|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc |
|
Bản án số: 28/2024/HNGĐ-ST Ngày: 19/8/2024 Về việc “Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Duy .
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Đặng Thị Ngọc Hằng
- Bà Lê Thị Xuân Mai
- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Đức Thuận – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Tuyết Sương – Kiểm Sát Viên.
Ngày 19 tháng 8 năm 2024, tại Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 271/2023/TLST-HNGĐ ngày 01/6/2023 về việc tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 03/7/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 64/2024/QÐST-HNGĐ ngày 29/7/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: ông Đỗ Đăng U, sinh năm 1979.
- Bị đơn: bà Lê Thị Khánh S, sinh năm 1978.
Địa chỉ: 2 Quốc lộ A, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: D L, Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 28/3/2023 và các buổi làm việc tại Tòa án, nguyên đơn ông Đỗ Đăng U trình bày:
Ông và bà Lê Thị Khánh S tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H, quận T (nay là Thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh theo giấy chứng nhận kết hôn số 38/2008 quyển số 01 ngày 14/2/2008.
Quá trình chung sống thời gian đầu hạnh phúc, nhưng đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn thường xuyên gây gổ, cãi vã do hai bên tính tình không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, cả hai đã cố gắng nhưng không thể hàn gắn được. Ông và bà S đã không còn sống chung với nhau từ năm 2017. Nay ông yêu cầu được ly hôn với bà Lê Thị Khánh S.Về con chung: ông và bà S có 01 con chung tên Đỗ Lê Bảo A sinh ngày 15/3/2008. Sau khi ly thân thì con vẫn đang ở chung với bà S. Ông yêu cầu để cho bà S tiếp tục nuôi con, ông đồng ý cấp dưỡng nuôi con 5.000.000 đồng/tháng cho đến khi con đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung: ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tòa án đã tống đạt hợp lệ cho bà Lê Thị Khánh S thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng bà S không có mặt tại Tòa án để trình bày ý kiến bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Tại phiên toà:
Nguyên đơn – ông Đỗ Đăng U có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Bị đơn – bà Lê Thị Khánh S vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, các đương sự, thẩm phán, thư ký và hội đồng xét xử tuân thủ đúng các quy định của bộ luật tố tụng dân sự. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Nguyên đơn – ông Đỗ Đăng U khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn – bà Lê Thị Khánh S có địa chỉ tại số D L, Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh nên đây là vụ án “tranh chấp về ly hôn”. Theo quy định tại khoản 1, Điều 28; điểm a, khoản 1, Điều 35; điểm a, khoản 1, Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh
[2] Về quan hệ hôn nhân:
Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 38/2008 quyển số 01 ngày 14/2/2008 của Ủy ban nhân dân phường H, quận T (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh và lời trình bày của đương sự nên có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa ông Đỗ Đăng U và bà Lê Thị Khánh S là hợp pháp và được pháp luật công nhận.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ, trình bày của ông Đỗ Đăng U và việc bà Lê Thị Khánh S đã được triệu tập tham gia hòa giải, xét xử tại Tòa án nhưng bà S không có mặt, thể hiện ông Đỗ Đăng U và bà Lê Thị Khánh S đã có mâu thuẫn trầm trọng và các bên không có ý chí muốn hàn gắn quan hệ hôn nhân.
Xét thấy tình cảm giữa bà S và ông U đã không còn, tình trạng hôn nhân giữa hai bên đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ Khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Đỗ Đăng U đối với bà Lê Thị Khánh S.
[3] Về con chung:
Căn cứ các giấy khai sinh số 57 ngày 11/4/2008 mang tên Đỗ Lê Bảo A do Ủy ban nhân dân Phường A1, Quận C, Thành Phố Hồ Chí Minh cấp và trình bày của đương sự thì bà Lê Thị Khánh S và ông Đỗ Đăng U có 01 con chung tên Đỗ Lê Bảo A sinh ngày 15/3/2008.
Sau khi bà S và ông U ly thân thì trẻ Bảo A đang sống chung với bà S. Ông U yêu cầu để bà S tiếp tục được nuôi con và ông đồng ý cấp dưỡng nuôi con 5.000.000đồng/tháng cho đến khi con đủ 18 tuổi.
Xét các điều kiện về vật chất cũng như tinh thần thì bà S đã nuôi con ổn định từ khi ông U và bà S không còn sống chung từ năm 2017. Do đó bà S là người phù hợp để nuôi dưỡng con chung và ông U đã tự nguyện cấp dưỡng nuôi con 5.000.000 đồng/tháng.
Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của ông U về việc giao trẻ Đỗ Lê Bảo A cho bà Lê Thị Khánh S nuôi dưỡng, ông Đỗ Đăng U có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con 5.000.000 đồng/tháng cho đến khi con đủ 18 tuổi.
[4] Về tài sản chung: Ông U không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
[5] Về án phí: Theo quy định tại điểm a, khoản 5 và điểm a, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án thì Ông U và bà S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1, Điều 28; điểm a, khoản 1, Điều 35; điểm a, khoản 1, Điều 39; khoản 4, Điều 147; Điều 228; khoản 1, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Căn cứ khoản 1, Điều 51; khoản 1, Điều 56; Điều 57; Điều 69; Điều 71; Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án;
Căn cứ Luật Thi hành án Dân sự.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đỗ Đăng U.
- Về hôn nhân: Ông Đỗ Đăng U được ly hôn với bà Lê Thị Khánh S.
- Về con chung: Giao trẻ Đỗ Lê Bảo A sinh ngày 15/3/2008 cho bà Lê Thị Khánh S trực tiếp nuôi dưỡng.
- Về cấp dưỡng nuôi con: ông Đỗ Đăng U có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con là 5.000.000 (năm triệu) đồng/tháng cho đến khi con đủ 18 tuổi.
Ông Đỗ Đăng U được quyền thăm nom con và phải có nghĩa vụ chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung. Không ai có quyền cản trở ông U thực hiện quyền này.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có quyền quyết định thay đổi người trực tiếp giữ nuôi hoặc việc cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Về án phí:
- Ông Đỗ Đăng U phải chịu án phí về yêu cầu ly hôn là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng và án phí về cấp dưỡng nuôi con là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2021/0008409 ngày 10/5/2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự Quận 3. Ông Đỗ Đăng U còn phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
3. Về quyền kháng cáo: Ông Đỗ Đăng U và bà Lê Thị Khánh S được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Duy |
Bản án số 28/2024/HNGĐ-ST ngày 19/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 28/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
