Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2024/HNGĐ-PT

Ngày: 13/11/2024

V/v: Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Quý Sửu

Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Hồng Phương và bà Nguyễn Thị Thuỷ

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thùy Dương, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên: Bà Vũ Thị Năm, Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 11 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, xét xử phúc thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 19/HNGĐ-PT ngày 07 tháng 10 năm 2024 về việc Tranh chấp ly hôn.

Do bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 30/2024/HNGĐ-ST ngày 28/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên có kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2024/QĐ-PT ngày 30/10/2024; giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1990; địa chỉ: Tổ D, phường H, quận N, thành phố Đà Nẵng; có đơn xin xét xử vắng mặt.

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1982; địa chỉ: Xóm Đ, xã N, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Luật sư Nguyễn Văn T1, Công ty L1, đoàn luật sư thành phố H; địa chỉ: Tầng G, Tòa nhà Z, số A Khu Á, phường T, quận T, thành phố Hà Nội; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai chị Nguyễn Thị L trình bày:

Chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Văn T đăng ký kết hôn ngày 16/01/2017, tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện P, tỉnh Thái Nguyên trên cơ sở tự nguyện. Trong thời gian đầu, vợ chồng chung sống hoà thuận, hạnh phúc. Sau một thời gian, cuộc sống hôn nhân đã không còn hạnh phúc, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, anh T thường xuyên xúc phạm chị. Ngày 04/05/2022, chị L mang thai con thứ hai, vợ chồng đã xảy ra xô xát, chị L đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống, vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay, không còn quan tâm đến nhau nữa.

Chị L xác định vợ chồng không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được, đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T để hai bên sớm ổn định cuộc sống.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Minh Đ, sinh ngày 16/09/2017 và Nguyễn Ngọc A, sinh ngày 21/10/2022. Chị L có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cả hai con chung. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung sau ly hôn, chị và anh T tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về tài sản chung vợ chồng: Chị L và anh T tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án tại Toà án cấp sơ thẩm, anh T không có mặt và tham gia tố tụng tại phiên toà sơ thẩm, nên không xác định được quan điểm của anh T đối với yêu cầu ly hôn của chị L.

Tại bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 30/2024/HNGĐ-ST ngày 28 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên đã quyết định:

Chấp nhận đơn khởi kiện ly hôn của chị Nguyễn Thị L, cho chị L được ly hôn anh Nguyễn Văn T;

Giao cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục 02 con chung Nguyễn Minh Đ, sinh ngày 16/9/2017 và Nguyễn Ngọc A, sinh ngày 21/10/2022 đến khi con trưởng thành hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định pháp luật; Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Không giải quyết do chị L không có yêu cầu.

Về tài sản chung và nợ chung: Do chị L không có yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 19/7/2024, bị đơn anh Nguyễn Văn T có đơn kháng cáo toàn bộ bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 30/2024/HNGĐ-ST ngày 28 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên. Nội dung kháng cáo, anh T không đồng ý giao cả 02 con chung cho chị L nuôi dưỡng.

Tại cấp phúc thẩm, chị Nguyễn Thị L có đơn đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên công nhận sự thỏa thuận giữa chị và anh T. Nội dung thoả thuận giao con Nguyễn Minh Đ, sinh ngày 16/9/2017 cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng; giao con Nguyễn Ngọc A, sinh ngày 21/10/2022 cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng. Tại đơn trình bày nguyện vọng của cháu Nguyễn Minh Đ gửi Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, cháu Đ có nguyện vọng được ở với anh T.

Tại phiên toà phúc thẩm, bị đơn anh Nguyễn Văn T giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử sửa bán án sơ thẩm theo nội dung thoả thuận giữa anh T, chị L như nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên phát biểu quan điểm: Thẩm phán chủ tọa phiên toà, Hội đồng xét xử và các đương sự chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị đơn; sửa một phần bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 30/2024/HNGĐ-ST ngày 28 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên. Giao cho anh T trực tiếp nuôi con Nguyễn Minh Đ, sinh ngày 16/9/2017, giao cho chị L trực tiếp nuôi con Nguyễn Ngọc A, sinh ngày 21/10/2022 .

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

  1. Bị đơn kháng cáo trong hạn luật định, đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm theo quy định, được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
  2. Tại phiên toà phúc thẩm, chị L vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt chị L.

Về nội dung:

Xét kháng cáo của bị đơn, Hội đồng xét xử thấy:

  1. Chị L và anh T có 02 con chung Nguyễn Minh Đ, sinh ngày 16/9/2017 và Nguyễn Ngọc A, sinh ngày 21/10/2022. Tại cấp phúc thẩm, chị L có đơn đề nghị công nhận thỏa thuận về việc nuôi con chung. Cụ thể, anh T trực tiếp nuôi con Nguyễn Minh Đ, sinh ngày 16/9/2017, chị L trực tiếp nuôi con Nguyễn Ngọc A, sinh ngày 21/10/2022. Cháu Nguyễn Minh Đ có đơn trình bày nguyện vọng xin được ở với bố là anh T.
  2. Hội đồng xét xử xét thấy việc đề nghị công nhận thỏa thuận nuôi con chung của anh T và chị L là hoàn toàn tự nguyện, nội dung thoả thuận giữa các đương sự không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội, phù hợp với nguyện vọng của con chung từ đủ 7 tuổi trở lên theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, nên có căn cứ chấp nhận kháng cáo của anh Nguyễn Văn T.
  3. Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tại phiên tòa là có căn cứ.
  4. Án phí phúc thẩm: Kháng cáo của anh Nguyễn Văn T được chấp nhận, nên anh T không phải chịu án phí phúc thẩm.
  5. Các quyết định khác của bán án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 30/2024/HNGĐ-ST ngày 28 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên không có kháng cáo, không bị kháng nghị Hội đồng xét xử không xem xét và có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Từ những phân tích nêu trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; chấp nhận kháng cáo của bị đơn anh Nguyễn Văn T; Sửa một phần bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 30/2024/HNGĐ-ST ngày 28 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên như sau:
  2. Áp dụng Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

    Tuyên xử:

    1. Giao con chung Nguyễn Minh Đ, sinh ngày 16/9/2017 cho anh Nguyễn Văn T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi con đủ 18 tuổi, có khả năng lao động hoặc đến khi có sự thay đổi khác; giao con chung Nguyễn Ngọc A, sinh ngày 21/10/2022 cho chị Nguyễn Thị L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi con đủ 18 tuổi, có khả năng lao động hoặc đến khi có sự thay đổi khác.

      Anh T, chị L có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, khi cần thiết chị L và anh T có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.

  3. Án phí phúc thẩm: Anh Nguyễn Văn T không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả anh Nguyễn Văn T 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0003926 ngày 06/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
  4. Các quyết định khác của bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 30/2024/HNGĐ-ST ngày 28 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Phú Bình tỉnh Thái Nguyên không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND huyện Phú Bình;
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - THADS huyện Phú Bình;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Hoàng Quý Sửu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 28/2024/HNGĐ-PT ngày 13/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 28/2024/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 13/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: L TRANH CHẤP CON CHUNG VỚI T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger