng) do bị cáo Lưu Tôn K đã nộp để đảm bảo việc thi hành án.

* Về án phí:

Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 và Danh mục án phí lệ phí ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Buộc các bị cáo Phạm Hà V, Lưu Tôn K, Lê Ngọc A. Mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.

* Các bị cáo nói lời sau cùng:

  • Các bị cáo R ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an tỉnh P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Những chứng cứ xác định có tội:

Ngày 07/01/2024, Phạm Hà V có hành vi đánh bạc dưới hình thức mua, bán số lô qua tin nhắn trên ứng dụng Zalo với Lưu Tôn K số tiền là 34.500.000 đồng và một người tên là T1 (V không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể) qua ứng dụng Telegram số tiền là 34.500.000 đồng. Sau khi nhận tin nhắn số lô của K và người chơi tên là T1 thì V chuyển toàn bộ số lô, số tiền của K và người chơi tên là T1 cho Lê Ngọc A trên ứng dụng Telegram với số tiền là 69.000.000 đồng.

Do các bị cáo là những người đánh bạc trực tiếp với nhau, không phải là thư ký hoặc chủ lô đề, được phát hiện trước giờ mở thưởng nên Phạm Hà V phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi đánh bạc với số tiền là 69.000.000 đồng; Lưu Tôn K phải chịu trách nhiện hình sự về hành vi đánh bạc với số tiền là 34.500.000 đồng; Lê Ngọc A phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi đánh bạc với số tiền 69.000.000 đồng.

Hành vi của các bị cáo nêu trên là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự an toàn công cộng và gây mất trật tự trị an xã hội cần phải xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật.

Hành vi nêu trên của các bị cáo Phạm Hà V, Lê Ngọc A đã phạm vào tội “Đánh bạc” theo điểm b khoản 2 Điều 321 của Bộ luật Hình sự; Của bị cáo Lưu Tôn K đã phạm vào tội "Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Điều 321 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

b, T2 hoặc hiện vật dùng đánh bạc trị giá 50.000.000 đồng trở lên;

[3] Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì thấy:

Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng; Hành vi nêu trên của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự an toàn công cộng, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân, gây mất trật tự trị an xã hội. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự; thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp; động cơ, mục đích phạm tội là nhằm vụ lợi. Do vậy cần phải xử lý nghiêm để giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Phạm Hà V, Lê Ngọc ALưu Tôn K không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Đối với các bị cáo Phạm Hà V, Lê Ngọc ALưu Tôn K Quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo Phạm Hà V và bị cáo Lưu Tôn K sau khi phạm tội đã tự nguyện nộp lại số tiền đã đánh bạc với Lê Ngọc A là 69.000.000 đồng, còn Lê Ngọc A sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã ra đầu thú nên các bị cáo Phạm Hà V, Lưu Tôn KLê Ngọc A đều được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Sau khi xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của từng bị cáo thấy rằng:

- Đối với bị cáo Phạm Hà V được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 và 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, điều kiện hoàn cảnh gia đình bị cáo gặp rất nhiều khó khăn cụ thể hiện nay chồng bị cáo đang phải chấp hành hình phạt tù tại trại giam Q1 – Bộ C, bị cáo là lao động duy nhất trong gia đình, đang phải nuôi 02 con nhỏ (Cháu lớn, sinh năm 2021, cháu nhỏ, sinh năm 2023) nên lần phạm tội này không cần thiết phải áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà có thể áp dụng loại hình phạt để bị cáo được cải tạo ngoài xã hội dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương và gia đình cũng đủ điều kiện giáo dục cải tạo bị cáo thành người công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội.

- Đối với bị cáo Lê Ngọc A được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 và 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Nhưng trước lần phạm tội này bị cáo có nhân thân xấu năm 2020 bị cáo bị Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ xử phạt 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 tháng về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo bản án hình sự sơ thẩm số 18/2020/HSST ngày 20/5/2020; Bị cáo đã chấp hành xong toàn bộ bản án ngày 20/8/2022. Do vậy lần phạm tội này cần áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo thành người công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội.

- Đối với bị cáo Lưu Tôn K được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 và 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Trước lần phạm tội này bị cáo có nhân thân xấu, năm 2007 bị cáo bị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng về tội “Cướp giật tài sản” theo bản án hình sự sơ thẩm số 80/2007/HSST ngày 18/9/2007 và tại bản án số 07/2010/HSST ngày 28-29/01/2010, Toà án nhân dân huyện Đoan Hùng xử phạt K 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chuyển 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thành 12 tháng tù. Tổng hợp hình phạt của hai bản án buộc K phải chấp hành hình phạt chung là 18 tháng tù. Bị cáo chấp hành xong toàn bộ bản án ngày 24/12/2010. Mặc dù bị cáo có nhân thân xấu nhưng lần phạm tội này bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, hơn nữa là loại tội khác lần trước và những lần phạm tội trước thời gian được xóa án tích đã lâu. Nên lần phạm tội này không cần thiết phải áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà có thể áp dụng loại hình phạt tiền cũng đủ điều kiện giáo dục cải tạo bị cáo thành người công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự quy định: “3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.”.

Trong quá trình điều tra ngày 18/01 và ngày 25/01/2024 cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh P đã xác minh tài sản của các bị cáo Phạm Hà V, Lưu Tôn KLê Ngọc A; Thì thấy các bị cáo đều không có tài sản gì riêng, chung với gia đình nên Hội đồng xét xử xét thấy cần miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo Phạm Hà V, Lê Ngọc A là phù hợp.

Đối với bị cáo Lưu Tôn K bị áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp đúng quy định của pháp luật.

- Đối với người tên là T1 theo V khai đã mua số lô của V qua tin nhắn tài khoản T3 nhưng cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh P chưa làm rõ được đối tượng nên chưa có cơ sở xử lý là phù hợp.

[4] Về xử lý vật chứng:

- Trong quá trình điều tra cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh P có thu giữ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 14 Pro Max, vỏ mầu tím than đã qua sử dụng, bên trong lắp sim số 0399256475 và số tiền 34.500.000 đồng của Phạm Hà V; 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 7 Plus, vỏ mầu vàng đã qua sử dụng, bên trong lắp sim số 0836097915 của Lưu Tôn K và Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm bị cáo Lưu Tôn K tự nguyện nộp số tiền 69.700.000đ. Qua xác minh thì thấy 02 chiếc điện thoại di động nêu trên là công cụ, phương tiện bị cáo Phạm Hà V và bị cáo Lưu Tôn K dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu bán sung quỹ Nhà nước, còn chiếc 02 sim điện thoại không có giá trị nên cần tịch thu để tiêu hủy. Đối với số tiền 34.500.000 đồng bị cáo Phạm Hà V nộp và bị cáo Lưu Tôn K nộp số tiền 69.700.000đ tại cục thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ theo biên lai thu tiền số 0000333 ngày 17/5/2024 và số 0000412 ngày 10/6/2024 ( Trong đó có số tiền 34.500.000đ dùng vào việc đánh bạc còn 35.200.000đ không có liên quan gì đến việc phạm tội của bị cáo). Xét thấy số tiền bị cáo Lưu Tôn KPhạm Hà V dùng vào việc đánh bạc cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước, còn số tiền 35.200.000 bị cáo Lưu Tôn K nộp cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

[5] Về án phí: Các bị cáo Phạm Hà V, Lê Ngọc A, Lưu Tôn K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[6] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[7]Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tại phiên tòa cơ bản là phù hợp. Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự đối với Phạm Hà V.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với Lê Ngọc A.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật Hình sự đối với Lưu Tôn Kiên .

[1]. Căn cứ kết tội các bị cáo:

Tuyên bố các bị cáo Phạm Hà V, Lê Ngọc A, Lưu Tôn K đều phạm tội “Đánh bạc”.

[2]. Trách nhiệm hình sự, hình phạt:

Xử phạt: Bị cáo Lê Ngọc A 39 (Ba mươi chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án phạt tù.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Hà V 36 (Ba mươi sáu) tháng tù nhưng được hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 (Sáu mươi) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Phạm Hà V cho Ủy ban nhân dân xã P, thị xã P, tỉnh Phú Thọ để giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo Phạm Hà V có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã P, thị xã P, tỉnh Phú Thọ trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trường hợp bị cáo Phạm Hà V, thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách bị cáo Phạm Hà V cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo Phạm Hà V phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Xử phạt:Bị cáo Lưu Tôn Kiên 35.000.000₫ (Ba mươi lăm triệu đồng). Bị cáo phải nộp một lần sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung đối với các bị cáo Phạm Hà V, Lê Ngọc A.

[3]. Về xử lý vật chứng:

Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

  • Tịch thu 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 14 Pro Max, vỏ mầu tím than đã qua sử dụng của Phạm Hà V và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 7 Plus, vỏ màu vàng đã qua sử dụng của Lưu Tôn K để bán sung vào ngân sách Nhà nước.
  • Tịch thu 01 sim điện thoại số 0399.256.xxx của Phạm Hà V và 01 sim điện thoại số 0836.097.xxx của Lưu Tôn Kiên Đ tiêu hủy.

(Tình trạng vật chứng được mô tả theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng của Cục thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ ngày 09 tháng 4 năm 2024).

- Tịch thu số tiền của các bị cáo dùng vào việc phạm tội để sung vào ngân sách Nhà nước gồm:

  • + Bị cáo Lưu Tôn K số tiền 34.500.000 đồng (Ba mươi tư triệu năm trăm nghìn đồng).
  • + Bị cáo Phạm Hà V số tiền 34.500.000 đồng (Ba mươi tư triệu năm trăm nghìn đồng).

Số tiền 34.500.000 đồng (Ba mươi tư triệu năm trăm nghìn đồng) đã được Công an tỉnh P chuyển tới tài khoản số 3949.0.1054969.00000 của Cục thi hành án tỉnh Phú Thọ mở tại Kho bạc Nhà nước tỉnh P theo ủy nhiệm chi ngày 26/4/2024.

Tạm giữ số tiền 34.500.000 đồng (Ba mươi tư triệu năm trăm nghìn đồng) do bị cáo Phạm Hà V đã nộp để đảm bảo việc thi hành án.

Tạm giữ số tiền 69.700.000 đồng (Sáu mươi chín triệu bảy trăm nghìn đồng) do bị cáo Lưu Tôn K đã nộp tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ theo biên lai thu tiền số 0000333 ngày 17/5/2024 và số 0000412 ngày 10/6/2024 để đảm bảo việc thi hành án.

[4]. Về án phí:

Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 và Danh mục án phí lệ phí ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Buộc các bị cáo Phạm Hà V, Lê Ngọc ALưu Tôn Kiên . Mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

[5].Quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm.

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂNTHẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Phẩm Bùi Thị HảoNguyễn Hà Giang

Nơi nhận:

- TAND Cấp cao tại hà Nội;

- VKSND Cấp cao tại hà Nội;

- VKSND tỉnh Phú Thọ;

- Sở Tư pháp tỉnh Phú Thọ;

- PC01; PV06- Công an tỉnh Phú Thọ;

- CQ THAHS, dân sự tỉnh Phú Thọ;

- TB cho UBND nơi b/c cư trú;

- Những người tham gia tố tụng;

- Lưu: VP, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hà Giang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 28/2024/HS-ST ngày 10/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về đánh bạc

  • Số bản án: 28/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Hà V và đồng phạm phạm tội đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger