Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN XUÂN TRƯỜNG

TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2024/HS-ST

Ngày: 07- 5 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Thung.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Văn Hùng;

Ông Đặng Văn Chỉnh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Vinh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường tham gia phiên toà:

Ông Ngô Văn Thành – Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 28/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2023/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Phạm Hoàng T, sinh năm 1978; nơi cư trú: Xóm D, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn G và bà Bùi Thị L; gia đình có 04 chị em, bị cáo là con thứ ba; có vợ là Đỗ Thị H, sinh năm 1980 (đã ly hôn), có 02 con, con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2010; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 08/4/2016, bị Toà án nhân dân huyện Xuân Trường xử phạt 20 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong ngày 08/9/2017; bị tạm giữ từ ngày 04/01/2024 đến ngày 13/01/2024 chuyển tạm giam đến nay; “có mặt”.

2. Nguyễn Văn U, sinh năm 1975; nơi cư trú: Xóm D, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 04/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T1 và bà Phạm Thị D (đều đã chết); gia đình có 07 chị em, bị cáo là con thứ sáu; có vợ Mai Thanh H1, có một con sinh năm 2010; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 12/03/2002, Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định xử phạt 24 tháng tù về tội “Cướp tài sản”, chấp hành xong ngày 15/4/2003; bị tạm giữ từ ngày 04/01/2024 đến ngày 13/01/2024 chuyển tạm giam đến nay; “có mặt”.

- Người chứng kiến: Anh Vũ Đình T2;“vắng mặt”;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Hoàng T và Nguyễn Văn U là bạn của nhau và cùng là đối tượng nghiện ma tuý. Khoảng 10 giờ ngày 04/01/2024, T đi bộ đến nhà và rủ U mỗi người góp 100.000 đồng để mua ma tuý. U đồng ý và đưa cho T 100.000 đồng. T cầm tiền rồi đi bộ tìm mua ma túy về sử dụng. Khi đi đến khu vực chùa Đ thuộc xóm B, xã X, huyện X, T gặp một người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ, qua dò hỏi biết người này có ma túy bán. T hỏi mua 200.000 đồng H2, người đàn ông nhận tiền và đưa lại cho T 01 gói nhỏ bên ngoài gói bằng giấy màu trắng, bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng. T xác định là H2, cầm ở lòng bàn tay trái rồi đi bộ về nhà U. Về đến nơi, T chia lượng heroine trong gói nhỏ vừa mua được thành hai phần rồi gói vào hai tờ giấy nhỏ màu trắng. T giữ một gói, gói còn lại T đưa cho U. Đúng lúc này Tổ công tác Công an xã X đến kiểm tra, T và U tự giác nộp 02 gói nhỏ vừa mua và khai nhận là Heroine. Tổ công tác đã mời người chứng kiến, đưa T và U về UBND xã X lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong gói nhỏ Uyên giao nộp ký hiệu là M, thu giữ niêm phong gói nhỏ T giao nộp ký hiệu M1.

Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp tại nơi ở của Phạm Hoàng T và Nguyễn Văn U, nhưng không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Kết quả xét nghiệm định tính Morphin đối với Phạm Hoàng T và Nguyễn Văn U ngày 04/01/2024 của Trung tâm y tế huyện X xác định: Phạm Hoàng T và Nguyễn Văn U dương tích với M.

Tại bản kết luận giám định số 261/KL-KTHS ngày 09/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh N đã kết luận: Mẫu bột dạng cục màu trắng trong hai phong bì thư niêm phong ký hiệu M và M1 gửi giám định là ma túy. Loại ma túy Heroine. Khối lượng mẫu M là: 0,159 gam; khối lượng mẫu M1 là 0,152 gam.

Tại Cơ quan điều tra, Phạm Hoàng T và Nguyễn Văn U đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như đã nêu trên.

Cáo trạng số 26/CT-VKS ngày 15/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường đã truy tố các bị cáo Phạm Hoàng T và Nguyễn Văn U về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu đánh giá về hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh và hình phạt:

- Tuyên bố các bị cáo Phạm Hoàng T và Nguyễn Văn U đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Phạm Hoàng T từ 02 năm 06 tháng đến 02 năm 09 tháng tù; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn U từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 06 tháng tù;

Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu, cho tiêu hủy số ma túy đã thu giữ của các bị cáo.

2

Các bị cáo không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát. Trong lời nói sau cùng các bị cáo thừa nhận hành vi vi phạm pháp luật của bản thân, hứa sửa chữa lỗi lầm và xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện X, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện X, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đều tuân thủ đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật tố tụng. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đều không có khiếu nại gì. Như vậy các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Về việc kết tội: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại giai đoạn điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người chứng kiến, kết hợp với kết luận giám định về số ma túy thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định: Khoảng 10 giờ 40 phút ngày 04/01/2024, tại nhà của Nguyễn Văn U ở xóm D, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định, Phạm Hoàng T và Nguyễn Văn U đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,311 gam heroine để sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện bắt quả tang. Hành vi của các bị cáo Phạm Hoàng T và Nguyễn Văn U đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, như Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường đã truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tính nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý của Nhà nước về các chất gây nghiện, tiếp tay cho tệ nạn mua bán, sử dụng trái phép chất ma tuý, một hiểm hoạ lớn cho toàn xã hội, là nguồn gốc phát sinh nhiều loại tội phạm như: Trộm cắp tài sản, cướp tài sản,... làm tan vỡ hạnh phúc bao gia đình. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, thấu hiểu được tác hại của ma túy nhưng vẫn tàng trữ, tổ chức, chứa chấp cho các đối tượng sử dụng trái phép chất ma tuý. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm các bị cáo theo quy định của pháp luật hình sự để răn đe và phòng ngừa.

[4] Về vị trí, vai trò của các bị cáo trong vụ án: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn theo quy định tại Điều 17 của Bộ luật Hình sự, các bị cáo cùng nhau góp tiền mỗi người 100.000đ để mua ma túy về cùng sử dụng nên có vai trò ngang nhau trong vụ án.

[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào. Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà các bị cáo đều có thái độ khai báo thành khẩn, Vì vậy, Hội đồng xét xử cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[6] Về hình phạt: Sau khi cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly bị các cáo ra khỏi xã

3

hội một thời gian là áp dụng hình phạt tù có thời hạn tương xứng với tính chất mức độ hành vi cũng như theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát mới đủ tác dụng trừng trị, giáo dục, cải tạo các bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung.

[7] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy hoàn cảnh kinh tế của các bị cáo khó khăn nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.

[8] Về xử lý vật chứng thu giữ: Số H đã thu giữ là vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu, cho tiêu hủy.

[9] Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho T, T khai không biết tên tuổi, địa chỉ ngoài ra không còn nguồn chứng cứ, tài liệu nào khác nên không có căn cứ để xử lý.

[10] Án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;

- Tuyên bố các bị cáo Phạm Hoàng T và Nguyễn Văn U phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

- Xử phạt bị cáo Phạm Hoàng T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 04/01/2024.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn U 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 04/01/2024.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Tịch thu tiêu hủy số Heroine trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 261/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh N.

(Chi tiết vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 57/CCTHA ngày 04/5/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện X và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuân Trường)

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án buộc các bị cáo Phạm Hoàng T và Nguyễn Văn U mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).

4. Quyền kháng cáo: Các bị cáo Phạm Hoàng T và Nguyễn Văn U có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì các bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

4

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Nam Định;
  • - VKSND tỉnh Nam Định;
  • - VKSND huyện Xuân Trường;
  • - Chi cục THADS huyện Xuân Trường;
  • - Công an huyện Xuân Trường;
  • - UBND xã Bắc;
  • - Bị cáo;
  • - Hồ sơ vụ án;
  • - Lưu văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Văn Thung

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 28/2024/HS-ST ngày 07/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG, TỈNH NAM ĐỊNH về tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 28/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG, TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng 10 giờ 40 phút ngày 04/01/2024, tại nhà của Nguyễn Văn U ở xóm 4, xã Xuân B, huyện Xuân T, tỉnh Nam Định, Phạm Hoàng T và Nguyễn Văn U đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,311 gam heroine để sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện bắt quả tang.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger