Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÙ NINH

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 30 - 9 - 2024

V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lý Thị Thanh Huyền
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lâm Quang Tụng
2. Ông Phạm Hoàng Tuấn

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Ngọc Minh Châu- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 131/2024/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 7 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2024/QĐXX-HNGĐ ngày 29 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 20/2024/QĐXX-HNGĐ ngày 13 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thùy L, sinh năm 2001;
Địa chỉ: Khu E, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ.

Bị đơn: Anh Hoàng Chí H, sinh năm 1995;
Địa chỉ: Khu E, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ.

(Chị L có đơn xin xét xử vắng mặt, anh H vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thùy L trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Hoàng Chí H tự do tìm hiểu và đăng ký kết hôn tự nguyện ngày 14/10/2022 tại UBND xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Sau khi kết hôn vợ chồng ở tại khu E, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ và chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến tháng 3 năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không hạnh phúc nên chị xin ly hôn với anh H.

Về con chung: Chị L xác nhận vợ chồng có 01 con chung là cháu Hoàng Xuân P, sinh ngày 17/01/2023. Khi ly hôn chị L đề nghị được trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung. Anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị L tự nguyện không yêu cầu.

Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Hoàng Chí H vắng mặt: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh H vắng mặt không có lý do. Ngày 07/8/2024, Tòa án tiến hành xác minh tại nơi cư trú của anh H được đại diện chính quyền địa phương cho biết: Chị Nguyễn Thị Thùy L và anh Hoàng Chí H là công dân khu E, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Sau khi kết hôn anh H, chị L ở chung vợ chồng ông Hoàng Văn T và bà Hoàng Thị C; quá trình chung sống có 01 con chung. Đến đầu năm 2024 thì anh H, chị L phát sinh mâu thuẫn nhưng nguyên nhân mâu thuẫn thì khu dân cư không nắm được do không ai báo cáo khu. Từ đầu năm 2024 đến nay không thấy chị L ở cùng gia đình ông T bà C nữa. Hiện nay anh H và con anh H vẫn ở cùng gia đình ông T bà C. Nay chị L xin ly hôn, đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Đồng thời, Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh tiến hành lấy lời khai của bà Hoàng Thị C, là mẹ đẻ của anh Hoàng Chí H. Bà xác nhận việc chị L và anh H kết hôn năm 2022, sau khi kết hôn về chung sống cùng gia đình bà tại khu E, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Quá trình chung sống chị L và anh H có 01 con chung là cháu Hoàng Xuân P, sinh ngày 17/01/2023. Vợ chồng anh H chị L có mâu thuẫn cãi vã nhau từ đầu năm 2024, sau đó chị L thuê nhà ở trọ không chung sống cùng anh H và gia đình nữa. Gia đình cũng đã hòa giải mâu thuẫn giữa anh H chị L nhưng không thành. Anh H và cháu P hiện nay vẫn ở cùng gia đình bà nhưng anh H sáng đi làm tối mới về. Anh H đã nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án qua đường bưu điện nhưng anh H có nói với bà là anh không đến Tòa án để làm việc. Quan điểm của gia đình bà là không muốn anh H và chị L ly hôn, còn việc anh chị có ly hôn hay không là việc cá nhân anh chị quyết định, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

  • - Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử được thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
  • - Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không đến Tòa án làm việc là chưa thực hiện đúng quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • - Về nội dung vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thùy L.
  • - Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Thùy L được ly hôn với anh Hoàng Chí H.
  • - Về con chung: Giao cho chị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu cháu Hoàng Xuân P, sinh ngày 17/01/2023. Anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị L tự nguyện không yêu cầu.
  • - Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Không xem xét giải quyết trong vụ án này.
  • - Về án phí: Chị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000đ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng:

Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do bị đơn có nơi cư trú tại huyện P, tỉnh Phú Thọ nên Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xét về sự vắng mặt của anh Hoàng Chí H, Hội đồng xét xử thấy rằng: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ anh H đến để làm việc, nhưng anh H vẫn vắng mặt, không đến Tòa án để làm việc. Hơn nữa chị L đã có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải cho nên Tòa án không tiến hành hòa giải được là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ngày 13/9/2024, Tòa án đưa vụ án ra xét xử đã tiến hành giao giấy báo trực tiếp tại nơi cư trú của anh H tuy nhiên anh H vẫn vắng mặt tại phiên xét xử lần thứ nhất không có lý do nên Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa. Sau khi hoãn phiên tòa, đã tiến hành giao Quyết định hoãn phiên tòa trực tiếp tại nơi cư trú của anh H. Tại phiên tòa hôm nay anh H vắng mặt không có lý do, chị L có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh Hoàng Chí H là phù hợp theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Về nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thùy L và anh Hoàng Chí H đăng ký kết hôn ngày 14/10/2022 tại UBND xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Trước khi kết hôn hai bên được tìm hiểu tự nguyện không ai bị ép buộc. Việc kết hôn giữa chị L và anh H bảo đảm các quy định về điều kiện kết hôn và không thuộc trường hợp cấm kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, nên đó là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân theo lời trình bày của chị L là hai bên khác biệt về quan điểm sống. Còn anh H quá trình giải quyết vụ án tuy đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt, không hợp tác làm việc, cũng không có động thái gì để cải thiện cuộc sống hôn nhân của vợ chồng, như vậy anh H đã thể hiện không cần mối quan hệ hôn nhân này nữa.

Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Thùy L, Hội đồng xét xử thấy rằng: Giữa chị L và anh H đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là theo lời trình bày của chị L là hai bên khác biệt về quan điểm sống. Qua xác minh tại khu dân cư và gia đình cũng thể hiện chị L và anh H có mâu thuẫn đã ly thân, không ở cùng nhau từ đầu năm 2024. Như vậy, có thể khẳng định vợ chồng chị L và anh H có mâu thuẫn. Xét yêu cầu xin ly hôn của chị L là có căn cứ vì cuộc sống chung giữa chị L và anh H không có hạnh phúc, mâu thuẫn đã ở mức trầm trọng, đời sống chung không còn tồn tại, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy cần xử cho chị L được ly hôn anh H là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Về con chung: Chị Nguyễn Thị Thùy L xác định vợ chồng có 01 con chung là cháu Hoàng Xuân P, sinh ngày 17/01/2023.

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, chị L xin được nuôi con chung và không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con.

Xét yêu cầu xin được nuôi con của chị L là chính đáng vì anh H không có mặt tại Tòa án, không thể hiện nguyện vọng muốn nuôi con. Hơn nữa, cháu Hoàng Xuân P hiện nay dưới 36 tháng tuổi. Vì vậy cần giao 01 con chung là cháu Hoàng Xuân P, sinh ngày 17/01/2023 cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục là phù hợp với khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình. Anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị L do chị L tự nguyện không yêu cầu.

- Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Vì anh H vắng mặt không có quan điểm và chị L xác định vợ chồng không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[3] Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thùy L phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273, khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thùy L.

  1. Về quan hệ hôn nhân: xử cho chị Nguyễn Thị Thùy L được ly hôn với anh Hoàng Chí H.
  2. Về con chung: Giao 01 con chung là cháu Hoàng Xuân P, sinh ngày 17/01/2023 cho chị Nguyễn Thị Thùy L trực tiếp nuôi dưỡng, anh Hoàng Chí H không phải cấp dưỡng nuôi con chung vì chị L tự nguyện không yêu cầu.

    Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

  3. Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
  4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thùy L phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận chị L đã nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí ký hiệu BLTU/2023 số 0001284 ngày 19/7/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ.

Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ;
  • - Chi cục Thi hành án huyện Phù Ninh;
  • - UBND xã Trị Quận, Phù Ninh, Phú Thọ;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS- VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lý Thị Thanh Huyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 28/2024/HNGĐ-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 28/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị L xin ly hôn anh H
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger