|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 28/2024/HC-PT
Ngày: 06/12/2024
V/v Khiếu kiện quyết định hành chính.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Thế Trọng
Các Thẩm phán: Ông Trần Quang Phúc
Bà Lâm Thị Thu Lan
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Đặng Thị Hồng
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Tôn Mạnh Hùng - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 03 và ngày 06 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã xét xử phúc thẩm trực tuyến, công khai vụ án hành chính thụ lý số 21/HCPT ngày 14 tháng 10 năm 2024, về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính”.
Do bản án hành chính sơ thẩm số 01/2024/HC-ST ngày 23 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận 10 bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 5644/2024/QĐ-PT ngày 25 tháng 10 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 16804/2024/QĐPT-HC ngày 19 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Người khởi kiện: Công ty TNHH C
Địa chỉ: B T, Phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Văn Chí L.
Địa chỉ: E T, Phường I, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Luật sư Phan Ngọc B – Đoàn Luật sư Thành phố H.
2. Người bị kiện: Chi cục trưởng Chi cục T1
Địa chỉ: 3 T, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Mạnh T – Phó Chi cục trưởng Chi cục T1.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Bà Võ Thị Liễu A.
4. Người kháng cáo: Công ty TNHH C – Người khởi kiện.
NHẬN THẤY:
Người khởi kiện Công ty TNHH C trình bày:
Năm 2016, 2020, 2021 Công ty TNHH C có nhập khẩu 03 xe ô tô quà biếu, tặng không nhằm mục đích thương mại thuộc đối tượng quy định tại khoản 4 Điều 2; khoản 3 Điều 3; Điều 4 Thông tư 143/2015/TT- BTC ngày 11/9/2015 của Bộ T2.
Sau khi hoàn thành thủ tục nhập khẩu, hàng hóa được thông quan, Công ty L1 chuyển nhượng lại các xe nhập khẩu trên vào năm 2019, 2020, 2021.
Công ty TNHH C đã hạch toán sổ sách, kê khai đầy đủ các khoản thuế, khấu trừ thuế GTGT cho TSCĐ đối với hàng hóa nhập khẩu và sau khi thanh lý chuyển nhượng đúng theo quy định pháp luật.
Tuy nhiên, vào ngày 21/10/2022, Đội kiểm tra 1, Chi cục thuế T1, Thành phố Hồ Chí Minh đã lập Biên bản vi phạm hành chính về thuế số: 08/BB-VPHC. Sau đó Chi cục trưởng Chi cục thuế T1 ban hành Quyết định số: 2443/QĐ-CCT ghi ngày 27/10/2021 về xử phạt vi phạm hành chính về thuế; ngày 02/11/2022 ban hành Quyết định số: 2507/QĐ-CCT về việc sửa đổi, bổ sung Quyết định xử phạt số: 2443/QĐ-CCT ngày 27/10/2021 và Quyết định số 854 ngày 20/6/2024 về xử phạt vi phạm hành chính về thuế của Chi cục thuế T1.
Việc Chi cục trưởng Chi cục thuế T1 ban hành Quyết định xử phạt hành chính về thuế làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Công ty vì Công ty TNHH C đã thực hiện đúng theo quy định pháp luật về thuế cũng như quy định pháp luật liên quan đến hoạt động của Công ty.
Do vậy Công ty TNHH C đề nghị Tòa án hủy Quyết định số 2443/QĐ-CCT ngày 27/10/2021, Quyết định số 2507/QĐ-CCT ngày 02/11/2022 và Quyết định số 854/QĐ-CCT ngày 20/6/2024 của Chi cục trưởng Chi cục thuế T1.
Người bị kiện Chi cục trưởng Chi cục thuế T1 trình bày:
Căn cứ khoản 1 Điều 3 Luật Thương mại, khoản 21 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2020, Công ty TNHH C nhập về chuyển nhượng ngay, khai sai mục đích với thư cho tặng và không thuộc đối tượng được phép nhập khẩu theo giấy phép nhập khẩu không nhằm mục đích thương mại theo Điều 2 Thông tư 143/2015/TT-BTC ngày 11/09/2015 của Bộ T2 qui định.
Nhập khẩu xe ô tô không nhằm mục đích thương mại thì tài sản này không tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ, thuế GTGT đầu vào không được khấu trừ theo khoản 1 điều 14, điều 15 Thông tư 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 của Bộ T2.
Theo Công văn 9251/CTTPHCM-TTHT ngày 01/12/2021 của Cục Thuế Thành phố H, việc khấu trừ thuế GTGT khâu nhập khẩu đối với hàng hóa phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh: cơ sở kinh doanh không có chứng từ thanh toán qua ngân hàng đối với phần giá trị hàng hoá, dịch vụ theo qui định tại khoản 3, khoản 4 Điều 15 Thông tư 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 đã được sửa đổi, bổ sung tại khoản 10 Điều 1 Thông tư 26/2015/TT-BTC ngày 27/02/2015 và Điều 1 Thông tư 173/2016/TT-BTC ngày 28/10/2016 của Bộ T2 để khấu trừ thuế GTGT nhập khẩu theo qui định.
Công ty nhận hàng cho biếu tặng không phải thanh toán tiền cho hàng biếu tặng nhận được, không có chứng từ thanh toán nên không được khấu trừ thuế GTGT của hoá đơn hàng biếu tặng.
Căn cứ hướng dẫn tại Công văn 11870/CTTPHCM-TTKT2 ngày 21/09/2022 của Cục thuế Thành phố H, khoản 1 Điều 2 Thông tư 130/2016/TT-BTC ngày 27/02/2015 của Bộ T2, khoản 1 Điều 37 Luật quản lý thuế số 78/2006/QH11 ngày 29/11/2006, khoản 1 khoản Điều 4 Thông tư 71/2010/TT-BTC ngày 07/05/2010 của Bộ T2, Chi cục T1 đã xác định giá giao dịch thông thường trên thị trường làm căn cứ ấn định giá.
Thuế TNDN: Giá bán xe được xác định nêu trên hạch toán vào thu nhập khác để tính thuế TNDN, chi phí được trừ khi tính thuế TNDN là các chi phí thuế và phí đã nộp ở khâu nhập khẩu bao gồm cả thuế GTGT.
Ngày 03/10/2022, Chi cục thuế T1 đã lập biên bản làm việc kiểm tra doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ, thuế TTĐB, thuế TNDN và thuế GTGT đối với xe ô tô nhập khẩu không nhằm mục đích thương mại đối với xe Lexus RX350 F-Sport AWD sản xuất năm 2016, xe Lan R Ranger Rover Autobiography LP400 và xe T3.
Ngày 21/10/2022 Chi cục thuế T1 đã lập biên bản vi phạm hành chính về thuế số 08/BB-VPHC xác định lại số thuế Giá trị gia tăng (GTGT), thuế Tiêu thụ đặc biệt (TTĐB), thuế Thu nhập doanh nghiệp (TNDN) phải nộp theo giá tính lệ phí trước bạ ô tô, xe máy.
Ngày 27/10/2022 Chi cục thuế T1 ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về thuế số 2443/QĐ-CCT ngày 27/10/2021 của Chi cục T1 và Quyết định số 2507/QĐ-CCT ngày 02/11/2022 về việc sửa đổi, bổ sung Quyết định xử phạt số 2443/QĐ-CCT ngày 27/10/2021. Ngày 20/06/2024 Chi cục thuế T1 ban hành Quyết định điều chỉnh, bổ sung số 854/QĐ-CCT về việc sửa đổi Quyết định xử phạt số 2443/QĐ-CCT ngày 27/10/2021.
Đề nghị Tòa án bác đơn khởi kiện của Công Ty TNHH C.
Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 01/2024/HC-ST ngày 23 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận 10 đã quyết định:
Bác yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH C về việc hủy Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về thuế số 2443/QĐ-CCT ngày 27/10/2021, Quyết định số 2507/QĐ-CCT ngày 02/11/2022 về việc sửa đổi Quyết định số 2443/QĐ-CCT ngày 27/10/2021 và Quyết định số 854/QĐ-CCT ngày 20/6/2024 về việc sửa đổi Quyết định số 2443/QĐ-CCT ngày 27/10/2021 của Chi cục trưởng Chi cục thuế T1, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về phần án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 13/9/2024, Công ty TNHH C có đơn kháng cáo đề nghị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH C.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Người kháng cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo.
Người bị kiện vẫn giữ nguyên ý kiến đã trình bày, đề nghị Hội đồng xét xử bác yêu cầu kháng cáo của Công ty TNHH C.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
+ Về hình thức: Tòa án cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng các quy định pháp luật tố tụng hành chính từ khi thụ lý đến khi xét xử. Tại phiên tòa phúc thẩm cho đến trước khi nghị án, Hội đồng xét xử phúc thẩm đã tiến hành phiên tòa đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Luật Tố tụng Hành chính; các đương sự trong vụ án đã chấp hành đúng quy định pháp luật về quyền và nghĩa vụ của mình.
+ Về nội dung: Tòa án nhân dân Quận 10 không xem xét tính hợp pháp của các quyết định hành chính có liên quan là vi phạm thủ tục tố tụng. Tuy nhiên xét việc vi phạm trên không làm thay đổi nội dung vụ án nên không cần thiết phải hủy bản án sơ thẩm. Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ, đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của Công ty TNHH C, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân Quận 10.
XÉT THẤY:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, sau khi nghe các bên trình bày ý kiến, tranh luận tại phiên tòa, sau khi nghe Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm, sau khi nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về hình thức:
- Đơn kháng cáo của Công ty TNHH C làm trong thời hạn luật định, hợp lệ nên được chấp nhận để xem xét.
- Về sự vắng mặt của đương sự: Người đại diện theo pháp luật của người kháng cáo có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, căn cứ Điều 225 Luật Tố tụng hành chính, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt người kháng cáo.
[2] Về nội dung:
Hội đồng xét xử nhận thấy: Công ty TNHH C khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy các quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý thuế bao gồm: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 2443/QĐ-CCT ngày 27/10/2021, Quyết định số 2507/QĐ-CCT ngày 02/11/2022 và Quyết định số 854/QĐ-CCT này 20/6/2024 về việc sửa đổi Quyết định số 2443/QĐ-CCT của Chi cục trưởng Chi cục thuế T1, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngày 27/7/2023, Chi cục trưởng Chi cục T1 đã ban hành Quyết định số 1321/QĐ-CCT-CC, Quyết định số 1322/QĐ-CCT-CC, Quyết định số 1323/QĐ-CCT-CC, Quyết định số 1324/QĐ-CCT-CC về việc cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về quản lý thuế bằng biện pháp trích tiền từ tài khoản/yêu cầu phong tỏa tài khoản của đối tượng bị cưỡng chế tại tổ chức tín dụng đối với Công ty TNHH C.
Ngày 25/8/2023, Chi cục trưởng Chi cục T1 ban hành Quyết định số 1910/QĐ-CCT-CC về việc cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về quản lý thuế bằng biện pháp ngừng sử dụng hóa đơn đối với Công ty TNHH C.
Trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm, vào ngày 22/8/2024, Chi cục trưởng Chi cục T1 tiếp tục ban hành Quyết định số 3630/QĐ-CCT-CC về việc cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về quản lý thuế bằng biện pháp ngừng sử dụng hóa đơn đối với Công ty TNHH C.
Đến ngày 30/9/2024, Chi cục trưởng Chi cục T1 ban hành các Quyết định số 4425/QĐ-CCT-CC, Quyết định số 4426/QĐ-CCT-CC, Quyết định số 4427/QĐ-CCT-CC và Quyết định số 4428/QĐ-CCT-CC về việc cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về quản lý thuế bằng biện pháp trích tiền từ tài khoản/yêu cầu phong tỏa tài khoản của đối tượng bị cưỡng chế tại tổ chức tín dụng đối với Công ty TNHH C.
Tại phiên tòa phúc thẩm, phía người bị kiện cung cấp cho Hội đồng xét xử các Quyết định hành chính nêu trên và thừa nhận các quyết định cưỡng chế này có nội dung cưỡng chế số tiền mà Công ty TNHH C bị xử phạt theo các quyết định hành chính đang bị kiện.
Hội đồng xét xử xét thấy các quyết định cưỡng chế của Chi cục trưởng Chi cục T1 đáp ứng các điều kiện theo quy định tại Điều 3 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 nên là quyết định hành chính và các quyết định hành chính này có liên quan đến quyết định hành chính bị kiện.
Căn cứ khoản 1 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính quy định về thẩm quyền của Hội đồng xét xử như sau: “Hội đồng xét xử xem xét tính hợp pháp của quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, danh sách cử tri bị khởi kiện, quyết định giải quyết khiếu nại và văn bản quy phạm pháp luật có liên quan”. Do đó, khi giải quyết các yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH C, Hội đồng xét xử cần xem xét tính hợp pháp của các quyết định cưỡng chế nêu trên mới đảm bảo việc giải quyết vụ án được toàn diện, đúng pháp luật.
Tuy nhiên, đây là các tài liệu mới do phía người bị kiện cung cấp tại phiên tòa phúc thẩm. Việc Tòa án nhân dân Quận 10 giải quyết vụ án nhưng chưa xem xét tính hợp pháp của các quyết định cưỡng chế nêu trên là do yếu tố khách quan, các quyết định cưỡng chế được thu thập ở cấp phúc thẩm là tình tiết mới.
Qua các phân tích trên, để đảm bảo nguyên tắc hai cấp xét xử, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, Hội đồng xét xử thấy rằng cần hủy Bản án hành chính sơ thẩm số 01/2024/HC-ST ngày 23 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận 10 do vụ án có tình tiết mới, giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân dân Quận 10 giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
Ý kiến của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.
[3] Về án phí:
- Án phí hành chính sơ thẩm: Do hủy bản án hành chính sơ thẩm để xét xử sơ thẩm lại nên số tiền tạm ứng án phí hành chính sơ thẩm sẽ được xử lý khi Tòa án nhân dân dân Quận 10 giải quyết lại vụ án.
- Án phí hành chính phúc thẩm: Do hủy bản án sơ thẩm nên người kháng cáo không phải chịu án phí hành chính phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào,
Điều 225, khoản 3 Điều 241, Điều 11 Luật Tố tụng hành chính năm 2015;
Căn cứ khoản 3 Điều 34 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
1. Hủy Bản án hành chính sơ thẩm số 01/2024/HC-ST ngày 23 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận 10, chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân Quận 10 giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
2. Về án phí hành chính phúc thẩm:
Hoàn trả cho Công ty TNHH C số tiền tạm ứng án phí hành chính phúc thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0020589 ngày 179/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 1T1.
3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Thế Trọng |
6
Bản án số 28/2024/HC-PT ngày 06/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về khiếu kiện quyết định hành chính
- Số bản án: 28/2024/HC-PT
- Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định hành chính
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 06/12/2024
- Loại vụ/việc: Hành chính
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hủy án sơ thẩm, giao hồ sơ Cho TAND Quận 10 giải quyết lại
