Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2024/HS-PT.CTN

Ngày: 04 - 12 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

-

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hằng.

Các Thẩm phán: Ông Ngô Tấn Lợi.

Bà Nguyễn Thị Vĩnh .

- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Tấn Hào - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Giang C - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 22/2024/TLPT-HS.CTN ngày 08 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo Nguyễn Quốc A, Trần Phát T, do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 47/2024/HS-ST ngày 27 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp.

- Các bị cáo có kháng cáo:

  1. Nguyễn Quốc A, sinh ngày 01/01/2004 tại tỉnh Đồng Tháp. Đăng ký thường trú: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; nơi cư trú: Ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thị P; chưa có vợ và con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giam: Không; có mặt.
  2. Trần Phát T (thường gọi là Tài L), sinh ngày 15/02/2007 tại tỉnh Đồng Tháp (Đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 16 tuổi 02 tháng 14 ngày). Đăng ký thường trú: Ấp B, xã B, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp; nơi cư trú: Ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Đ và bà Huỳnh Thị Thu M; chưa có vợ và con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giam: Không; có mặt.

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Trần Phát T: Ông Trần Văn Đ, sinh năm 1966 và bà Huỳnh Thị Thu M, sinh năm 1965; nơi cư trú: Ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, là cha mẹ của bị cáo; có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Trần Phát T: Ông Lê Phi T1, là Luật sư ký hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Đ; có mặt.

Ngoài ra còn có 04 bị cáo không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 10 giờ ngày 29/4/2023, Lai Sầu Riêng sau khi dự đám cưới đã về nhà ở ấp C, xã T, huyện T. Sau đó Sầu R, Lai Văn L1, Lai Văn Đ1, Lai Minh T2, Nguyễn Hồng Q, Nguyễn Quốc A, Đặng Vỹ K, sinh ngày 03/8/2007 và người tên K1 (không rõ họ và địa chỉ cụ thể) tiếp tục nhậu. Đến khoảng 16 giờ 40 phút cùng ngày, Sầu R nghe điện thoại xong thì nói trong bàn nhậu là ông Lai Văn K2 (chú ruột Sầu R) bị Lê Văn Đ2 đánh nên Sầu R lấy xe mô tô điều khiển chở Lai Minh T2; Lai Văn L1 điều khiển xe mô tô chạy một mình cầm theo 01 khúc cây tre dài khoảng 01mét, đường kính 02cm; Nguyễn Quốc A điều khiển xe mô tô chở Đặng Vỹ K cầm 01 con dao rựa dài khoảng 60cm; Nguyễn Hồng Q điều khiển xe mô tô chở Trần Phát T cầm 01 cây dao tự chế loại dao đâm lợn có hàn ống tiếp sắt, dài khoảng 01mét; Lai Văn Đ1 điều khiển xe mô tô chở người tên K1 và tất cả cùng chạy đến nhà ông H tìm anh Lê Văn Đ2 để gây thương tích.

Khi nhóm của Sầu R đến nhà ông H thì anh Lê Văn Đ2 nhìn thấy nên bỏ chạy vào trong nhà ông H trốn, Sầu R rượt đuổi theo đến cửa buồng nhưng không gặp anh Đ2 nên Sầu R dùng tay nắm cái màng cửa buồng giật mạnh, làm xệ giá đỡ tivi 49 inh, nhãn hiệu Samsung xuống trúng vào tủ làm tivi bị hư hỏng, Sầu R đi ra trước nhà ông H đứng chửi thô tục và la lối làm mất an ninh trật tự, lúc này L1, Đ1, T2, Đinh Minh N1, Q, Nguyễn Hồng Qui E, A, Đinh Văn P1, K, T cũng có mặt. Sau đó Sầu R giật lấy 01 con dao tự chế trên tay của T chửi tục, la lối nên T2 giật lấy con dao lại đưa cho T. Do thấy nhóm Sầu R chửi tục, la lối nên anh Nguyễn Văn P2 đến can ngăn thì bị Sầu R dùng tay đánh trúng vào mặt 01 cái nhưng không gây thương tích, tiếp tục nhóm của Sầu R chạy xe về hướng xã T thì gặp ông K2 và ông K2 kêu nhóm Sầu R về nhà. Khi nhóm Sầu R trên đường chạy về ngang nhà ông H, tiếp tục dừng xe trước nhà ông H chửi tục thô tục, la lối, làm mất an ninh trật tự, làm cho quần chúng xung quanh lo sợ và ông H trình báo sự việc đến Công an xã T, huyện T. Trong lúc nhóm Sầu Riêng trên đường chạy về nhà thì K, T và L1 đã ném bỏ 02 con dao, 01 khúc cây tre không nhớ địa điểm cụ thể.

Đến khoảng 18 giờ 50 phút cùng ngày, Sầu R, Q, Qui E, K, Đinh Văn P1 và Trần Chí T3, sinh ngày 06/6/2009 tiếp tục chạy xe đến nhà ông H tìm anh Đ2 để gây thương tích. Khi đến nơi, anh Đ2 đang ngồi uống nước cặp mé đường, nhìn thấy nhóm Lai S chạy xe đến nên anh Đ2 bỏ chạy vào nhà ông H trốn tiếp tục, nhóm của Sầu R đứng trước nhà ông H chửi tục, la lối, gây náo loạn, làm mất an ninh trật tự và Qui E lấy 02 viên pháo ném vào nhà ông H thì có 01 viên nổ và 01 viên không nổ, những người trong nhóm của Sầu R lấy đá, gạch, ly thuỷ tinh ném vào nhà ông H nên ông H trình báo sự việc Công an xã T, huyện T thì nhóm Lai Sầu R chạy xe đi.

Trong quá trình điều tra, các bị cáo Lai Sầu R, Lai Văn L1, Nguyễn Quốc A, Trần Phát T, Nguyễn Hồng Q, Nguyễn Hồng Qui E, Đặng Vỹ K, Trần Chí T3 thừa nhận toàn bộ hành vi vi phạm của các bị cáo như đã nêu trên.

Đối với Đinh Văn P1, Đinh Minh N1, Lai Văn Đ1, Lai Minh T2 và người thanh niên tên K1 (không rõ họ, địa chỉ) có đi theo nhóm Lai S để can ngăn nhưng không có tham gia la lối, đập phá và gây mất trật tự.

Vật chứng thu giữ gồm: 01 viên pháo còn nguyên vẹn; 03 cục gạch, đá bê tông; 01 ly thủy tinh; 01 cái muỗng bằng kim loại; Nhiều mảnh giấy vụn là vỏ viên pháo đã đốt nổ ra; 01 đĩa DVD, lưu vào hồ sơ vụ án; 01 (một) cái ti vi, nhãn hiệu Samsung 49 inh, đã bị hư hỏng; 01 (một) cái giá treo (đỡ) tivi bị hư hỏng. Đây là tài sản của bị hại Trần Văn H và Nguyễn Thị L2, hiện Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả lại cho các bị hại Hốt và L2 quản lý, sử dụng.

Tại bản kết luận định giá tài sản số: 16/KL-HĐĐG ngày 07/6/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận: 01 cái tivi nhãn hiệu Samsung, màng hình phẳng, 49 inh màu đen, mua mới năm 2020, giá mua 12.000.000 đồng, hiện còn khoảng 80% giá trị sử dụng. Giá trị định giá: 6.800.000 đồng; 01 giá treo tivi, giá trị định giá 200.000 đồng. Tổng giá trị định giá là 7.000.000 đồng.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 47/2024/HS-ST ngày 27/8/2024, Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp đã quyết định:

  1. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 318; khoản 1 Điều 178; Điều 17; Điều 38; Điều 55; Điều 58; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Lai Sầu R phạm các tội “Gây rối trật tự công cộng” và “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

Xử phạt bị cáo L3 Sầu Riêng 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” và xử phạt bị cáo L3 Sầu Riêng 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Tổng hợp hình phạt chung của 02 tội bị cáo L3 Sầu Riêng phải chấp hành là 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam bị cáo ngày 08/3/2024.

  1. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 318; Điều 17; Điều 38; Điều 58; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc A, Lai Văn L1 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc A 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án phạt tù.

Xử phạt bị cáo Lai Văn L1 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án phạt tù.

  1. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 318; Điều 17; Điều 38; Điều 58; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hồng Q (Qui A1), Nguyễn Hồng Qui E phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng Q (Qui A1) 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án phạt tù.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng Qui E 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án phạt tù.

  1. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 318; Điều 17; Điều 38; Điều 58; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Trần Phát T (Tài L) phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Xử phạt bị cáo Trần Phát T (Tài L) 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án phạt tù.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, về án phí, quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm:

Ngày 05/9/2024, bị cáo Trần Phát T kháng cáo xin giảm hình phạt, xin được hưởng án treo.

Ngày 11/9/2024, bị cáo Nguyễn Quốc A có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Các bị cáo Nguyễn Quốc A, Trần Phát T vẫn giữ nguyên kháng cáo.

Bị cáo Trần Phát T có bổ sung lý do kháng cáo: Hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát:

Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Nguyễn Quốc A, Trần Phát T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của các bị cáo nên Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố các bị cáo A, T phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” là có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét hết các tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo. Xét mức án 02 năm tù mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc A là phù hợp, bị cáo A kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không cung cấp tình tiết mới nên không có cơ sở để xem xét. Đối với bị cáo T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin được hưởng án treo, có cung cấp tình tiết mới: Hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo là lao động chính, nhưng xét mức án 01 năm 06 tháng tù mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo T là phù hợp nên kháng cáo của bị cáo T không có cơ sở chấp nhận. Căn cứ vào Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Quốc A, Trần Phát T, giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt.

Người bào chữa cho bị cáo Trần Phát T trình bày lời bào chữa: Bị cáo Trần Phát T bị xét xử về tội “Gây rối trật tự công cộng” và bị xử phạt 01 năm 06 tháng tù. Bị cáo T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin được hưởng án treo. Xét thấy kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo T là có căn cứ, bởi lẽ bị cáo T có cậu ruột là người có công với cách mạng, bị cáo có tham gia thực hiện hành vi phạm tội nhưng do bị rủ rê, lôi kéo, bị cáo có cùng các bị cáo khác bồi thường thiệt hại cho bị hại trong vụ án “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét kháng cáo của bị cáo T, cho bị cáo T được hưởng án treo.

Bị cáo Trần Phát T không bổ sung lời bào chữa.

Người đại diện hợp pháp của bị cáo T không bổ sung ý kiến bào chữa.

Bị cáo Nguyễn Quốc A không trình bày lời bào chữa.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa đối đáp: Bị cáo T khi thực hiện hành vi phạm tội đã hơn 16 tuổi, theo quy định pháp luật bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra; tình tiết người thân của bị cáo T có công với cách mạng đã được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét. Xét mức án mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo T là phù hợp nên đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo T.

Lời nói sau cùng:

Bị cáo Nguyễn Quốc A mong Hội đồng xét xử giảm hình phạt thấp nhất cho bị cáo.

Bị cáo Trần Phát T trình bày do còn nhỏ nên bị cáo không biết việc làm của bị cáo là vi phạm pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Đơn kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Quốc A, Trần Phát T trong thời hạn luật định nên hợp lệ và được xét xử theo trình tự phúc thẩm.

[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Nguyễn Quốc A, Trần Phát T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của các bị cáo. Căn cứ vào lời khai của các bị cáo và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở kết luận: Khoảng 16 giờ 40 phút ngày 29/4/2023, tại nhà anh Trần Văn H thuộc ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, trong lúc rượt đuổi anh Lê Văn Đ2, bị cáo Lai Sầu R dùng tay nắm cái màng cửa buồng giật mạnh, làm xệ giá đỡ tivi 49 inh, nhãn hiệu Samsung trúng vào tủ làm tivi bị hư hỏng; Các bị cáo Lai Sầu R, Nguyễn Quốc A, Lai Văn L1, Nguyễn Hồng Q, Nguyễn Hồng Qui E và Trần Phát T đã la lối, chửi tục, dùng dao tự chế, khúc tre, dùng gạch đá, ly thuỷ tinh, đốt pháo ném vào nhà ông Trần Văn H làm cho người dân hoang mang lo sợ, ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

[3] Bị cáo Trần Phát T khi thực hiện hành vi phạm tội là người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, các bị cáo Trần Phát T và Nguyễn Quốc A có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, các bị cáo nhận thức được hành vi của các bị cáo đã gây rối trật tự công cộng, làm ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, làm cho quần chúng nhân dân lo sợ, bất an trong cộng đồng dân cư nơi xảy ra vụ án và các bị cáo phạm tội với lỗi cố ý. Với hành vi như nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt các bị cáo Nguyễn Quốc A, Trần Phát T phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

[4] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Quốc A và kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin được hưởng án treo của bị cáo Trần Phát T.

[4.1] Đối với bị cáo Nguyễn Quốc A: Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét tình tiết người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; ông nội của bị cáo là người có công với cách mạng là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo A là có căn cứ. Xét mức án 02 năm tù mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo A là phù hợp với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo. Bị cáo A kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không cung cấp tình tiết mới nên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo không được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.

[4.2] Đối với bị cáo Trần Phát T: Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét tình tiết người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có cậu ruột là người có công với cách mạng là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo T là có căn cứ. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo T là người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự cho bị cáo. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin được hưởng án treo và có cung cấp tình tiết hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo là lao động chính. Mặc dù bị cáo T có tình tiết mới được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, nhưng mức án 01 năm 06 tháng tù mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo T là phù hợp với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin được hưởng án treo của bị cáo T.

[5] Những ý kiến, quan điểm của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa đề nghị không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Quốc A, Trần Phát T, giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt do phù hợp với phân tích và nhận định nêu trên nên được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.

[6] Xét đề nghị của người bào chữa cho bị cáo Trần Phát T do chưa phù hợp như nhận định nêu trên nên không được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.

[7] Về án phí phúc thẩm: Các bị cáo Nguyễn Quốc A, Trần Phát T phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.

[8] Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Quốc A.

Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin được hưởng án treo của bị cáo Trần Phát T.

Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số: 47/2024/HS-ST ngày 27/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp.

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc A phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 318; Điều 17; Điều 38; Điều 58; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc A 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án phạt tù.

  1. Tuyên bố bị cáo Trần Phát T phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; Điều 17; Điều 38; Điều 58; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 91; khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Phát T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án phạt tù.

  1. Về án phí phúc thẩm: Các bị cáo Nguyễn Quốc A, Trần Phát T mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
  1. Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tối cao (Vụ GĐ-KT 1);
  • - Ban Nội chính Tỉnh ủy;
  • - Sở Tư pháp Tỉnh;
  • - VKSND Tỉnh;
  • - Cơ quan THAHS Công an Tỉnh;
  • - Trại tạm giam Công an Tỉnh;
  • - TAND-VKSND huyện Tân Hồng;
  • - CCTHADS huyện Tân Hồng;
  • - CQĐT Công an huyện Tân Hồng;
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an Tỉnh;
  • - Phòng KTNV-THA TAT;
  • - Các bị cáo, ĐDHP của bị cáo;
  • - Lưu: VT, HS (Hào).

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Tấn Lợi

Nguyễn Thị Thúy Hằng

Nguyễn Thị Vĩnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 28/2024/HS-PT.CTN ngày 04/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về vụ án hình sự phúc thẩm

  • Số bản án: 28/2024/HS-PT.CTN
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự phúc thẩm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 04/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Gây rối trật tự công cộng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger