Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2024/HNGĐ-PT.

Ngày 22/7/2024.

V/v: “Không công nhận quan hệ vợ chồng, tranh chấp chia tài sản chung"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Hải Hường

Các Thẩm phán: Bà Ngọ Thị Thanh Hảo; Ông Nguyễn Trung Thông.

Thư ký phiên toà: Ông Tôn Trọng Hưng- Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Việt Anh - Kiểm sát viên trung cấp.

Trong các ngày 19 và 22/7/2024 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 01/2024/TLPT-HNGĐ ngày 05/01/2024 về việc: “không công nhận quan hệ vợ chồng, tranh chấp chia tài sản của nam, nữ sống chung như vợ chồng” do bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 123/2024/HNGĐ-ST ngày 03/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang bị kháng cáo. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 04/2023/QĐ-PT ngày 19/02/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 14/2024/QĐ-PT ngày 06/03/2024; Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 123/2024/TB-LPT ngày 02/4/2024; Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 06/2024/QĐ-PT ngày 23/4/2024; Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 175/2024/TB-LPT ngày 23/5/2024; Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 07/2024/QĐ-PT ngày 20/6/2024; Thông báo thời gian mở phiên tòa số 265/2024/TB - LPT ngày 08/7/2024 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn:Trần Thị H, sinh năm 1977 (Có mặt khi xét xử, vắng mặt khi tuyên án).

Địa chỉ: Thôn G, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Nguyễn Duy T - Văn phòng luật sự Đồng tâm và cộng sự - Đoàn luật sư tỉnh B (Có mặt khi xét xử, vắng mặt khi tuyên án).

* Bị đơn: Ông Đinh Xuân L, sinh năm 1974 (Có mặt).

Địa chỉ: Thôn G, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Nguyễn Đình H1- Văn phòng L2- Đoàn luật sư tỉnh B. (Có mặt khi xét xử, vắng mặt khi tuyên án).

Địa chỉ: Số F, Đường Đ, Phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Đinh Xuân H2, sinh năm 1997 (Vắng mặt).
  2. Nguyễn Thị T1, sinh năm 1962 (Vắng mặt)

Đều địa chỉ: Thôn G, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

  1. Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Bắc Giang do ông Thân Văn C - Chuyên viên Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện L là người đại diện theo ủy quyền. (theo Giấy ủy quyền số 856/GUQ ngày 06-6-2023) (Vắng mặt).
  2. Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang do ông Nguyễn Thành D- Phó Chủ tịch UBND xã T là người đại diện theo ủy quyền (Theo Giấy ủy quyền ngày 06/6/2022) (Vắng mặt).

* Trong vụ án còn có một số người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Ngân hàng N2 – Chi nhánh L3, Bắc Giang II và một số người khác không liên quan đến kháng cáo, Tòa án không triệu tập.

* Người kháng cáo: Bị đơn ông Đinh Xuân L.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong đơn khởi kiện đề ngày 25/9/2020 và những lời khai tiếp theo nguyên đơn bà Trần Thị H trình bày:

Bà và ông Đinh Xuân L tự nguyện chung sống cùng nhau từ ngày 06/8/1996 (Âm lịch) tại thôn G, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang, có được gia đình tổ chức cưới theo phong tục địa phương, nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Ban đầu tình cảm hoà thuận, hạnh phúc. Sau một thời gian sống chung ông bà phát sinh muâu thuẫn, nguyên nhân do ông L có quan hệ với người phụ nữ khác, bà đã khuyên bảo nhiều lần nhưng ông L không nghe mà còn đánh bà. Vì vậy bà đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ tại thôn H, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang sống ly thân ông L từ tháng 7/2019 (Âm lịch) đến nay, không ai quan tâm đến ai. Nay bà đề nghị Tòa án giải quyết không công nhận bà và ông L là vợ chồng.

- Về con chung: Bà và ông L có một con chung là Đinh Xuân H2, sinh ngày 08/10/1997. Hiện con chung đã trưởng thành, trên 18 tuổi có thể tự lo được cuộc sống của bản thân nên bà không có yêu cầu gì.

- Về tài sản chung: Trong thời gian chung sống, bà và ông L đã tạo lập được khối tài sản chung gồm:

1. Thửa đất có diện tích 1080m² (trong đó có 360m2 đất ở và 720m2 đất vườn) tại thôn G, xã T đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tên ông Đinh Xuân L. Vào sổ cấp Giấy chứng nhận số: 00314/QSDĐ/317 QĐ - UB (H) do Ủy ban nhân dân huyện L cấp ngày 18/8/2000, hiện nay được cấp lại thành 02 thửa sau:

- Thửa thứ nhất: Thửa đất có diện tích 360m² đất ở có diện tích đất đo đạc thực tế là 3990.1m²; (trong đó 360 m² đất ở tại nông thôn; 823m² đất ao, 2807.1m² là đất trồng cây lâu năm). Nguồn gốc đất ở là do bố mẹ ông L cho ông bà khi ông bà ra ở riêng. Diện tích đất tăng thêm là do ông bà vỡ vạc bờ và mua thêm của bà Nguyễn Thị T1 ở cùng thôn G, xã T vào khoảng năm 2004 (khi mua hai bên chỉ trao đổi bằng miệng, không làm văn bản giấy tờ), nay hai bên không có tranh chấp. Về diện tích đất ao là 823m² do ông bà nhận thầu với thôn G khoảng từ năm 2001 với thời hạn là 30 năm.

Ngày 10/6/2016 thửa đất trên được UBND huyện L cấp đổi tên hộ ông Đinh Xuân L tại thửa số 475, tờ bản đồ số 28, tại thôn G, xã T diện tích 4150,4m², (trong đó 360m² đất ở, 3790,4m² đất trồng cây lâu năm. Diện tích đất nhiều hơn so với đo thực tế ngày 19/3/2021 là do chưa trừ hành lang đường. Nay bà đề nghị Tòa án giải quyết theo diện tích đo thực tế ngày 19/3/2021.

Đối với diện tích đất ao, UBND xã T, huyện L và ông Đinh Xuân L đã thỏa thuận xong về việc trả lại diện tích đất công (đất ao) là 1217m² sau đo đạc thẩm định là 1215,6m² và UBND xã T đã rút yêu cầu khởi kiện không đề nghị Tòa án giải quyết về diện tích đất ao thì bà nhất trí với thỏa thuận đó và không có ý kiến gì. Về 16 cây bưởi đã trồng trên đất ao đến tháng 01/2031 phải trả lại cho UBND xã T, sau nếu Tòa án giao diện tích đất đó cho ai sử dụng thì sẽ tự thỏa thuận với UBND xã T sau.

- Thửa thứ hai: Thửa đất có diện tích 720m² đất vườn có diện tích đất đo đạc thực tế là 6465m² (bao gồn cả đất lúa). Nguồn gốc đất trên là đất do bố mẹ ông L cho ông bà khi ra ở riêng từ năm 1996, diện tích đất tăng thêm 5745m² là do phía trong thửa đất là đất thùng vũng ông bà đã vỡ vạc thêm và đổi với anh Vũ Văn H3 và nhận chuyển nhượng của ông Vũ Văn M cùng thôn vào khoảng năm 2003, 2004 (khi đổi và nhận chuyển nhượng, hai bên chỉ trao đổi bằng miệng, không làm văn bản giấy tờ), nay không có tranh chấp gì.

Ngày 10/6/2016 được UBND huyện L cấp đổi tên hộ ông Đinh Xuân L tại thửa số 431, tờ bản đồ số 28, tại thôn G, xã T diện tích 3.214m² đất trồng cây lâu năm.

Ngày 24/4/2018 được UBND huyện L cấp tên hộ ông Đinh Xuân L tại thửa số 417, tờ bản đồ số 28, tại thôn G, xã T diện tích 563,8m² đất trồng cây lâu năm.

Ngày 24/4/2018 được UBND huyện L cấp tên hộ ông Đinh Xuân L tại tờ bản đồ số 28 diện tích 2.748,6m² đất chuyên trồng lúa nước, tại thôn G, xã T.

Tổng diện tích tại 03 giấy chứng nhận là 6526,4m² trong khi diện tích đo thực tế là 6465m², bà H đề nghị Tòa án giải quyết theo diện tích đất đo đạc thực tế.

2. Thửa đất số 225; Tờ bản đồ số 26; Địa chỉ thửa đất: Thôn H, xã T. Diện tích 6.009m²; Hình thức sử dụng: Đất ở tại nông thôn: 360 m²; Đất vườn 5649m² đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tên bà Vi Thị L1, chồng là Nguyễn Đức N số BG 232161, vào sổ cấp Giấy chứng nhận: CH 00330; Quyết định cấp số 1066/QĐ-UBND do Ủy ban nhân dân huyện cấp ngày 03/10/2011. Ngày 28/10/2011 đăng ký sang tên Đinh Xuân L theo hồ sơ chuyển nhượng ngày 04/10/2011 nay có diện tích đất đo đạc thực tế là 6004.3m². Ngày 10/6/2016 được UBND huyện L cấp đổi tên ông Đinh Xuân L tại thửa số 201, tờ bản đồ số 32, tại thôn H, xã T, huyện L diện tích 6306,3m²; trong đó: Đất ở tại nông thôn: 360 m²; Đất vườn 5946,3m² đất trồng cây lâu năm, diện tích đất nhiều hơn so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ban đầu và diện tích đất đo thực tế ngày 19/3/2021 là do chưa trừ hành lang đường. Nên bà đề nghị Tòa án giải quyết theo diện tích đo thực tế ngày 19/3/2021.

3. Thửa đất có diện tích 120m² mua của ông Trần Văn T2, bà Lăng Thị N1thôn H, xã T từ khoảng năm 1998 và ông bà vỡ hoang thêm được 60m² tổng được khoảng 180m², nay đo đạc thực tế được 217m² trên đất có 11 cây vải. Ngày 24/4/2018 được UBND huyện L cấp tên hộ ông Đinh Xuân L tại thửa số 51, tờ bản đồ số 32, tại thôn G, xã T diện tích 1013,8m² đất trồng cây lâu năm. Bà xác định tài sản chung của bà và ông L chỉ có diện tích 217m² trên đất có 11 cây vải đã được ông L đề nghị và đo đạc vào ngày 14/01/2022. Diện tích đất còn lại không phải của bà và ông L.

Về vay nợ chung: Hiện bà và ông L có vay của Ngân hàng N2 - chi nhánh huyện L3, Bắc Giang II số tiền là 100.000.0000đồng từ năm 2017. Năm 2019 bà và ông L trả được 20.000.000đồng tiền gốc. Năm 2020 trả tiếp được 20.000.000đồng tiền gốc và lãi. Nay còn nợ lại 60.000.000đồng tiền gốc và tiền lãi.

Nay bà xác định toàn bộ diện tích đất dôi dư ở hai thửa đất có diện tích 1080m² trong đó 360m² đất ở và 720m² đất vườn tại thôn G, xã T đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tên Đinh Xuân L, vào sổ cấp Giấy chứng nhận số: 00314/QSDĐ/317 QĐ - UB (H) do Ủy ban nhân dân huyện cấp ngày 18/8/2000, ngày 10/6/2016 được UBND huyện L cấp đổi tên hộ ông Đinh Xuân L và thửa đất nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông N, bà L1, ngày 10/6/2016 được UBND huyện L cấp đổi tên ông Đinh Xuân L; thửa đất có diện tích 217m² cùng tài sản trên các thửa đất trên; 01 chiếc xe máy FUTURE mua năm 2020 biển số 98E1 71.990 bà đã kê khai và được hội đồng định giá theo các biên bản định giá ngày 19.3.2021; ngày 14.01.2022 và 22/8/2022 là tài sản chung của bà và ông L tạo lập trong thời gian chung sống cùng nhau nên bà đề nghị chia theo quy định của pháp luật.

Đối với diện tích đất 360m² đất ở và 720m² đất vườn là do bố mẹ ông L cho ông bà khi ra ở riêng đến năm 2000 mới được cấp giấy chứng nhận bà không đề nghị chia, bà đề nghị để ông L sử dụng. Diện tích đất ao là 1215,6m² đã thỏa thuận trả lại cho UBND xã thì bà không đề nghị chia.

Đối với khoản nợ, nay Ngân hàng N2 - chi nhánh huyện L3, Bắc Giang II kiện đòi số tiền 60.000.000đồng tiền gốc và tiền lãi phát sinh, bà đề nghị Tòa chia khoản nợ chung còn lại là 60.000.000đồng gốc và tiền lãi thì bà đề nghị Tòa án chia theo quy định của pháp luật.

* Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai, bị đơn ông Đinh Xuân L trình bày:

Ông và bà Trần Thị H có được tự nguyện tìm hiểu, chung sống cùng nhau từ ngày 06/8/1996 (Âm lịch) tại thôn G, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Được gia đình tổ chức cưới theo phong tục địa phương nhưng không đi đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Đến nay ông và bà H cũng chưa đi đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Ban đầu tình cảm hoà thuận, hạnh phúc. Ông xác định ông và bà H không có mâu thuẫn gì, nhưng bà H đã bỏ về nhà ngoại ở thôn H, xã T đi sống ly thân ông từ tháng 6/2020 (Âm lịch) đến nay, ông có đến nhà ngoại đón nhiều lần nhưng bà H không về, vì vậy ông, bà sống ly thân nhau từ đó đến nay. Nay ông không đồng ý yêu cầu của bà H.

- Về con chung: Ông và bà H có 01 con chung là Đinh Xuân H2, sinh ngày 08/10/1997. Hiện con chung đã trưởng thành trên 18 tuổi, tự lao động nuôi sống được bản thân nên ông không có đề nghị gì về con chung.

- Về tài sản chung:

1. Thửa đất có diện tích 1080m² tại thôn G, xã T đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tên Đinh Xuân L. Vào sổ cấp Giấy chứng nhận số: 00314/QSDD/317 QĐ - UB (H) do Ủy ban nhân dân huyện L cấp ngày 18/8/2000, trong đó:

- Thửa đất có diện tích 360m² đất ở có diện tích đất đo đạc thực tế là 3990,1m²; trong đó 360 m² đất ở tại nông thôn; 823m² đất ao, 2807,1m² là đất trồng cây lâu năm. Nguồn gốc đất ở là do bố mẹ ông cho ông khi ông ra ở riêng. Diện tích đất tăng thêm là do khi kê khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông không kê khai hết diện tích đất thực tế đang sử dụng, do ông có mua thêm của bà Nguyễn Thị T1 cùng thôn G, xã T ( khi mua hai bên chỉ trao đổi bằng miệng, không làm văn bản giấy tờ), nay hai bên không có tranh chấp. Về diện tích đất ao là 823m² do ông nhận thầu với thôn G khoảng từ năm 2001 với thời hạn là 30 năm, nay ông và UBND xã đã thỏa thuận xong ông nhất trí trả lại đất ao cho xã theo văn bản thỏa thuận và theo kết quả thẩm định. Nay UBND xã không đề nghị giải quyết về đất ao thì ông nhất trí không có ý kiến gì. Về 16 cây bưởi đã trồng trên đất ao đến tháng 01/2031 phải trả lại cho UBND xã T thì ông sẽ thỏa thuận với UBND xã sau.

Ngày 10/6/2016 thửa đất đã được UBND huyện L cấp đổi tên hộ ông Đinh Xuân L tại thửa số 475, tờ bản đồ số 28, tại thôn G, xã T diện tích 4150,4m²,

trong đó 360m² đất ở, 3790,4m² đất trồng cây lâu năm. Diện tích đất nhiều hơn so với đo thực tế ngày 19/3/2021 là do chưa trừ hành lang đường. Nên ông đề nghị Tòa án giải quyết theo diện tích đo thực tế và xác định đây là tài sản của riêng ông.

- Thửa đất có diện tích 720m² đất vườn có diện tích đất đo đạc thực tế là 6465m². Nguồn gốc đất trên là đất do bố ông cho ông khi ra ở riêng từ năm 1996, diện tích đất tăng thêm 5745m² là do khi kê khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông không kê khai hết diện tích đất thực tế đang sử dụng.

Ngày 10/6/2016 được UBND huyện L cấp đổi tên hộ ông Đinh Xuân L tại thửa số 431, tờ bản đồ số 28, tại thôn G, xã T diện tích 3214m² đất trồng cây lâu năm.

Ngày 24/4/2018 được UBND huyện L cấp tên hộ ông Đinh Xuân L tại thửa số 417, tờ bản đồ số 28, tại thôn G, xã T diện tích 563,8m² đất trồng cây lâu năm.

Ngày 24/4/2018 được UBND huyện L cấp tên hộ ông Đinh Xuân L tại tờ bản đồ số 28 diện tích 2748,6m² đất chuyên trồng lúa nước, tại thôn G, xã T.

Tổng diện tích tại 03 giấy chứng nhận là 6526,4m² trong khi diện tích đo thực tế là 6465m2. Nay ông đề nghị Tòa án giải quyết theo diện tích đất đo đạc thực tế. Ông xác định đây là tài sản của riêng ông, không liên quan đến bà H.

2. Thửa đất số 225; Tờ bản đồ số 26; Địa chỉ thửa đất: Thôn H, xã T. Diện tích 6009m²; Hình thức sử dụng: Đất ở tại nông thôn: 360 m²; Đất vườn 5649m² đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tên bà Vi Thị L1, chồng là Nguyễn Đức N số BG 232161, vào sổ cấp Giấy chứng nhận: CH 00330; Quyết định cấp số 1066/QĐ-UBND do Ủy ban nhân dân huyện cấp ngày 03/10/2011. Ngày 28/10/2011 đăng ký sang tên ông Đinh Xuân L theo hồ sơ chuyển nhượng ngày 04/10/2011 nay có diện tích đất đo đạc thực tế là 6004,3m². Ngày 10/6/2016 được UBND huyện L cấp đổi tên ông Đinh Xuân L tại thửa số 201, tờ bản đồ số 32, tại thôn H, xã T, huyện L diện tích 6306,3m² Trong đó: Đất ở tại nông thôn: 360 m²; Đất vườn 5946,3m² đất trồng cây lâu năm, diện tích đất nhiều hơn so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ban đầu và diện tích đất đo thực tế là do chưa trừ hành lang đường. Nên ông đề nghị Tòa án giải quyết theo diện tích đo thực tế.

3. Thửa đất có diện tích 120m² mua của ông Trần Văn T2 và bà Lăng Thị N1thôn H, xã T từ khoảng năm 1998 sau ông và bà H vỡ hoang thêm được 60m² tổng được khoảng 180m², nay đo đạc thực tế được 217m² trên đất có 11 cây vải hiện đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Ông xác định toàn bộ tài sản là các thửa đất và tài sản trên đất cùng 01 chiếc xe máy FUTURE ông mua năm 2020 biển số 98E1-71.990 bà H đã kê khai và được hội đồng định giá theo biên bản định giá ngày 19/3/2021 và 14/01/2022 ông xác định là tài sản của riêng ông, do ông làm ra và bố mẹ ông cho ông, nay đều được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tên ông Đinh Xuân L nên không liên quan đến bà H vì vậy ông không đồng ý chia tài sản chung cho bà H như bà H yêu cầu theo các biên bản đã định giá. Ông đề nghị Tòa chia khoản nợ chung còn lại từ khi bà H bỏ đi sống ly thân ông là 80.000.000đồng vay từ năm 2017 của Ngân hàng N2 - chi nhánh huyện L3, Bắc Giang II.

Tài sản chung giữa ông và bà H chỉ có thửa đất có diện tích 120m² mua của ông Trần Văn T2, bà Lăng Thị N1thôn H, xã T từ khoảng năm 1998 và vỡ hoang thêm được 60m² tổng được khoảng 180m², nay đo đạc thực tế được 217m² trên đất có 11 cây vải hiện đã được thẩm định, định giá theo biên bản ngày 14/01/2022.

Vì vậy ông đề nghị chia tài sản và công nợ cho ông và bà H theo quy định của pháp luật.

* Với nội dung nêu trên, Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 123/2024/HNGĐ-ST ngày 03/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang đã quyết định:

1. Không công nhận bà Trần Thị H và ông Đinh Xuân L là vợ chồng.

2. Chấp nhận yêu cầu chia tài sản chung của bà Trần Thị H, chấp nhận một phần yêu cầu chia tài sản chung của ông Đinh Xuân L.

Giao cho bà Trần Thị H quản lý, sử dụng tài sản là:

* Thửa đất số 225; Tờ bản đồ số 26; nay là thửa số 201, tờ bản đồ số 32 được UBND huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 10/6/2016 mang tên ông Đinh Xuân L tại thửa, tại thôn H, xã T, huyện L diện tích 6306,3m² (đo đạc thực tế là 6.004,3m²)

  • - Giá trị đất ở 360m² là 360.000.000 đồng.
  • - Giá trị đất vườn 5.644,3m² x 277.000đồng = 1.563.471.000 đồng.
  • - Giá trị cây trên đất:
  • 200 cây vải có đường kính tán từ 2,5m đến 3,0m có giá trị là 490.000.000đồng.
  • 56 cây vải có đường kính tán từ 1,5m đến 2,0m có giá trị là 46.480.000đồng.
  • Tổng giá trị đất và tài sản trên đất: 2.459.951.000đồng.

* Diện tích 120m² tại thửa số 51, tờ bản đồ số 32 đo đạc thực tế được 217m² trên đất có 11 cây vải trong tổng diện tích 1.013,8m² đất trồng cây lâu năm tại thôn G, xã T ngày 24/4/2018 UBND huyện L cấp GCN quyền sử dụng đất số CH 03862 cho hộ ông Đinh Xuân L;

  • - Giá trị 217m² đất trồng cây lâu năm theo thực tế chuyển nhượng tại địa phương là 48.174.000 đồng.
  • - 10 cây vải đường kính tán là 4m - 4,5m có giá trị là 39.350.000 đồng.

- 01 cây vải đường kính tán là 2m - 2,5m có giá trị là 1.415.000 đồng.

Tổng giá trị đất và cây trên đất là: 88.939.000đồng.

Tổng giá trị tài sản bà Trần Thị H được hưởng là 2.548.890.000đồng.

Giao cho ông Đinh Xuân L được quản lý, sử dụng tài sản chung là:

* Diện tích đất trồng cây lâu năm 2414,5m² trong thửa số 475, tờ bản đồ số 28, tại thôn G, xã T được Ủy ban nhân dân huyện L cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tên Đinh Xuân L ngày 18/8/2000.

Ngày 10/6/2016 đã được UBND huyện L cấp đổi tên hộ ông Đinh Xuân L tại thửa số 475, tờ bản đồ số 28, tại thôn G, xã T diện tích 4150,4m², trong đó 360m² đất ở, 3790,4m² đất trồng cây lâu năm có diện tích đất đo đạc thực tế là 3.990,1m²; trong đó 360m² đất ở 2414.5m² đất trồng cây lâu năm, 1215,6m² đất ao, (trừ đi diện tích 1215,6m² đất ao của xã và 360m² đất ở).

  • - Giá trị đất vườn 2414,5m² là: 670. 694.000 đồng.
  • - 01 căn nhà cấp IV được xây dựng năm 2012 trị giá 110.695.000 đồng.
  • - 62 cây bưởi có trị giá là 182.590.000 đồng.
  • Tổng giá trị đất và tài sản trên đất là 963.979.000đồng.

* Diện tích 720m² đất trồng cây lâu năm địa chỉ thửa đất tại thôn G, xã T, đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tên ông Đinh Xuân L năm 2000.

Ngày 10/6/2016 được UBND huyện L cấp đổi tên hộ ông Đinh Xuân L tại thửa số 431, tờ bản đồ số 28, tại thôn G, xã T diện tích 3214m² đất trồng cây lâu năm.

Ngày 24/4/2018 được UBND huyện L cấp tên hộ ông Đinh Xuân L tại thửa số 417, tờ bản đồ số 28, tại thôn G, xã T diện tích 563,8m² đất trồng cây lâu năm.

Ngày 24/4/2018 được UBND huyện L cấp tên hộ ông Đinh Xuân L tại tờ bản đồ số 28 diện tích 2748,6m² đất chuyên trồng lúa nước, tại thôn G, xã T.

Có tổng diện tích thực tế là 6.465m² (trừ đi 720m² đất trồng cây lâu năm).

Giá trị đất vườn 5745m² là 1.595.833.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản ông L được hưởng là: 2.559.812.000đồng.

(Có sơ đồ cụ thể kèm theo bản án).

3. Chấp nhận yêu cầu độc lập của Ngân hàng N2 - Chi nhánh L3, Bắc Giang II buộc:

Ông Đinh Xuân L phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng nông nghiệp số tiền gốc là 30.000.000đồng và 3.568.972đồng tiền lãi tính đến ngày 03/11/2023. Ngân hàng trả lại cho ông L Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Q 482557 do UBND huyện L cấp ngày 18/8/2000, sau khi ông L tất toán khoản nợ trên cho Ngân hàng.

Trần Thị H phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng nông nghiệp số tiền gốc là 30.000.000đồng và 3.568.972 đồng tiền lãi tính đến ngày 03/11/2023. Ngân hàng trả cho bà H Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BG 232161 do UBND huyện L cấp ngày 03/10/2011 sau khi bà H tất toán khoản nợ trên cho Ngân hàng.

4. Đình chỉ yêu cầu độc lập của UBND xã T đối với yêu cầu đòi lại diện tích 830m² đất ao ông L, bà H canh tác, sử dụng.

Ngoài ra bản án còn tuyên về lãi suất chậm thi hành án, án phí, quyền yêu cầu thi hành án, quyền kháng cáo cho các bên đương sự.

* Ngày 20/11/2023 nguyên đơn là ông Đinh Xuân L có đơn kháng cáo không nhất trí bản án sơ thẩm về phần chia tài sản. Đề nghị định giá lại tài sản và phân chia tài sản chung, công nợ chung.

* Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, các đương sự đề nghị tiến hành thẩm định, định giá lại đối với một số tài sản. Kết quả định giá ngày 28/3/2024 và kết quả thẩm định tại chỗ ngày 23/5/2024 do Tòa án cấp phúc thẩm thực hiện xác định:

Tài sản là cây trồng trên diện tích đất trồng cây lâu năm thửa số 201, tờ bản đồ số 32, địa chỉ thửa đất: Thôn H, xã T. Diện tích 6.009m²; Hình thức sử dụng: Đất ở tại nông thôn: 360m²; Đất vườn 5.649m² (đo thực tế 6.004,3m²) gồm:

  • 04 cây vải đường kính tán từ 6,5m đến 7,5m x 4.880.000đồng/1 cây = 19.520.000đồng.
  • 51 cây vải đường kính tán từ 4,5m đến 5,5m x 4.250.000đồng/1 cây = 216.750.000đồng
  • 190 cây vải đường kính tán từ 4,0m đến 4,5m x 3.935.000đồng/1 cây = 747.650.000đồng.
  • 36 cây vải đường kính tán từ 2,5m đến 3,0m x 2.450.000đồng/1 cây = 88.200.000đồng.
  • Tổng giá trị tài sản trên đất: 1.072.120.000đồng.

Ngoài ra ông L còn đề nghị định giá bổ sung một số tài sản là cây trồng trên diện tích đất thửa số 201, tờ bản đồ số 32 do ông chưa yêu cầu Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết cụ thể:

  • 200 cây Cam đường kính tán lá từ 1 m đến 1,5 m giá: 102.000.000đồng
  • 75 cây Cam đường kính tán lá từ 0,5m đến 1m giá: 19.350.000đồng
  • 75 cây cam đường kính tán lá dưới 0,5m giá: 4.500.000đồng
  • Giếng khoan và đường ống tưới nước: Ông bà thống nhất trị giá 30.000.000đồng.
  • Tổng số tài sản định giá bổ sung: 155.850.000đồng

- Tài sản là cây trồng trên thửa đất số 475, tờ bản đồ số 28, tại thôn G, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang gồm: 62 cây Bưởi đường kính gốc là 15cm đến 20cm x 2.945.000đồng/1 cây = 182.590.000đồng.

Ngoài ra ông L, bà H không đề nghị định giá tài sản nào khác trên các thửa đất này.

* Kết quả làm việc với cán bộ địa chính và đối chiếu với bản đồ địa chính thể hiện: Toàn bộ diện tích đất 6465m² bao gồm 03 thửa:

  • - Thửa số 431, tờ bản đồ số 28, tại thôn G, xã T diện tích 3214m² đất trồng cây lâu năm ngày 10/6/2016 được UBND huyện L cấp đổi tên hộ ông Đinh Xuân L.
  • - Thửa số 417, tờ bản đồ số 28, tại thôn G, xã T diện tích 563,8m² đất trồng cây lâu năm ngày 24/4/2018 được UBND huyện L cấp tên hộ ông Đinh Xuân L.
  • - Thửa 415, 416, 445, 439, 473, 450, tờ bản đồ số 28 diện tích 2748,6m² đất chuyên trồng lúa nước ngày 24/4/2018 được UBND huyện L cấp tên hộ ông Đinh Xuân L.

Đối chiếu với bản đồ địa chính thì gia đình ông L đang sử dụng các thửa 415, 416, 445, 450, 451; 456, 457, 458, 459 còn thửa 439 hiện nay do ông Đinh Xuân C1 đang quản lý sử dụng; Thửa 473 do ông Vũ Văn M1 đang quản lý sử dụng.

Hiện trạng các thửa đất này ông L đang sử dụng để trồng cây lâu năm, không trồng lúa như được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

* Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện, bị đơn rút một phần nội dung kháng cáo.

* Bị đơn ông L trình bày tại phiên tòa: Ông chung sống với bà H từ năm 1996 và sống ly thân năm 2020.

1. Đối với diện tích 1080m² trong đó 02 thửa riêng biệt, thửa 360m² đất ở và thửa 720m² đất vườn. Nguồn gốc đất ở là của bố mẹ ông L có từ năm 1996 cấp giấy chứng nhận lần đầu mang tên ông năm 2000 cụ thể:

Diện tích thửa đất 360m² (đo đạc thực tế là 3990,1m²) trong đó 360 m² đất ở tại nông thôn; 823m² đất ao, 2807,1m² đất trồng cây lâu năm. Diện tích đất tăng thêm là do đo bằng tay và tự kê khai và do xã bảo khai thế nào thì khai thế đó. Năm 2016 đã được UBND huyện L cấp đổi tên hộ ông Đinh Xuân L tại thửa số 475, tờ bản đồ số 28, diện tích đất là 4.150.4m².

Diện tích thửa đất 720m² đất (đo đạc thực tế là 6465m²), năm 2016 được UBND huyện L cấp đổi tên hộ ông Đinh Xuân L tại thửa số 431, tờ bản đồ số 28, tại thôn G, diện tích 3214m² đất trồng cây lâu năm tại xã T và năm 2018 được UBND huyện L cấp tên hộ ông Đinh Xuân L tại thửa số 417, tờ bản đồ số 28, diện tích 2748,6m² đất chuyên trồng lúa nước tại thôn G, xã T.

Các thửa đất trên là tài sản riêng của ông, ông không tự nguyện sát nhập vào tài sản chung của ông với bà H, ông là người đi kê khai để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông chỉ ký vào đơn và các giấy tờ kèm theo, còn đơn ông không viết cấp cho “hộ gia đình”, việc viết “hộ” không phải ý trí của ông.

2. Thửa đất số 225, tờ bản đồ số 26, diện tích 6009m² tại thôn H, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang (nay đo đạc lại năm 2015 là thửa số 201 tờ bản đồ số 32) do ông mua của ông Nguyễn Đức N, bà Vi Thị L1, năm 2018 cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên 1 mình ông không phải tên hộ gia đình. Tòa án cấp sơ thẩm chia đôi thửa đất này nên ông không đồng ý.

Ông và bà H chỉ có tài sản chung là thửa đất số 51, tờ bản đồ số 32, diện tích 120m² (đo đạc thực tế 217m²) đã được cấp giấy chứng nhận mang tên ông. (Thửa này đang nằm trong phần đất Tòa án cấp sơ thẩm chia cho bà H) ông đồng ý chia đôi cho mỗi người 1/2.

Khoản nợ 24.000.000đồng của ông Vũ Xuân C2 và khoản nợ lãi của Ngân hàng ông rút yêu cầu không đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét nữa.

Ông đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm lý do tài sản riêng của ông nhưng lại chia cho bà H nên ông không đồng ý.

Đối với tài sản là giếng khoan và số cây cam trên thửa 201 là tài sản riêng của ông, do ông trồng sau khi Tòa án cấp sơ thẩm định giá. Ông đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận yêu cầu của ông, nếu giao đất cho bà H buộc bà H trả ông bằng tiền theo kết quả định giá.

* Nguyên đơn bà H trình bày tại phiên tòa: Bà không đồng ý với kháng cáo của ông L, 04 thửa đất trên là tài sản chung của ông L với bà. Bà không đề nghị Tòa án xem xét chia tài sản là diện tích đất 1080m² đất có nguồn gốc của bố mẹ ông L để lại, bà đồng ý cho ông L sử dụng. Đối với tài sản là các diện tích đất khác đều là tài sản chung của bà với ông L, bà đồng ý với cách chia của bản án sơ thẩm. Đối với giếng khoan và số cây cam trên thửa 201 do ông L trồng, số cây này được trồng sau khi Tòa án sơ thẩm định giá nay bà đồng ý trả giá trị tài sản này cho ông L.

* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông L trình bày tranh luận: Việc bà H rút phần yêu cầu khởi kiện diện tích đất nông nghiệp và ông L rút một phần yêu cầu kháng cáo về công nợ là tự nguyện nên đề nghị HĐXX chấp nhận. Đối với thửa đất 225 (nay là thửa 201) do ông L mua của ông bà Nga L, GCN cấp cho một mình ông L không phải là tài sản chung của ông L, bà H. Các thửa đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là tài sản riêng của ông L, sơ đồ kèm theo bản án không đúng với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tòa án cấp sơ thẩm chia cho bà H 1/2 giá trị tài sản là ảnh hưởng đến quyền lợi của ông L. Đề nghị hủy bản án sơ thẩm.

* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà H trình bày tranh luận: Việc ông L cho rằng tài sản là thửa đất 201 là tài sản riêng của ông L là không đúng. Thời điểm ông L, bà H vay Ngân hàng cả ông L, bà H cùng phải ký vay và cùng ký thế chấp thửa đất trên, xác định thửa đất là tài sản chung của ông bà và cùng xác nhận nợ là nợ chung. Do vậy, việc ông L cho rằng thửa đất là tài sản riêng của ông L là không có căn cứ. Toàn bộ 4 thửa đất đều tạo lập trong thời kỳ hôn nhân của ông bà, phần đất 1080m² có nguồn gốc của bố mẹ ông L cho, bà H tự nguyện không yêu cầu chỉ yêu cầu chia phần đất vợ chồng mua thêm và khai phá thêm. Do vậy, đề nghị Tòa án xem xét không chấp nhận kháng cáo của ông L, giải quyết đảm bảo quyền lợi cho bà H. Đối với việc bà H rút một phần yêu cầu về diện tích đất nông nghiệp nên đề nghị HĐXX chấp nhận.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu ý kiến:

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã được đảm bảo đúng quy định của pháp luật.

- Về nội dung: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 217; Điều 311; khoản 2 và khoản 4 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự

Đề nghị HĐXX hủy một phần bản án sơ thẩm, đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà H đối với diện tích 2.748,6m² đất chuyên trồng lúa nước. Đình chỉ một phần kháng cáo của ông L đối với yêu cầu giải quyết công nợ của ông C2 và khoản lãi của Ngân hàng.

Sửa bản án sơ thẩm số 123/2024/HNGĐ-ST ngày 03/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang: Giao cho bà H thửa đất số 201 và thửa đất 51 và tài sản gắn liền trên 02 thửa đất. Giao cho ông L thửa đất số 431, 417, 475 và tài sản gắn liền trên thửa đất 475. Buộc bà H phải trả tiền cho ông L do bà H được nhận tài sản nhiều hơn ông L. Công nhận thỏa thuận của các đương sự về việc bà H trả cho ông L tài sản là giếng khoan và số cây cam trồng trên thửa đất số 201 tổng trị giá 155.850.000đồng.

Chi phí thẩm định, định giá: Ông L phải chịu 12.000.000đồng, bà H phải chịu 4.000.000đồng.

Do bà H rút một phần yêu cầu tại phiên tòa phúc thẩm và ông L đồng ý nên phần án phí của bản án sơ thẩm liên quan đến thửa đất diện tích 2.748,6m² đất chuyên trồng lúa nước bà H, ông L vẫn phải chịu án phí sơ thẩm.

- Về án phí phúc thẩm: Do sửa án sơ thẩm nên ông L không phải chịu án phí phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, căn cứ tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh luận tại phiên tòa, nghe ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, sau khi thảo luận nghị án, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

[1]. Về sự vắng mặt của một số người tham gia tố tụng: Người tham gia tố tụng là 1 số người có quyền lợi nghĩa vụ liên đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt. HĐXX căn cứ quy định tại Điều 227- Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt.

[2]. Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số: 123/2024/HNGĐ-ST ngày 03/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang đã giải quyết về quan hệ hôn nhân; các khoản nợ của Ngân hàng N2. Nội dung này các đương sự không kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị có hiệu lực pháp luật nên HĐXX không xem xét giải quyết.

[3]. Quá trình xét xử phúc thẩm, ông L đề nghị giám định chữ viết “Hộ ông Đinh Xuân L” trong hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngày 18/3/2024 Tòa án đã ban hành công văn số 85/CP-TA mượn Chi nhánh văn phòng đăng ký tài liệu gốc là hồ sơ cấp giấy để thực hiện việc giám định theo yêu cầu của ông L. Ngày 10/4/2024 Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện L có công văn số 125/CV-VPĐK trả lời: Do đơn vị có sự thay đổi cán bộ lưu trữ, cán bộ trước đã lấy để pho tô cung cấp cho Tòa án đã không cất vào vị trí cũ nên chưa tìm thấy. Tại phiên tòa ngày 23/4/2024 ông không đề nghị giám định nữa nhưng ông đề nghị Tòa án xem xét giải quyết chữ viết “hộ gia đình” không phải chữ của ông, ông thừa nhận chữ ký L và chữ Viết Đinh Xuân L tại phần “Người viết đơn” là chữ của ông. Do vậy Tòa án cấp phúc thẩm không thực hiện việc giám định chữ viết theo yêu cầu của ông L nữa.

[4]. Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn bà H rút yêu cầu không đề nghị Tòa án phân chia tài sản đối với phần diện tích 2.748,6m² đất chuyên trồng lúa nước đã được UBND huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông L đồng ý với đề nghị rút yêu cầu giải quyết về diện tích 2.748,6m² đất chuyên trồng lúa nước của bà H, không đề nghị Tòa án giải quyết đối với diện tích đất này. Đồng thời ông L rút một phần kháng cáo, không đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết đối với nội dung kháng cáo về khoản nợ 24.000.000đồng của ông Vũ Xuân C2 và khoản nợ lãi của Ngân hàng N2 - Chi nhánh L3, Bắc Giang II. Xét thấy việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của bà H và việc rút một phần yêu cầu kháng cáo của ông L là tự nguyện, không trái pháp luật. Do vậy Hội đồng xét xử cần căn cứ điểm c khoản 1 Điều 289, điểm b khoản 1 Điều 299 Bộ luật tố tụng dân sự:

Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với một phần yêu cầu kháng cáo của ông L về khoản nợ 24.000.000đồng của ông Vũ Xuân C2 và khoản nợ lãi của Ngân hàng N2 - Chi nhánh L3, Bắc Giang II.

- Hủy một phần Bản án sơ thẩm số 123/2024/HNGĐ-ST ngày 03/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang và đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của bà H đối với phần diện tích 2.748,6m² đất chuyên trồng lúa nước tại thôn G, xã T đã được UBND huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 24/4/2018 mang tên hộ ông Đinh Xuân L.

[5]. Xét nội dung kháng cáo của ông Đinh Xuân L, HĐXX thấy:

Trần Thị H và ông Đinh Xuân L trong thời gian chung sống từ năm 1996 đến nay ông bà có các tài sản gồm:

[5.1]. Thửa đất có diện tích 1.080m² (trong đó có 360m² đất ở và 720m² đất trồng cây lâu năm) tại thôn G, xã T đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Đinh Xuân L. Vào sổ cấp Giấy chứng nhận số : 00314/QSDD/317QĐ-UB(H) do Ủy ban nhân dân huyện L cấp ngày 18/8/2000. Hiện nay được cấp lại thành các thửa sau:

Thửa thứ nhất: Thửa số 475, tờ bản đồ số 28, diện tích đất 4.150,4m² (trong đó 360m² đất ở và 3790m² đất trồng cây lâu năm), diện tích đất đo đạc thực tế là 3990,1m² (trong đó 360m² đất ở, 3630,1m² đất trồng cây lâu năm) tại thôn G, xã T được UBND huyện L cấp GCNQSDĐ ngày 10/6/2016 mang tên hộ ông Đinh Xuân L.

Thửa thứ hai: Thửa số 431, tờ bản đồ số 28, diện tích 3214,0m² đất trồng cây lâu năm tại thôn G, xã T được UBND huyện L cấp GCNQSDĐ ngày 10/6/2016 mang tên hộ ông Đinh Xuân L.

Ông L cho rằng thửa số 475 và thửa số 431 ông không tự nguyện sát nhập vào tài sản chung của ông với bà H. Hội đồng xét xử thấy: Thửa đất trên có nguồn gốc là do bố mẹ đẻ ông L cho diện tích 1080m² (trong đó có 360m² đất ở và 720m2 đất vườn) do ông bà vỡ vạc khai phá thêm và đổi với anh Vũ Văn H3 và nhận chuyển nhượng của ông Vũ Văn M nên có được hai thửa đất như hiện nay. Các bên đều thừa nhận thửa đất nguồn gốc là do bố mẹ đẻ ông L cho còn việc mua thêm, khai phá thêm và đổi đất là do ông L và bà H cùng có công sức từ sau khi chung sống cùng nhau năm 1996. Việc ông L trình bày thửa số 475 và thửa số 431 là tài sản riêng của ông, ông không tự nguyện sát nhập vào tài sản chung của ông với bà H, ông là người đi kê khai để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông chỉ ký vào đơn và các giấy tờ kèm theo, còn đơn ông không viết cấp cho “hộ gia đình”, việc viết “hộ” không phải ý trí của ông. Quá trình giải quyết vụ án bà H cũng không có yêu cầu gì đối với phần đất diện tích 1.080m² có nguồn gốc của bố mẹ ông L này, bà đề nghị giao toàn bộ diện tích 1.080m² cho ông L được quyền sở hữu và định đoạt, bà chỉ yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết chia phần đất trồng cây lâu năm do ông bà khai phá tân tạo, mua thêm và đổi đất được mà có và được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đối với thửa số 475 và thửa số 431 trên sau khi trừ đi diện tích đất 1080m² (trong đó có 360m² đất ở và 720m2 đất vườn). Do bà H không yêu cầu nên Tòa án cấp sơ thẩm cũng không xem xét chia đối với diện tích 1.080m² (trong đó có 360m² đất ở và 720m² đất vườn) nêu trên, ông L được hưởng toàn bộ diện tích đất này mà không phải thực hiện nghĩa vụ gì đối với nhà nước. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm không giải quyết và không cần xem xét gì đến việc ông L có tự nguyện sát nhập diện tích đất 1.080m² hay không là có căn cứ. Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm thấy việc ông L không đồng ý chia đất cho bà H là không có căn cứ.

Cụ thể đối với thửa số 475, diện tích đất 4.150,4m² (trong đó 360m² đất ở và 3790m² đất trồng cây lâu năm), diện tích đất đo đạc thực tế là 3990,1m² (trong đó 360m² đất ở, 3630,1m² đất trồng cây lâu năm) tại thôn G, xã T được UBND huyện L cấp GCNQSDĐ ngày 10/6/2016 mang tên hộ ông Đinh Xuân L. Bà H không yêu cầu chia phần đất ở 360m² có nguồn gốc của bố mẹ ông L cho và phần đất ao 1215,6m² ông L và bà H đều thống nhất trả lại UBND xã T. Do vậy diện tích đất còn lại đề nghị giải quyết nằm trong thửa đất số 475, tờ bản đồ số 28 là 2414,5m² đất trồng cây lâu năm.

Thửa số 431, tờ bản đồ số 28, diện tích 3214,0m² đất trồng cây lâu năm tại thôn G, xã T được UBND huyện L cấp GCNQSDĐ ngày 10/6/2016 mang tên hộ ông Đinh Xuân L. Bà H không yêu cầu chia phần đất ở 720m² có nguồn gốc của bố mẹ ông L cho. Do vậy diện tích còn lại để chia trong vụ án này là 2.494m² đất trồng cây lâu năm.

Như vậy, cần xác định diện tích 2414,5m² đất trồng cây lâu năm tại thửa số 475 và diện tích 2494m2 tại thửa số 431 đất trồng cây lâu năm là tài sản chung của ông L, bà H và chia cho ông L, bà H mỗi người 1/2 giá trị tài sản là phù hợp. Do vậy, kháng cáo của ông L về hai thửa đất nêu trên không có căn cứ chấp nhận.

[5.2]. Đối với thửa đất số 417, tờ bản đồ số 28, diện tích 563,8m² đất trồng cây lâu năm được Ủy ban nhân dân huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 20/4/2024 mang tên hộ ông Đinh Xuân L:

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa phúc thẩm ông L cho rằng thửa đất trên là thửa đất lúa được UBND huyện chuyển mục đích sử dụng từ đất lúa của riêng ông, là tài sản của riêng ông, ông không đồng ý chia cho bà H. Hội đồng xét xử thấy: Theo các tài liệu có trong hồ sơ không có tài liệu nào thể hiện thửa đất trên có nguồn gốc của ông L, tại phiên tòa ông L không đưa ra được tài liệu căn cứ gì xác định nguồn gốc là đất lúa của riêng ông. Thửa đất trên được thể hiện trên bản đồ là thửa đất trồng cây lâu năm và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất riêng và nguồn gốc đất là: Thửa đất được công nhận quyền sử dụng đất như giao đất không thu tiền sử dụng đất nên việc ông L trình bầy nguồn gốc từ đất lúa và ông chuyển mục đích sử dụng là không có căn cứ. Do vậy thửa đất trên được chia làm hai phần cho mỗi ông bà một phần như bản án sơ thẩm nhận định là có căn cứ. Do vậy, kháng cáo của ông L về thửa đất số 417 là tài sản của ông là không có căn cứ chấp nhận.

[5.3]. Đối với thửa đất số 225, tờ bản đồ số 26, diện tích 6.009m² được UBND huyện L cấp GCN ngày 28/10/2011. Ngày 10/6/2016 được UBND huyện L cấp đổi tên ông Đinh Xuân L thành thửa số 201, tờ bản đồ số 32, tại thôn H, xã T, huyện L diện tích 6306,3m², hiện nay diện tích đo đạc thực tế là 6004,3m² (viết tắt là thửa số 201).

Ông L cho rằng thửa đất này do ông mua của ông Nguyễn Đức N, bà Vi Thị L1 ngày 28/10/2011 được chỉnh lý trang 4 mang tên 1 mình ông. Năm 2016 ông được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên 1 mình ông không phải tên hộ gia đình, Tòa án cấp sơ thẩm chia đôi cho ông và bà H ông không đồng ý. Hội đồng xét xử thấy: Tại phiên tòa phúc thẩm ông L trình bầy nguồn tiền ông mua đất của ông N, bà L1 là tiền do ông tiết kiệm được mà có trước thời điểm ông kết hôn với bà H. Bà H trình bày vợ chồng sau khi chung sống cùng nhau năm 1996 đến năm 2011 mua đất của ông N, bà L1, tiền mua đất do vợ chồng làm ăn và tiết kiệm được mà có, thời điểm mua đất ông bà chung sống hạnh phúc, ông bà là người đến gặp ông N, bà L1 để hỏi mua đất.

Ông N bà L1 là người bán đất cũng trình bày: Năm 2011 ông L bà H là người đến giao dịch và cùng hỏi mua đất của ông bà, việc trả tiền mua đất là cả ông L, bà H đến thanh toán và Hợp đồng ban đầu cũng thể hiện người mua là ông L, bà H. Tại phiên tòa ông L cũng không cung cấp được tài liệu căn cứ gì chứng minh số tiền mua đất của ông N, bà L1 là của riêng mình ông, là tài sản riêng của ông nên Tòa án cấp sơ thẩm xác định là tài sản chung của ông L bà H và chia cho bà H là có căn cứ. Do vậy, kháng cáo của ông L về thửa đất nêu trên không có căn cứ chấp nhận.

[5.4]. Đối với diện tích 120m² (đo đạc thực tế được 217m²) tại thửa đất số 51, tờ bản đồ số 32, trên đất có 11 cây vải:

Thửa số 51, tờ bản đồ số 32, diện tích 1013,8m² đất trồng cây lâu năm tại thôn G, xã T đã được UBND huyện L cấp GCNQSDĐ ngày 24/4/2018 mang tên hộ ông Đinh Xuân L. Quá trình giải quyết vụ án, ông L và bà H đều thống nhất chỉ giải quyết đối với tài sản chung là diện tích đất 120m² (đo đạc thực tế 217m²) nằm trong thửa số 51 nêu trên; phần diện tích còn lại không đề nghị Tòa án giải quyết.

Cả bà H, ông L xác định diện tích đất 217m² và 11 cây vải trị giá 88.939.000đồng này là tài chung là đều đồng ý chia cho mỗi người 1/2. Ông L không kháng cáo đối với thửa đất này, Tòa án cấp sơ thẩm chia cho ông L và bà H mỗi người 1/2 giá trị tài sản là phù hợp.

[5.5]. Đối với tài sản là 350 cây cam và giếng khoan, đường ống tưới nước trên thửa số 201, tờ bản đồ số 32, tại thôn H, xã T, huyện L diện tích 6306,3m², hiện nay diện tích đo đạc thực tế là 6004,3m²:

Quá trình xét xử sơ thẩm, khi Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành thẩm định và định giá tài sản thì ông L chưa trồng cam và chưa khoan giếng, chưa làm thế thống tưới nước. Ông L xác định những tài sản này là do toàn bộ công sức của ông L hình thành, bà H không có công sức gì và đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm xem xét buộc bà H phải thanh toán cho ông L giá trị các cây cam và giếng khoan này. Hội đồng xét xử thấy: Số cây cam và giếng khoan, đường ống tưới nước này được trồng và làm năm 2022 sau khi Tòa án cấp sơ thẩm định giá tài sản, quá trình giải quyết vụ án ông L và bà Hải c cugnxHair không có yêu cầu gì. Tại phiên tòa phúc thẩm, bà H đồng ý với yêu cầu của ông L trả số tiền giếng khoan trị giá 30.000.000đồng và tiền cây cam trị giá 125.850.000đồng nếu bà được chia thửa đất trên. Do thửa 201 giao cho bà H quản lý sử dụng, các đương sự thỏa thuận được với nhau về số cây cam và giếng khoan, đường ống tưới nước này nên Hội đồng xét xử cần căn cứ Điều 300 Bộ luật tố tụng dân sự, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm, giao toàn bộ số cây cam và giếng khoan, đường ống tưới nước trên thửa đất số 201 cho bà H, buộc bà H trả cho ông L số tiền 155.850.000đồng là có căn cứ.

[5.6]. Do các thửa đất trên đều được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số thửa và bản đồ cụ thể nhưng Tòa án cấp sơ thẩm khi đo đạc lại diện tích trên điều chỉnh theo số thửa mới mà không có hướng dẫn cũng như không có văn bản nào điều chỉnh về số thửa cũng như bản đồ địa chính của cơ quan nhà nước có thẩm quyền liên quan đến số thửa của các thửa đất trên nên Hội đồng xét xử xác định lại số thửa đất theo đúng GCNQSDĐ cho phù hợp với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để đảm bảo cho việc thi hành án. Nội dung này Tòa án cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm.

[6]. Hội đồng xét xử xác định tài sản chung của ông L và bà H gồm:

  • - Thửa đất số 201, tờ bản đồ số 32, tại thôn H, xã T, huyện L được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp ngày 10/6/2016 diện tích 6306,3m² (đất đo đạc thực tế là 6.004,3m²), trong đó 360m² đất ở, 5.644,3m² đất trồng cây lâu năm và 281 cây vải trên đất. Tổng giá trị là 2.995.591.100đồng.
  • - Thửa số 51, tờ bản đồ số 32, diện tích 120m² đất trồng cây lâu năm (đo đạc thực tế được 217m²) (nằm trong tổng diện tích 1.013,8m²) tại thôn G, xã T và 11 cây vải trên đất. Tổng giá trị là 88.939.000đồng.
  • - Thửa đất số 417, tờ bản đồ số 28, diện tích 563,8m² đất trồng cây lâu năm tại thôn G, xã T. Tổng giá trị là: 156.610.000đồng.
  • - Diện tích đất 2.494m² đất trồng cây lâu năm nằm trong thửa số 431, tờ bản đồ số 28, diện tích 3214,0m² đất trồng cây lâu năm tại thôn G, xã T. Tổng giá trị là: 692.775.000đồng.
  • - Diện tích đất 2414,5m² đất trồng cây lâu năm nằm trong thửa số 475, tờ bản đồ số 28, diện tích đất 4.150,4m² tại thôn G, xã T và tài sản trên đất gồm: 01 căn nhà cấp IV được xây dựng năm 2012, 62 cây bưởi. Tổng giá trị tài sản là 963.979.000đồng.

Tổng giá trị tài sản chung của ông L và bà H là: 4.897.894.100đồng. Hội đồng xét xử xác định công sức đóng góp của ông L và bà H là như nhau nên chia cho mỗi bên được hưởng 1/2 giá trị tài sản.

* Xác định tài sản riêng của ông Đinh Xuân L gồm:

  • - Diện tích 360m2 đất ở nằm trong thửa đất số 475, tờ bản đồ số 28, diện tích đất 4.150,4m2 tại thôn G, xã T được UBND huyện L cấp ngày 10/6/2016 mang tên hộ ông Đinh Xuân L và diện tích 720m² đất trồng cây lâu năm nằm trong thửa đất số 431, tờ bản đồ số 28, diện tích 3214,0m² tại thôn G, xã T được UBND huyện L cấp GCNQSDĐ ngày 10/6/2016 mang tên hộ ông Đinh Xuân L.
  • - 350 cây cam và giếng khoan, đường ống tưới nước trên thửa số 201, tờ bản đồ số 32 tổng trị giá 155.850.000đồng.

[6.1]. Chia cho bà Trần Thị H quản lý, sử dụng tài sản là:

  • - Thửa đất số 201, tờ bản đồ số 32, tại thôn H, xã T, huyện L được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp ngày 10/6/2016 diện tích 6306,3m² (đất đo đạc thực tế là 6.004,3m²), trong đó: đất ở tại nông thôn: 360m²; đất trồng cây lâu năm 5.644,3m² mang tên ông Đinh Xuân L trị giá: 1.923.471.000đồng. Trên đất có các tài sản gắn liền: 04 cây vải đường kính tán từ 6,5m đến 7,5m: 4.880.000đồng/1 cây = 19.520.000đồng. 51 cây vải đường kính tán từ 4,5m đến 5,5m: 4.250.000đồng/1 cây = 216.750.000đồng. 190 cây vải đường kính tán từ 4,0m đến 4,5m: 3.935.000đồng/1 cây = 747.650.000đồng; 36 cây vải đường kính tán từ 2,5m đến 3,0m: 2.450.000đồng/1 cây = 88.200.000đồng. Tổng tài sản trên đất: 1.072.120.000đồng. Tổng giá trị đất và tài sản trên đất: 2.995.591.100đồng.
  • Giao cho bà Trần Thị H quản lý sử dụng 350 cây cam và giếng khoan, đường ống tưới nước trên thửa số 201, tờ bản đồ số 32 là tài sản riêng của ông Đinh Xuân L tổng trị giá 155.850.000đồng.
  • - Thửa số 51, tờ bản đồ số 32, diện tích 120m² đất trồng cây lâu năm (đo đạc thực tế được 217m²) (nằm trong tổng diện tích 1.013,8m²) tại thôn G, xã T được UBND huyện L cấp GCN quyền sử dụng đất số CH 03862 ngày 24/4/2018 cho hộ ông Đinh Xuân L trị giá: 48.174.000đồng. Trên đất có tài sản gắn liền gồm: 10 cây vải đường kính tán là 4m - 4,5m. 01 cây vải đường kính tán là 2m - 2,5m. Tổng tài sản trên đất: 40.765.000đồng. Tổng giá trị đất và cây trên đất thửa 51 là: 88.939.000đồng.

Tổng giá trị tài sản giao cho bà H là 3.084.530.100đồng + 155.850.000đồng = 3.240.380.100đồng.

[6.2]. Chia cho ông Đinh Xuân L được quản lý, sử dụng tài sản chung là:

  • - Thửa đất số 417, tờ bản đồ số 28, diện tích 563,8m² đất trồng cây lâu năm tại thôn G, xã T được Ủy ban nhân dân huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 24/4/2018 mang tên hộ ông Đinh Xuân L, trị giá: 156.610.000đồng.
  • - Diện tích đất 2.494m² đất trồng cây lâu năm nằm trong thửa số 431, tờ bản đồ số 28, diện tích 3214,0m² đất trồng cây lâu năm tại thôn G, xã T. Tổng giá trị là: 692.775.000đồng.
  • - Diện tích đất 2414,5m² đất trồng cây lâu năm trị giá: 670.692.000đồng nằm trong thửa đất số 475, tờ bản đồ số 28, diện tích đất 4.150,4m² (trong đó 360m² đất ở và 3790m2 đất trồng cây lâu năm) được UBND huyện L cấp ngày 10/6/2016 mang tên hộ ông Đinh Xuân L. Tài sản trên đất gồm: 01 căn nhà cấp IV được xây dựng năm 2012 trị giá 110.695.000 đồng và 62 cây bưởi có trị giá là 182.590.000đồng. Tổng giá trị đất và tài sản trên đất là 963.977.000đồng.

Tổng giá trị tài sản chia cho ông L là 1.813.364.000đồng.

Vậy tổng tài sản chung của ông bà là 4.897.894.100đồng : 2 = 2.448.947.050đồng. Bà H được nhận tài sản là 3.084.530.100đồng, ông L được nhận tài sản là 1.813.364.000đồng nên bà H phải trả ông L 635.583.050 đồng do bà H được nhận tài sản nhiều hơn ông L. Bà H được giao quản lý sử dụng 350 cây cam và giếng khoan, đường ống tưới nước trên thửa số 201, tờ bản đồ số 32 là tài sản riêng của ông Đinh Xuân L tổng trị giá 155.850.000đồng. Do đó tổng số tiền bà H phải trả cho ông L là: 791.433.050đồng.

[7]. Từ những nội dung trên, HĐXX căn cứ khoản 2 Điều 308; Điều 309; điểm c khoản 1 điều 289; điểm b khoản 1 Điều 299; Điều 300 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử chấp nhận 1 phần kháng cáo của ông Đinh Xuân L; chấp nhận việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị H, hủy và đình chỉ 1 phần bản án sơ thẩm đối với diện tích 2.748,6m² đất chuyên trồng lúa nước địa chỉ thửa đất: thôn G, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Sửa bản án sơ thẩm số 123/2024/HNGĐ-ST ngày 03/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang như nhận định đã nêu ở trên.

[8]. Án phí sơ thẩm:

Ông L, bà H mỗi người được chia được chia 2.448.947.050 đồng, được trừ khoản nợ phải trả ngân hàng 33.568.972đồng nên mỗi ông bà phải chịu 80.307.000đồng án phí chia tài sản.

Do nguyên đơn rút 1 phần yêu cầu khởi kiện, bị đơn rút yêu cầu kháng cáo đối với diện tích 2.748,6m² đất chuyên trồng lúa nước nên ông L bà và H mỗi người phải chịu 1/2 án phí đối với giá trị tài sản này. Tuy nhiên Tòa án cấp sơ thẩm tính giá trị đất chuyên trồng lúa nước là đất trồng cây lâu là không phù hợp. Tại phiên tòa phúc thẩm ông L và bà H đều đề nghị xác định giá trị đất chuyên trồng lúa nước là 50.000đồng/m². Do đó cần xác định án phí đối với diện tích 2.748,6m² đất chuyên trồng lúa nước: 2.748,6m² x 50.000đồng/m2 = 117.430.000đồng x 5% = 6.871.500đồng; ông L và bà H mỗi người phải chịu 3.435.500đồng án phí.

Ông Đinh Xuân L, bà Trần Thị H tại phiên tòa thỏa thuận với nhau về việc bà H trả ông L số tiền 155.850.000đồng. Do vậy mỗi người phải chịu 1/2 tiền án phí do công nhận thỏa thuận tại phiên là: 3.896.000đồng theo quy định tại khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

[9]. Án phí phúc thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 148 BLTTDS; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Do sửa án sơ thẩm nên ông L không phải chịu án phí phúc thẩm. Trả lại ông L số tiền 300.000đồng án phí đã nộp tại biên lai thu tiền số 0005840 ngày 20/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

- Chi phí thẩm định đo đạc và xem xét thẩm định tại chỗ: Ông L đồng ý chịu 12.000.000đồng số tiền ông đã nộp, bà H đồng ý chịu số tiền 4.000.000đồng đã nộp do vậy cần buộc các đương sự phải chịu số tiền trên. (xác nhận ông L, bà H đã nộp xong)

[10]. Các nội dung khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 217; Điều 311; khoản 2 và khoản 4 Điều 308; Điều 309; điểm c khoản 1 điều 289; điểm b khoản 1 Điều 299; Điều 300 Bộ luật tố tụng dân sự. Xử:

  1. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với một phần yêu cầu kháng cáo của ông L về khoản nợ 24.000.000đồng của ông Vũ Xuân C2 và khoản nợ lãi của Ngân hàng N2 - Chi nhánh L3, Bắc Giang II..
  2. Hủy một phần Bản án sơ thẩm số 123/2024/HNGĐ-ST ngày 03/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang và đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của bà H đối với phần diện tích 2.748,6m² đất chuyên trồng lúa nước tại thôn G, xã T đã được UBND huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 24/4/2018 mang tên hộ ông Đinh Xuân L.
  3. Chấp nhận 1 phần kháng cáo của ông Đinh Xuân L. Sửa bản án sơ thẩm số: 123/2024/HNGĐ-ST ngày 03/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang
    1. Xác định tài sản chung của ông L bà H gồm:
      • - Diện tích đất 2494m² trồng cây lâu năm trị giá 692.775.000đồng nằm trong thửa đất số 431, tờ bản đồ số 28, diện tích 3214m² tại thôn G, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang đã được UBND huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 10/6/2016 mang tên hộ ông Đinh Xuân L.
      • - Thửa đất số 417, tờ bản đồ số 28, diện tích 563,8m² đất trồng cây lâu năm trị giá 156.610.000đồng tại thôn G, xã T đã được UBND huyện L cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 24/4/2018.
      • - Diện tích đất 2414,5m² đất trồng cây lâu năm trị giá: 670.692.000đồng nằm trong thửa đất số 475, tờ bản đồ số 28, diện tích đất 4.150,4m² (trong đó 360m² đất ở và 3790m2 đất trồng cây lâu năm) tại thôn G, xã T được UBND huyện L cấp ngày 10/6/2016 mang tên hộ ông Đinh Xuân L. Tài sản trên đất gồm: 01 căn nhà cấp IV được xây dựng năm 2012 trị giá 110.695.000 đồng và 62 cây bưởi có trị giá là 182.590.000đồng. Tổng giá trị đất và tài sản trên đất là 963.977.000đồng.
      • - Thửa đất số 201, tờ bản đồ số 32, tại thôn H, xã T, huyện L được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp ngày 10/6/2016 diện tích 6306,3m² (đất đo đạc thực tế là 6.004,3m²), trong đó 360m² đất ở trị giá 360.000.000đồng, đất trồng cây lâu năm: 5.644,3m² trị giá: 1.563.471.100đồng và 281 cây vải trên đất trị giá: 1.072.120.000đồng. Tổng giá trị là 2.995.591.100đồng.
      • - Thửa số 51, tờ bản đồ số 32, diện tích 120m² đất trồng cây lâu năm (đo đạc thực tế được 217m²) trị giá: 48.174.000đồng nằm trong tổng diện tích 1.013,8m² đất trồng cây lâu năm tại thôn G, xã T đã được UBND huyện L cấp GCN quyền sử dụng đất số CH 03862 ngày 24/4/2018 cho hộ ông Đinh Xuân L và tài sản trên đất là 11 cây vải trị giá 40.765.000đồng. Tổng giá trị đất và cây trên đất là: 88.939.000đồng.

      Tổng giá trị tài sản chung của ông L và bà H là: 4.879.894.100đồng.

    2. Xác định tài sản riêng của ông Đinh Xuân L gồm:
      • - Diện tích đất 360m² đất ở đất nằm trong thửa đất số 475, tờ bản đồ số 28, diện tích đất 4.150,4m² được UBND huyện L cấp ngày 10/6/2016 mang tên hộ ông Đinh Xuân L.
      • - Diện tích đất 720m² đất trồng cây lâu năm nằm trong thửa đất số 431, tờ bản đồ số 28, diện tích 3214,0m² tại thôn G, xã T được UBND huyện L cấp GCNQSDĐ ngày 10/6/2016 mang tên hộ ông Đinh Xuân L.
      • - 350 cây cam và giếng khoan, đường ống tưới nước trên thửa số 201, tờ bản đồ số 32 tổng trị giá 155.850.000đồng.
    3. Chia cho bà Trần Thị H quản lý, sử dụng tài sản là:
      • - Thửa đất số 201, tờ bản đồ số 32, tại thôn H, xã T, huyện L được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp ngày 10/6/2016 diện tích 6306,3m² (đất đo đạc thực tế là 6.004,3m²), trong đó: đất ở tại nông thôn: 360m²; đất trồng cây lâu năm 5.644,3m² mang tên ông Đinh Xuân L trị giá: 1.923.471.000đồng. Trên đất có các tài sản gắn liền: 04 cây vải đường kính tán từ 6,5m đến 7,5m: 4.880.000đồng/1 cây = 19.520.000đồng. 51 cây vải đường kính tán từ 4,5m đến 5,5m: 4.250.000đồng/1 cây = 216.750.000đồng. 190 cây vải đường kính tán từ 4,0m đến 4,5m: 3.935.000đồng/1 cây = 747.650.000đồng; 36 cây vải đường kính tán từ 2,5m đến 3,0m: 2.450.000đồng/1 cây = 88.200.000đồng. Tổng tài sản trên đất: 1.072.120.000đồng. Tổng giá trị đất và tài sản trên đất: 2.995.591.100đồng.
      • - Thửa số 51, tờ bản đồ số 32, diện tích 120m² đất trồng cây lâu năm (đo đạc thực tế được 217m²) (nằm trong tổng diện tích 1.013,8m²) tại thôn G, xã T được UBND huyện L cấp GCN quyền sử dụng đất số CH 03862 ngày 24/4/2018 cho hộ ông Đinh Xuân L trị giá: 48.174.000đồng. Trên đất có tài sản gắn liền gồm: 10 cây vải đường kính tán là 4m - 4,5m. 01 cây vải đường kính tán là 2m - 2,5m. Tổng tài sản trên đất: 40.765.000đồng. Tổng giá trị đất và cây trên đất thửa 51 là: 88.939.000đồng.

      Tổng giá trị tài sản giao cho bà H là 3.084.530.100đồng (có sơ đồ kèm theo Bản án)

    4. Chia cho ông Đinh Xuân L được quản lý, sử dụng tài sản chung là:
      • - Thửa đất số 417, tờ bản đồ số 28, diện tích 563,8m² đất trồng cây lâu năm tại thôn G, xã T được Ủy ban nhân dân huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 24/4/2018 mang tên hộ ông Đinh Xuân L, trị giá: 156.610.000đồng
      • - Diện tích đất 2.494m² đất trồng cây lâu năm nằm trong thửa số 431, tờ bản đồ số 28, diện tích 3214,0m² đất trồng cây lâu năm tại thôn G, xã T được UBND huyện L cấp ngày 10/6/2016 mang tên hộ ông Đinh Xuân L. Tổng giá trị là: 692.775.000đồng.
      • - Diện tích đất 2414,5m² đất trồng cây lâu năm trị giá: 670.692.000đồng nằm trong thửa đất số 475, tờ bản đồ số 28, diện tích đất 4.150,4m² (trong đó 360m² đất ở và 3790m2 đất trồng cây lâu năm) tại thôn G, xã T được UBND huyện L cấp ngày 10/6/2016 mang tên hộ ông Đinh Xuân L. Tài sản trên đất gồm: 01 căn nhà cấp IV được xây dựng năm 2012 trị giá 110.695.000 đồng và 62 cây bưởi có trị giá là 182.590.000đồng. Tổng giá trị đất và tài sản trên đất là 963.977.000đồng.

      Tổng giá trị tài sản chia cho ông L là 1.813.364.000đồng.

      (có sơ đồ kèm theo Bản án)

      Trần Thị H phải trả cho ông Đinh Xuân L số tiền là: 635.583.050đồng.

  4. Giao cho bà Trần Thị H 200 cây Cam đường kính tán lá từ 1 m đến 1,5m; 75 cây Cam đường kính tán lá từ 0,5m đến 1m; 75 cây cam đường kính tán lá dưới 0,5m; giếng khoan và đường ống tưới nước nằm trên thửa đất số 201, tờ bản đồ số 32, tại thôn H, xã T, huyện L được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp ngày 10/6/2016 diện tích 6306,3m² mang tên ông Đinh Xuân L. Tổng trị giá là 155.850.000đồng.

    Trần Thị H phải trả cho ông Đinh Xuân L số tiền 155.850.000đồng.

    Tổng hai khoản bà H phải trả ông L là: 635.583.050đồng + 155.850.000đồng = 791.433.050đồng

    Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, ngoài số tiền phải trả bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi theo quy định tại khoản 2 Điều 357; khoản 2 điều 468 của Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

    Trần Thị H và ông Đinh Xuân L được đến các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để thực hiện các nghĩa vụ tài chính và các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật (nếu có) để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định sau bà H khi thực hiện nghĩa vụ trả cho ông L tổng số tiền 791.433.050 đồng.

  5. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Ông Đinh Xuân L phải chịu 12.000.000đồng, bà Trần Thị H phải chịu 4.000.000đồng (xác nhận ông L, bà H đã nộp đủ)
  6. Về án phí: Căn cứ điểm e khoản 5 Điều 27; khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,

    Trần Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí đối với yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng; 80.307.000đồng án phí chia tài sản chung; 3.435.500đồng án phí đối với phần rút yêu cầu đất chuyên trồng lúa nước; 3.896.000đồng án phí công nhận thỏa thuận và 1.678.000đồng án phí khoản vay của Ngân Hàng. Tổng số tiền án phí bà Trần Thị H phải chịu là 89.616.500đồng nhưng được trừ vào số tiền 34.000.000đồng bà Trần Thị H đã nộp theo biên lai số 0001701 ngày 17/11/2020 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang. Bà Trần Thị H còn phải nộp 55.616.500đồng.

    Ông Đinh Xuân L phải chịu 80.307.000đồng án phí chia tài sản chung ; 3.435.500đồng án phí đối với phần rút yêu cầu đất chuyên trồng lúa nước; 3.896.000đồng án phí công nhận thỏa thuận và 1.678.000đồng án phí khoản vay của Ngân Hàng. Tổng số tiền án phí ông Đinh Xuân L phải chịu là: 89.316.500đồng nhưng được trừ vào số tiền 375.000đồng ông L đã nộp theo biên lai số 0010510 ngày 08/12/2021 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang. Ông Đinh Xuân L còn phải nộp 88.914.500đồng.

    - Án phí phúc thẩm: Ông L không phải chịu án phí phúc thẩm, trả lại ông L số tiền 300.000đồng đã nộp tại biên lai thu tiền số 0005840 ngày 20/11/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

  7. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND Cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - TAND huyện Lục Ngạn;
  • - Chi cục THADS huyện Lục Ngạn;
  • - Cổng thông tin điện tử ;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, HCTP.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Thị Hải Hường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 28/2024/HNGĐ-PT ngày 22/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về không công nhận quan hệ vợ chồng, tranh chấp chia tài sản chung

  • Số bản án: 28/2024/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Không công nhận quan hệ vợ chồng, tranh chấp chia tài sản chung
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 22/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hải ly hôn, chia tài sản với Long
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger