Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BẮC MÊ

TỈNH HÀ GIANG

Bản án số: 28/2023/HS-ST

Ngày 16 - 11 - 2023

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC MÊ, TỈNH HÀ GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:Ông Hoàng Văn Thuận.
  • Các Hội thẩm nhân dân:Bà Phạm Thị Mận.
  • Ông Nguyễn Văn Ái.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hồng Tươi - Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang: Ông Ngô Quang Vũ - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 27/2023/TLST-HS ngày 30/10/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2023/QĐXXST-HS ngày 02/11/2023 đối với bị cáo:

Trương Văn Q; tên gọi khác: Không; sinh năm 1990; nơi sinh: huyện B, tỉnh Hà Giang; nơi cư trú: Thôn P, xã Y, huyện B, tỉnh Hà Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trương Văn L, sinh năm 1951 và con bà: Phàn Thị X, sinh năm 1953; có 05 anh chị em, bị cáo là con thứ năm trong gia đình; có vợ: Lý Thị D, sinh năm 1984 và có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2007, con nhỏ nhất sinh năm 2009; tiền sự, tiền án: 01 tiền sự, ngày 10/5/2022 bị chủ tịch UBND xã Y, huyện B, tỉnh Hà Giang xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vận chuyển lâm sản trái phép; nhân thân: Không; tạm giữ, tạm giam: Không. Hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt).

Người bào chữa: Bà Nguyễn Thị H - Trợ giúp viên pháp lý; nơi công tác: Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H (Vắng mặt).

Nguyên đơn dân sự: Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện B, tỉnh Hà Giang; người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Thanh C - chức vụ: Viên chức (Có mặt).

Người làm chứng: - Ông Lý Văn H1, sinh năm 1988 (Vắng mặt).

Ông Lý Văn N, sinh năm 1994 (Vắng mặt).

Đều cư trú: Thôn P, xã Y, huyện B, tỉnh Hà Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 4/2023 (không nhớ rõ ngày) Trương Văn Q, Lý Văn H1, Lý Văn N rủ nhau đi lên khu rừng phòng hộ thuộc thôn P mục đích khai thác gỗ Nghiến làm thớt bán lấy tiền tiêu xài, khi đi Noi mang theo 01 máy cưa xăng ký hiệu Husqvarna 365, màu sơn cam – đen, lam xích dài 80cm, Q và H1 mỗi người mang theo 01 con dao. Khi đến khu rừng phòng hộ phát hiện 01 khúc gỗ Nghiến đã bị cắt từ trước dài khoảng 02 mét, cả ba giúp nhau xẻ phần thân khúc gỗ Nghiến được 04 (bốn) cục gỗ Nghiến dạng thớt. Trong đó có 03 (ba) cục có kích thước rộng 45x7cm, 01 (một) cục có kích thước rộng 50x7cm, cả ba người cùng vận chuyển số thót đó về để gần nhà N, sau đó N trực tiếp bán số thớt trên cho Nguyễn Văn M được số tiền là 800.000đ (Tám trăm nghìn đồng).

Tại biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 05/5/2023 xác định 01 khúc gỗ nghiến có ký hiệu K1 có tổng khối lượng 0,440m³ (Không phẩy bốn trăm bốn mươi mét khối) đã bị khai thác một phần, còn lại tại hiện trường 0,342m³. Quá trình điều tra xác định ngoài hành vi trên, Q còn nhiều lần cùng H1, N, Phàn Văn M1, Trương Văn H2, Trương Văn G thực hiện hành vi khai thác gỗ Nghiến trái phép cụ thể như sau:

Lần 01: Khoảng tháng 6/2022 (không nhớ rõ ngày) Q cùng N đi lên khu rừng phòng hộ thuộc thôn P, xã Y mục đích khai thác gỗ để làm nhà. Khi đến nơi phát hiện 02 cây gỗ Nghiến còn tươi đứng cách nhau khoảng 50m, Q dùng máy cưa xăng mà N mang theo cắt gốc cây thứ nhất khoảng 10 phút thì cây đổ. Sau khi cắt đổ cây thứ nhất Q và N tiếp tục cắt cây thứ 2 khoảng 7 phút thì cây đổ. Sau khi cắt đổ hai cây, Q và N để lại hiện trường rồi đi về nhà.

Tại biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 05/5/2023 xác định cây gỗ thứ nhất ký hiệu G01 có khối lượng 3,890m³ (Ba phẩy tám chín mươi mét khối), cây thứ hai ký hiệu G02 khối lượng 0,793m³ (không phẩy bẩy chín ba mét khối).

Lần 02: Khoảng tháng 10/2022 (không nhớ rõ ngày) Q cùng M1, H2, G rủ nhau đi lên khu rừng phòng hộ thuộc thôn P, xã Y để khai khác gỗ Nghiến làm thớt bán. Khi đi H2 mang theo máy cưa xăng, đến nơi thì bốn người phát hiện 01 cây gỗ Nghiến bị cắt đổ từ trước được cắt thành nhiều khúc. Bốn người chọn 01 khúc dài khoảng 02 mét và tiến hành cắt xẻ được khoảng 50 cái thớt có đường kính 35cmx5cm và để lại tại hiện trường. Tại biên bản xác định hiện trường ngày 06/5/2023 khúc gỗ có ký hiệu K1 có khối lượng 1,492m³ đã bị khai thác hết.

Lần 03: Tháng 3/2023 (không nhớ ngày) Q, N, H1 tiếp tục rủ nhau đi lên khu rừng trên để khai khác gỗ Nghiến làm thớt bán. Khi đi N mang theo máy cưa xăng, dầu nhớt, còn Q, H1 đem theo dao. Khi đi đến nơi phát hiện 01 khúc gỗ Nghiến đã bị khai thác từ trước, dài 1,2 mét, đường kính 75cm thì Q, N, H1 thay nhau dùng máy cưa xăng xẻ phần thân khúc gỗ Nghiến được 15 cục gỗ dạng thớt có kích thước 30cmx5cm rồi vận chuyển về để gần nhà N, số thớt này N đã bán cho một người đàn ông không biết tên tuổi địa chỉ với giá 50.000đ/01 cục gỗ dạng thớt.

Tại biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 05/5/2023 xác định 01 khúc gỗ Nghiến có ký hiệu K1 có tổng khối lượng 1,192m³ (phần các đối tượng đã khai thác có khối lượng 0,530m³).

Tại các biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 05/5/2023, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản xác định hiện trường ngày 06/5/2023 xác định vị trí của 02 cây gỗ nghiến, 03 khúc gỗ do Q, N, H1, H2, M1, G trực tiếp khai thác thuộc thuộc lô 28, 48 khoảnh 9, 10 tiểu khu A và lô 7, khoảnh 9, tiểu khu A. Đối tượng rừng: Thuộc rừng phòng hộ là rừng tự nhiên (Theo bản đồ quy hoạch ba loại rừng năm 2018 được UBND tỉnh H phê duyệt) do Ban quản lý rừng phòng hộ huyện B quản lý. Tổng khối lượng của 02 cây, 03 khúc là 7,145m³.

Tại các bản kết luận giám định tư pháp số 02 và 03-2023/KL-TCGĐ ngày 05/6/2023 của Chi cục kiểm lâm tỉnh H kết luận các mẫu gửi giám định ký hiệu M1, M2, M5, M6 đều đồng nhất chủng loại gỗ: Tên Việt Nam: Nghiến. Tên khoa học: B (Gagnep.) K. (Excentrodendron tonkinense (A.Chev.) H.T.Chang&R.H.Miau). Loài N1 được xếp nhóm IIA trong “Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp quý hiếm” ban hành kèm theo Nghị định số 84/2021/NĐ-CP ngày 22/9/2021 của Chính phủ.

Tại Kết luận định giá tài sản số 09, 17/KL-HĐĐGTTHS ngày 19/6/2023 và ngày 25/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B, kết luận: 02 cây gỗ nghiến, 03 khúc gỗ do Q, N, H1, H2, M1, G khai thác có tổng khối lượng là 7,145m³ có tổng giá trị là 62.428.100đ (Trong đó: 01 khúc gỗ có khối lượng 0,440m³ có trị giá 4.488.000đ, phần khai thác lấy đi khỏi hiện trường có khối lượng là 0,098m³ có giá trị 999.600đ; 04 cục gỗ nghiến dạng thớt có tổng khối lượng 0,04m³ có tổng giá trị là 335.100đồng).

Qua điều tra xác định các lần khai thác gỗ Nghiến của Q, N, H1, H2, M1, G đều không liên tục, kế tiếp về thời gian, khối lượng mỗi lần đều dưới mức để truy cứu trách nhiệm hình sự nên Cơ quan CSĐT Công an huyện B đã chuyển hồ sơ, tài liệu liên quan đề nghị Hạt Kiểm lâm huyện B xem xét xử phạt vi phạm hành chính đối với các đối tượng còn lại theo quy định.

Tuy nhiên, đối với Trương Văn Q ngày 10/5/2022 đã bị chủ tịch UBND xã Y, huyện B xử phạt hành chính về hành vi vận chuyển lâm sản trái phép với số tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng) nhưng sau đó vẫn tiếp tục thực hiện hành vi khai thác trái phép gỗ Nghiến nên Cơ quan CSĐT Công an huyện B đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với Trương Văn Q về tội Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản theo quy định tại điểm m khoản 1 Điều 232 của Bộ luật hình sự.

Vật chứng thu giữ: 01 (Một) khúc gỗ Nghiến nhóm IIA có khối lượng còn lại tại hiện trường là 0,342m³ (Không phẩy ba bốn hai mét khối), hiện cây gỗ trên đã tạm giao cho Ban quản lý rừng phòng hộ huyện B quản lý, bảo vệ; 03 (Ba) khúc gỗ Nghiến (dạng thớt) có đường kính 45cm x 6cm có tổng khối lượng 0,027m³ (Không phẩy không hai bẩy mét khối); 01 (một) khúc gỗ Nghiến (dạng thớt) có đường kính 50cm x 7cm có tổng khối lượng 0,013 m³ (Không phẩy không mười ba mét khối); 01 (một) con dao tông dài 38cm cả chuôi dao, bản rộng nhất 5,4cm, chuôi dao bằng gỗ dài 11cm.

Đối với 02 cây và 01 khúc gỗ Nghiến có tổng khối lượng còn lại tại hiện trường 5,213 m³; 01 (Một) máy cưa xăng, nhãn hiệu Husqvarna 365 màu sơn cam đen, lam xích dài 80cm; 01 Một) con dao tông dài 39 cm; 01 (Một) con dao quắm dài 61cm; 01 (Một) máy trà mini màu sơn đỏ đen, ký hiệu OSSUKA máy cũ đã qua sử dụng. Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã chuyển cho Hạt kiểm lâm huyện B xử lý theo thẩm quyền.

Về trách nhiệm dân sự: Đại diện Ban quản lý rừng phòng hộ huyện B yêu cầu bị cáo Trương Văn Q phải bồi thường số gỗ bị mất đi có giá trị là 664.500 đồng.

Tại bản Cáo trạng số 28/CT-VKSBM ngày 29/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Mê truy tố bị cáo Trương Văn Q về tội Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản theo điểm m khoản 1 Điều 232 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu quan điểm luận tội, sau khi phân tích các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong quá trình điều tra cũng như diễn biến của phiên tòa, trên cơ sở phân tích các căn cứ quyết định hình phạt theo quy định của Bộ luật hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Bị cáo Trương Văn Q phạm tội Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản.

- Hình phạt: Áp dụng điểm m khoản 1 Điều 232; Điều 50; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự; Điều 2, Điều 4 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Xử phạt Trương Văn Q từ 10 tháng tù đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 20 tháng đến 24 tháng.

- Về hình phạt bổ sung: Không.

- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) khúc gỗ Nghiến nhóm IIA có khối lượng còn lại tại hiện trường là 0,342m³ (Không phẩy ba trăm bốn mươi hai mét khối); 03 (ba) Khúc gỗ nghiến (dạng thớt) có đường kính 45cm x 6cm có tổng khối lượng 0,027m³ (Không phẩy không hai bẩy mét khối); 01 (một) Khúc gỗ nghiến (dạng thớt) có đường kính 50cm x 7cm có khối lượng 0,013m³ (Không phẩy không mười ba mét khối).

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) con dao tông dài 38cm cả chuôi dao, bản rộng nhất 5,4cm, chuôi dao bằng gỗ dài 11cm.

- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 BLHS; Điều 584, 585, 586, 589 BLDS: Chấp nhận yêu cầu bồi thường của nguyên đơn dân sự.

Buộc bị cáo Trương Văn Q bồi thường số tiền 664.500 đồng cho Ban quản lý rừng phòng hộ huyện B để nộp sung vào ngân sách Nhà nước, được khấu trừ vào số tiền 664.500 đồng bị cáo đã nộp theo biên lai số 0003200 ngày 31/10/2023 tại Chi cục THADS huyện B

- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo Trương Văn Q được miễn nộp toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.

Người bào chữa: Luận cứ bào chữa nhất trí với quan điểm của Viện kiểm sát về việc truy tố, xét xử bị cáo về tội Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản theo điểm m khoản 1 Điều 232 BLHS. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo ăn năn hối cải, tự nguyện khai báo trung thực, thành khẩn, phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, trình độ hiểu biết pháp luật hạn chế, là trụ cột trong gia đình nhiều con nhỏ, có nhân thân tốt. Đề nghị HĐXX áp dụng điểm m khoản 1 Điều 232; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Về án phí: Nhất trí với quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát.

Bị cáo Trương Văn Q nhất trí với quan điểm của người bào chữa và không có tranh luận đối đáp gì.

Đại diện Viện kiểm sát không nhất trí quan điểm của người bào chữa về mức hình phạt, giữ nguyên quan điểm luận tội.

Bị cáo thực hiện lời nói sau cùng xin được áp dụng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa vắng mặt: Người làm chứng ông Lý Văn H1, ông Lý Văn N không có lý do; vắng mặt người bào chữa có đơn xin xét xử vắng mặt đã gửi luận cứ bào chữa. Xét thấy bị cáo, đại diện nguyên đơn dân sự, Kiểm sát viên đồng ý xét xử vắng mặt; trong hồ sơ đã có lời khai, việc vắng mặt những người trên không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Căn cứ khoản 1 Điều 291, khoản 1 Điều 293 của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Hội đồng tiến hành xét xử theo thủ tục chung.

[2] Về tố tụng: Về tính hợp pháp của hành vi tố tụng và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bào chữa, nguyên đơn dân sự không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[3] Về căn cứ định tội, định khung hình phạt: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết quả khám nghiệm hiện trường, kết quả xác định hiện trường, bản ảnh hiện trường, vật chứng của vụ án, kết luận giám định của cơ quan chuyên môn và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Khoảng tháng 4 năm 2023 (không nhớ ngày cụ thể) Trương Văn Q đã có hành vi khai thác trái phép 01 khúc cây gỗ Nghiến nhóm IIA có tổng khối lượng là 0,440m³ có giá trị 4.488.000₫ (Bốn triệu bốn trăm tám mươi tám nghìn đồng). Vị trí khai thác thuộc lô 48, khoảnh 9 tiểu khu A theo bản đồ quy hoạch ba loại rừng năm 2018 do UBND tỉnh H phê duyệt, chức năng rừng phòng hộ là rừng tự nhiên do Ban quản lý rừng phòng hộ huyện B, tỉnh Hà Giang là chủ quản lý, bảo vệ. Mặc dù khối lượng gỗ Nghiến nhóm IIA mà Q khai thác dưới mức tối thiểu quy định tại điểm d khoản 1 Điều 232 của Bộ luật hình sự là 05 mét khối (m³) nhưng trước đó Q đã bị Chủ tịch UBND xã Y, huyện B ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vận chuyển lâm sản trái phép số tiền 5.000.000 đồng vào ngày 10/5/2022. Do đó, bản Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản theo điểm m khoản 1 Điều 232 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật. Điều 232 Bộ luật hình sự quy định:

...1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 243 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

...m) Khai thác, tàng trữ, vận chuyển, chế biến hoặc mua bán trái phép gỗ hoặc thực vật rừng ngoài gỗ có khối lượng hoặc trị giá dưới mức quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm l khoản này nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.

[4] Đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nhưng đã xâm phạm đến chế độ quản lý nhà nước về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản, gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước; tác động xấu đến môi trường sinh thái tự nhiên, đa dạng sinh học và làm suy giảm chức năng che phủ của rừng. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi khai thác gỗ không có giấy phép là trái pháp luật nhưng vẫn cố ý đi lên rừng phòng hộ khai thác 01 khúc cây gỗ Nghiến nhóm IIA có tổng khối lượng 0,440m³ có giá trị 4.488.000đ. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo một mức án nghiêm minh tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội bị cáo gây ra đồng thời đảm bảo được tính nhân đạo của pháp luật nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[5] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cân nhắc, xem xét và áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

[5.1] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.

[5.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường thiệt hại giá trị tương đương số gỗ bị cắt xẻ không thu hồi được, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, là người dân tộc thiểu số thuộc hộ cận nghèo sinh sống tại vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn của địa phương, trình độ hiểu biết pháp luật hạn chế, hiện là lao động chính trong gia đình, có bố đẻ từng tham gia dân công hỏa tuyến được hưởng chế độ chính sách của Nhà nước. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6] Bị cáo Trương Văn Q đang áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Xét thấy bị cáo bị phạt tù nhưng được hưởng án treo nên không cần tiếp tục áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú theo quy định tại Điều 125, Điều 278 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[7] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo làm nghề lao động tự do, không có công ăn việc làm ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[8] Về xử lý vật chứng: Đối với 0,342m³ gỗ Nghiến còn lại tại hiện trường và 04 khúc gỗ Nghiến dạng thớt có tổng khối lượng 0,04m³ cần tịch thu sung ngân sách nhà nước; đối với 01 con dao tông dài 38cm có chuôi bằng gỗ là công cụ phạm tội cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự là phù hợp.

Đối với các vật chứng gồm 02 cây gỗ Nghiến, 01 khúc có tổng khối lượng còn lại tại hiện trường 5,213m³; 01 (một) máy cưa xăng, nhãn hiệu Husqvarna 365 màu sơn cam đen, lam xích dài 80cm; 01 (một) con dao tông dài 39cm; 01 (một) con dao quắm dài 61cm; 01 (một) máy trà mini màu sơn đỏ đen, ký hiệu OSSUKA máy cũ đã qua sử dụng. Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã chuyển cho Hạt kiểm lâm huyện B xử lý theo thẩm quyền là đúng quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử không xem xét.

[9] Về trách nhiệm dân sự: Nguyên đơn dân sự yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 664.500đ (Sáu trăm sáu mươi bốn nghìn năm trăm đồng) là giá trị của số gỗ bị cáo khai thác bị mất đi không thu hồi được là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Giai đoạn chuẩn bị xét xử bị cáo đã tự nguyện nộp toàn bộ nên được khấu trừ số tiền đã nộp là 664.500 đồng theo biên lai thu tiền số 0003200 ngày 31 tháng 10 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Mê .

[10] Trong vụ án này còn có các đối tượng và hành vi liên quan như sau:

[10.1] Đối với các đối tượng Lý Văn N, Lý Văn H1, Trương Văn G, Trương Văn H2, Phàn Văn M1 có hành vi khai thác gỗ N1 cùng bị cáo Q nhưng chưa đến mức xử lý hình sự. Cơ quan CSĐT Công an huyện B đã chuyển hồ sơ và tang vật liên quan đến Hạt kiểm lâm huyện B xử lý theo thẩm quyền là đúng quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử không xem xét.

[10.2] Đối với Nguyễn Văn M là người mua thớt quá trình điều tra xác định không đủ yếu tố cấu thành tội phạm Cơ quan CSĐT Công an huyện B đã chuyển hồ sơ và tang vật liên quan đến Hạt kiểm lâm huyện B xử lý theo thẩm quyền là đúng quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử không xem xét.

[11] Về án phí: Bị cáo Trương Văn Q là người dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, thuộc hộ cận nghèo và có đơn đề nghị miễn nộp án phí. Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định của pháp luật.

[12] Từ những căn cứ trên đại diện Viện Kiểm sát đề nghị về mức hình phạt, xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự, án phí là có căn cứ được chấp nhận.

[13] Người bào chữa đề nghị áp dụng hình phạt từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù cho hưởng án treo là chưa tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt bị cáo mức án cao hơn để răn đe, giáo dục đối với bị cáo.

[14] Quyền kháng cáo: Bị cáo; nguyên đơn dân sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trương Văn Q phạm tội Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản.
  2. Về hình phạt: Áp dụng điểm m khoản 1 Điều 232; Điều 50; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự; Điều 2, Điều 4 Nghị quyết số 02/2018/NQ - HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

    Xử phạt: Trương Văn Q 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng. Thời hạn thử thách kể từ ngày tuyên án.

    Giao bị cáo Trương Văn Q cho Ủy ban nhân dân xã Y, huyện B, tỉnh Hà Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 68 của Luật thi hành án hình sự.

    Hủy bỏ ngay biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo.

  3. Về hình phạt bổ sung: Không.
  4. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) khúc gỗ Nghiến nhóm IIA có khối lượng còn lại tại hiện trường là 0,342m³ (Không phẩy ba trăm bốn mươi hai mét khối); 03 (ba) Khúc gỗ nghiến (dạng thớt) có đường kính 45cm x 6cm có tổng khối lượng 0,027m³ (Không phẩy không hai bẩy mét khối); 01 (một) Khúc gỗ nghiến (dạng thớt) có đường kính 50cm x 7cm có khối lượng 0,013m³ (Không phẩy không mười ba mét khối).

    Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) con dao tông dài 38cm cả chuôi dao, bản rộng nhất 5,4cm, chuôi dao bằng gỗ dài 11cm.

    (Tình trạng như trong biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 06/11/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Mê).

  5. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 584, 585, 586 và Điều 589 của Bộ luật Dân sự.

    Buộc bị cáo Trương Văn Q bồi thường cho Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện B số tiền 664.500đ (Sáu trăm sáu mươi bốn nghìn năm trăm đồng) để nộp sung vào ngân sách nhà nước, được khấu trừ vào số tiền đã nộp là 664.500 đồng theo biên lai thu tiền số 0003200 ngày 31/10/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Mê .

  6. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

    Bị cáo Trương Văn Q được miễn nộp toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.

  7. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Bị cáo, nguyên đơn dân sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hà Giang;
  • - VKSND huyện + tỉnh Hà Giang;
  • - Cơ quan CSĐT Công an huyện Bắc Mê;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Hà Giang;
  • - Phòng PV06 CA tỉnh Hà Giang;
  • - Cơ quan THAHS CA huyện Bắc Mê;
  • - Chi cục THADS huyện Bắc Mê;
  • - UBND xã Yên Định, huyện Bắc Mê;
  • - Bị cáo; người bào chữa;
  • - Nguyên đơn dân sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

(Đã ký)

Hoàng Văn Thuận

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 28/2023/HS-ST ngày 16/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC MÊ, TỈNH HÀ GIANG về vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản

  • Số bản án: 28/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC MÊ, TỈNH HÀ GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trương Văn Q
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger