Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HÀ

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2023/HS-ST

Ngày: 29/11/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HÀ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: bà Vương Thị Thanh
  • - Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Văn Bình và ông Phạm Văn Kha
  • - Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Trung Hiếu, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hải Hà
  • - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hải Hà tham gia phiên tòa: ông Vũ Hữu Quảng, kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hải Hà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 23/2023/TLST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2023, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2023/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2023 đối với:

*Các bị cáo:

1. L; tên gọi khác: không; sinh ngày 27/02/1994 tại huyện H, tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: bản C, xã Q, huyện H, tỉnh Quảng Ninh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Dao; giới tính: nam; tôn giáo: không; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; con ông: Lỷ Văn P và bà Trưởng Thị N; vợ: Trưởng T; có 03 con; tiền án, tiền sự: chưa. Bị cáo đầu thú, tạm giữ ngày 15/9/2023, ngày 17/9/2023 áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh, hiện đang tại ngoại, có mặt.

2. Đặng Quí V; tên gọi khác: không; sinh ngày 11/10/1990 tại huyện H, tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: thôn E, xã Q, huyện H, tỉnh Quảng Ninh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Dao; giới tính: nam; tôn giáo: không; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 05/12; con ông: Đặng Phúc T (đã chết) và bà Chưởng Si M; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: chưa; bị cáo đầu thú, tạm giữ ngày 08/9/2023, ngày 17/9/2023 áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh, hiện đang tại ngoại, có mặt.

3. Lỷ N1 Và; tên gọi khác: không; sinh ngày 14/8/1959 tại huyện H, tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: bản V, xã Q, huyện H, tỉnh Quảng Ninh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Dao; giới tính: nam; tôn giáo: không; nghề nghiệp: làm ruộng; trình độ học vấn: không biết chữ; con ông: Lỷ A H và bà Phoòng Nhì C; vợ: Trưởng N; tiền án, tiền sự: chưa; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh từ ngày 27/1/2023, hiện đang tại ngoại, có mặt.

* Người bào chữa cho các bị cáo:

- Người bào chữa cho các bị cáo Lỷ Hiền N2Lỷ N1 Và: bà Nguyễn Thị H1 - Luật sư của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Q, có mặt.

- Người bào chữa của bị cáo Đặng Quí V: bà Khương Thị S - Luật sư của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Q, có mặt.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: anh Nguyễn Văn V1, sinh năm 1993.

Địa chỉ: khu G, thị trấn Q, huyện H, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

* Người chứng kiến:

  • - Anh Lường A T1, sinh năm 1990.
  • Nơi cư trú: bản Vắn Tốc, xã Q, huyện H, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.
  • - Chị Ngô Thị T2, sinh năm 1993.
  • Nơi cư trú: thôn H, xã Q, huyện H, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.

* Người phiên dịch: chị Đặng Thị B (giáo viên dịch tiếng dân tộc thiểu số).

Địa chỉ: thôn D, xã Q, huyện H, tỉnh Quảng Ninh, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 04/9/2023, khi đi bắt cá ở bờ suối biên giới Trung Quốc - Việt Nam thuộc bản V, xã Q, huyện H, Lỷ Hiền N2 gặp một người đàn ông Trung Quốc tên N3 (không rõ lai lịch), N3 làm quen và xin số điện thoại của N2 để khi có việc cần sẽ nhờ.

Khoảng 08 giờ ngày 06/9/2023 N2 lại gặp N3 tại khu vực trên, Nhì nói chuyện đặt vấn đề thuê N2 vận chuyển hàng hóa đông lạnh từ Trung Quốc vào nội địa Việt Nam khu vực thị trấn Q, huyện H với giá 8.000 đồng/01kg, khi vận chuyển sẽ có người chỉ đường giao hàng và trả tiền công vận chuyển, số lượng hàng khoảng 05 tấn, vận chuyển qua bãi nhà L Nhật V, khu vực giáp ranh giữa địa phận Trung Quốc với địa phận Việt Nam qua con suối cạn, tối cùng ngày sẽ bắt đầu vận chuyển (dùng ám hiệu chiếu ánh đèn pin để xác định vị trí vận chuyển), N2 đồng ý. Sau đó N2 đến nhà Lỷ N1 Và đặt vấn đề thuê điểm vận chuyển hàng qua suối biên giới và đi qua đất nhà Nhật V2, N Và đồng ý báo giá cho thuê là 500.000 đồng/01 chuyến, nếu để hàng vào nhà cấp 4 của N Và thì giá 1.000.000 đồng/01 chuyến.

Do trước đó Đặng Quí V có nhờ N2 tìm kiếm việc làm nên N2 rủ V tham gia vận chuyển hàng chia đôi tiền công, V đồng ý. N2 nói cho V việc N3 thuê vận chuyển hàng hóa và bảo V tìm công nhân bốc vác, tìm xe tải để thuê vận chuyển hàng hóa, V sẽ liên hệ với N1 Và để thuê điểm vận chuyển, tập kết hàng hóa, nhờ N1 Và thuê công nhân và trông coi việc bốc vác hàng hóa. Chiều ngày 06/9/02023 V đến nhà N Và thống nhất việc thuê điểm vận chuyển hàng qua suối biên giới và

đi qua đất nhà N1 Và là 500.000 đồng/01 chuyến, nếu để nhờ hàng vào nhà cấp 4 của N Và thì giá 1.000.000 đồng/01 chuyến, Nhật V giúp thuê công nhân bốc vác với giá 3.000 đồng/01kg. Sau đó N Và đến khu vực cửa khẩu B1, xã Q tìm công nhân (không rõ lai lịch địa chỉ) bốc vác hàng thuê với giá 3.000 đồng/01kg, họ đồng ý và đến nhà N Và chờ.

Khoảng 21 giờ cùng ngày V đến bản Vắn Tốc chờ, đến khoảng 00 giờ ngày 07/9/2023 thấy có tín hiệu đèn pin phía Trung Quốc, V bảo khoảng 07-08 công nhân đi qua con suối cạn, sang sát hàng rào biên giới Trung Quốc nhận, bốc vác hàng về bãi nhà N Và. Khoảng 02 giờ sáng cùng ngày thì bốc xong, sợ trời mưa nên V cho bốc hàng vào ngôi nhà cấp 4 của Nhật V2 để.

Khoảng 05 giờ sáng cùng ngày, V báo cho N2 biết hàng hóa đã chuyển về bãi tập kết xong, V gửi số điện thoại cho N2 liên hệ với Nguyễn Văn V1 để thuê xe tải chở hàng, tuy nhiên chỉ bảo V1 chở “cá giống”, không nói rõ nguồn gốc, V1 đồng ý với giá 2.000.000 đồng/01 chuyến vận chuyển từ xã Q về cầu H, thị trấn Q, nếu đi xa hơn trong thị trấn thì thêm 500.000 đồng/01 chuyến. N2 báo cho N3 biết đã thuê được xe tải chuyển hàng thì N3 dặn qua cầu Q đón 01 người chỉ đường (không rõ lai lịch), N2 dặn V1 đón người của N3.

Khoảng 09 giờ cùng ngày, V1 điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát (BKS) 14H-028.83 đến khu vực nhà N (thuộc khu vực mốc biên giới M1342(2)+700 thuộc bản Vắn Tốc, xã Q), V bảo công nhân bốc hàng lên xe tải, khi đang bốc hàng thì bị lực lượng Biên phòng Q kiểm tra hành chính, phát hiện trên xe có 65 bao tải, trong các bao tải chứa các thùng xốp đựng hàng hóa nội tạng động vật, nầm lợn đông lạnh không có giấy tờ chứng minh nguồn gốc, cụ thể: 18 thùng xốp to, mỗi thùng nặng 40kg; 47 thùng xốp nhỏ mỗi thùng nặng 25kg. Kiểm tra ngôi nhà cấp 4 nơi bốc hàng phát hiện 94 bao tải, trong các bao tải chứa các thùng xốp đựng hàng hóa nầm lợn đông lạnh không rõ nguồn gốc, xuất xứ, cụ thể: 63 thùng xốp to, mỗi thùng nặng 40kg; 31 thùng xốp nhỏ mỗi thùng nặng 25kg. Tổng trọng lượng hàng hóa nầm lợn đông lạnh thu giữ là 5.190kg. Ngày 08/9/2023 V đầu thú, ngày 15/9/2023 N2 đầu thú và khai báo sự việc.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 912/KL-ĐGTS ngày 08/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H thể hiện: 5.190kg (năm nghìn một trăm chín mươi kilôgam) nầm lợn đông lạnh có giá trị 415.200.000đ (bốn trăm mười lăm triệu hai trăm nghìn đồng).

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố đối với các bị cáo. Tại phiên toà, các bị cáo đều khai do hoàn cảnh kinh tế khó khăn, không có việc làm ổn định nên khi được thuê vận chuyển hàng hoá từ Trung Quốc về Việt Nam qua đường mòn suối biên giới, các bị cáo vì thiếu hiểu biết pháp luật nên đã nhận lời làm thuê để lấy tiền công. Các bị cáo đều bày tỏ thái độ ăn năn hối lỗi về hành vi phạm tội của mình, đồng thời xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn V1 vắng mặt tại phiên toà có lời khai tại Cơ quan điều tra cho biết: khoảng 06 giờ ngày 07/9/2023 V gọi điện

cho anh hỏi thuê anh đi chở hàng cho V từ Q về đầu cầu mới thị trấn Q với giá 2.000.000 đồng, nếu đi xa hơn trong thị trấn thì trả thêm 500.000 đồng, anh đồng ý và V dặn sẽ có người liên hệ để hướng dẫn đường đi lấy hàng. Một lúc sau N2 gọi điện cho anh bảo đi đến khu vực ngã ba Q đón một người, anh làm theo hướng dẫn của N2 và đón một người đàn ông lên xe và chỉ đường cho anh. Người đó chỉ đường cho anh đi tới khu vực sân nhà ông Lỷ N1 Và, có 6 người công nhân đang chờ ở đó và bốc hàng lên xe, anh không biết họ bốc hàng gì vì được bọc kín trong những thùng hình chữ nhật. Khi đang bốc hàng thì lực lượng biên phòng đến kiểm tra và thu giữ toàn bộ số hàng hoá đang bốc, khi lực lượng biên phòng mở 1 thùng hàng ra thì anh mới biết là nầm lợn đông lạnh. Anh không biết số hàng hoá trên vận chuyển từ biên giới Trung Quốc về Việt Nam và cũng không biết đó là hàng hoá không có nguồn gốc xuất xứ, anh chỉ chở thuê để lấy tiền công. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra tạm giữ của anh 01 xe ô tô tải BKS 14H-028.83, 01 giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô và 01 giấy phép lái xe và đã trả lại cho anh những tài sản trên, đối với 01 điện thoại nhãn hiệu iphone màu hồng anh đang bị tạm giữ, anh đề nghị Hội đồng xét xử xem xét trả lại cho anh để sử dụng.

Những người chứng kiến Lường A T1Ngô Thị T2 vắng mặt tại phiên toà có lời khai tại Cơ quan điều tra phù hợp với lời khai của các bị cáo.

Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, thu giữ vật chứng, kết quả phù hợp với lời khai của các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và những người chứng kiến về thời gian, địa điểm, diễn biến vụ việc vận chuyển trái phép 5.190kg nầm lợn đông lạnh từ Trung Quốc vào Việt Nam qua khu vực suối cạn thuộc bản V, xã Q, huyện H.

Tại cáo trạng số 27/CT-VKSHH ngày 08/11/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hà đã truy tố Lỷ H, Đặng Quí VLỷ N1 Và về tội: "Vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới" quy định tại điểm b khoản 2 Điều 189 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hà vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 189; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt:

  • - Lỷ Hiền N2 từ 30 đến 36 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • - Đặng Quí V từ 27 đến 30 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 54 đến 60 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • - Lỷ N1 Và từ 24 đến 27 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 48 đến 54 tháng tính từ ngày tuyên áo sơ thẩm.

Giao các bị cáo Lỷ Hiền N2Lỷ N1 Và cho Ủy ban nhân dân xã Q, huyện H, tỉnh Quảng Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Giao bị cáo Đặng Quí V cho Ủy ban nhân dân xã Q, huyện H, tỉnh Quảng Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Về xử lý vật chứng: đề nghị tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động bị cáo V sử dụng liên lạc phạm tội, trả lại cho anh Nguyễn Văn V1 01 điện thoại di động.

Người bào chữa cho bị cáo Lỷ Hiền N2Lỷ N1 Và là bà Nguyễn Thị H1, luật sư bào chữa cho bị cáo Đặng Quí V là bà Khương Thị S – Luật sư thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Q có mặt tại phiên tòa có quan điểm bào chữa cho các bị cáo như sau: bà H1 và bà S đồng tình với kết luận điều tra và cáo trạng truy tố đối với các bị cáo về tội danh “Vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới”, tuy nhiên, cả hai luật sư đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các bị cáo chỉ là những người lao động, sinh sống ở vùng miền núi điều kiện kinh tế xã hội khó khăn, nhận thức pháp luật hạn chế, không biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật hình sự nên nhất thời phạm tội, đồng thời đề nghị Tòa án xem xét cho các bị cáo hưởng án treo, tạo điều kiện cho các bị cáo vì hoàn cảnh gia đình đều khó khăn.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa cơ bản rõ ràng, phù hợp với lời khai của bị hại và những người làm chứng cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định: đêm ngày 06/9/2023 và rạng sáng ngày 07/9/2023, tại khu vực mốc biên giới M1342(2)+700 thuộc bản Vắn Tốc, xã Q, huyện H, Lỷ Hiền N2, Đặng Quí VLỷ N1 Và có hành vi vận chuyển trái phép 5.190kg nội tạng động vật nầm lợn đông lạnh, không có giấy tờ chứng minh nguồn gốc xuất xứ hàng hóa, tổng trị giá 415.200.000 đồng từ Trung Quốc vào Việt Nam bị lực lượng Biên phòng Q - Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Q kiểm tra phát hiện, thu giữ vật chứng. Do đó, hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới” với tình tiết định khung “vật phạm pháp trị giá từ 300.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 189 Bộ luật Hình sự. Do đó, cáo trạng số 27/CT-VKSHH ngày 08/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hà truy tố đối với Lỷ Hiền N2, Đặng Quí VLỷ N1 Và là đúng người, đúng tội, lời luận tội có căn cứ, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người bào chữa cho các bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[3] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự hoạt động xuất nhập khẩu hàng

hoá của nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến hoạt động thông thương hàng hoá giữa hai bên qua cửa khẩu chính thức cũng như làm ảnh hưởng đến hoạt động buôn bán hàng hoá trong nội địa. Các bị cáo lợi dụng địa bàn khu vực suối biên giới mùa nước cạn, vận chuyển số lượng lớn hàng hoá không có nguồn gốc xuất xứ từ Trung Quốc về Việt Nam để hưởng tiền công. Do đó, cần đưa các bị cáo ra xét xử nghiêm minh.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: các bị cáo quá trình điều tra và tại phiên tòa đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo N2V sau khi phạm tội ra đầu thú, các bị cáo đều là người dân tộc thiểu số sinh sống tại địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn có xác nhận của địa phương nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.

[6] Về vai trò trong vụ án: trong vụ án này, bị cáo N2 là người nhận lời vận chuyển hàng thuê từ Trung Quốc về Việt Nam, N2 rủ V cùng tham gia, phân công nhiệm vụ cho V nên giữ vai trò đầu vụ. V tiếp nhận ý chí của N2, trực tiếp làm việc với Lỷ N1 Và và thuê địa điểm để bốc hàng trung chuyển qua sân nhà Nhật V2, trực tiếp trông coi và chỉ đạo công nhân bốc vác hàng, giữ vai trò sau N2. Lỷ N Và là chủ nhà gần khu vực suối biên giới, mặc dù biết rõ hàng hoá từ Trung Quốc về không có nguồn gốc xuất xứ nhưng vẫn nhận lời cho N2V thuê địa điểm nhà mình tập kết hàng để lấy tiền thuê, đồng thời giúp N2V tìm công nhân bốc vác hàng, do đó Và giữ vai trò sau V và là người giúp sức cho N2V.

[7] Về hình phạt đối với các bị cáo: các bị cáo thực hiện hành vi vận chuyển trái phép hơn 5000kg nầm lợn đông lạnh qua biên giới, tuy nhiên xét các bị cáo nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, là người dân tộc thiểu số sinh sống tại địa bàn kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, nhất thời phạm tội do thiếu hiểu biết pháp luật, bản thân các bị cáo đều là người lao động đi làm thuê, hoàn cảnh gia đình khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương, các bị cáo đều có nơi cư trú rõ ràng, Hội đồng xét xử thấy không cần thiết cách ly khỏi xã hội mà cho cải tạo tại địa phương cũng đủ có tác dụng răn đe, giáo dục đối với các bị cáo, đồng thời thể hiện tính nhân đạo của pháp luật. Đối với biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đang áp dụng đối với các bị cáo cần thiết phải huỷ bỏ.

[8] Về vật chứng vụ án: quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H đã thu giữ:

  • - 01 xe ô tô tải BKS 14H-028.83, 01 giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô và 01 giấy phép lái xe mang tên Nguyễn Văn V1, quá trình điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu, Hội đồng xét xử không đề cập.
  • - 5.190kg nội tạng động vật (nầm lợn đông lạnh), Đồn biên phòng Q1 đã ra quyết định xử lý tiêu huỷ, Hội đồng xét xử không đề cập.
  • - 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iphone màu đen thu giữ của Đặng Quí V, sử dụng liên lạc thực hiện hành vi phạm tội, cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
  • - 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iphone màu hồng thu giữ của Nguyễn Văn V1, sử dụng liên lạc vận chuyển hàng thuê cho V, nhưng V1 không biết V thực hiện hành vi phạm tội nên cần trả lại cho V1 chiếc điện thoại nói trên.
  • - Đối với 01 thẻ sim số 0971886170 gắn trong điện thoại di động của Đặng Quí V, không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu huỷ.

[10] Đối với người đàn ông tên N3 quốc tịch Trung Quốc (theo lời khai của N2) thuê vận chuyển hàng và những công nhân được thuê bốc vác hàng hóa, quá trình điều tra không xác định được, nên không đề cập xử lý.

Đối với Nguyễn Văn V1 (lái xe ô tô BKS 14H-028.83), được N2V4 thuê chở hàng, quá trình điều tra xác định V1 không biết hàng hóa có nguồn gốc từ Trung Quốc, nên không có căn cứ xử lý.

[11] Về hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 4 Điều 189 Bộ luật Hình sự, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Xét thấy, cả 03 bị cáo đều không có việc làm và thu nhập ổn định, không áp dụng hình phạt bổ sung.

[12] Về quyền kháng cáo: các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong bản án trong thời hạn luật định.

[13] Về án phí: bị cáo Lỷ Hiền N2, Đặng Quý V3 là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn. Bị cáo Lỷ N1 Và là người dân tộc thiểu số sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn và là người cao tuổi. Tại phiên tòa các bị cáo đã nộp Đơn xin miễn án phí, nên theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, các bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: điểm b khoản 2 Điều 189; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: các bị cáo Lỷ Hiền N2, Đặng Quí V, Lỷ N1 Và phạm tội “Vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới”.

Xử phạt:

  • - Lỷ Hiền Nam 30 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 (sáu mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (29/11/2023).
  • Giao bị cáo Lỷ Hiền N2 cho Ủy ban nhân dân xã Q, huyện H, tỉnh Quảng Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối

hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.

  • - Đặng Quí V 27 (hai mươi bảy) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 54 (năm mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (29/11/2023).
  • Giao bị cáo Đặng Quí V cho Ủy ban nhân dân xã Q, huyện H, tỉnh Quảng Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.
  • - Lỷ N1 Và 24 (hai mươi bốn) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 (bốn mươi tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (29/11/2023).
  • Giao bị cáo Lỷ N1 Và cho Ủy ban nhân dân xã Q, huyện H, tỉnh Quảng Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Về biện pháp ngăn chặn: áp dụng điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự: hủy bỏ các Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 22/QĐ-CQCSĐT ngày 17/9/2023, số 23/QĐ-CQCSĐT ngày 17/9/2023, số 33/QĐ-CQCSĐT ngày 27/10/2023 và các Quyết định tạm hoãn xuất cảnh số 24/QĐ-CQCSĐT ngày 17/9/2023, số 25/QĐ-CQCSĐT ngày 17/9/2023, số 35/QĐ-CQCSĐT ngày 27/10/2023 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H.

Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • - Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iphone màu đen.
  • - Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) thẻ sim số 0971886170 gắn trong điện thoại di động nhãn hiệu iphone màu đen.
  • - Trả lại cho anh Nguyễn Văn V1, sinh năm1993, địa chỉ: khu G, thị trấn Q, huyện H, tỉnh Quảng Ninh 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iphone màu hồng gắn 01 thẻ sim số 0963133882.

(Các vật chứng nói trên tình trạng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 06/CCTHADS ngày 13/11/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hải Hà).

Về án phí: áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về chế độ thu, miễn, giảm, thu nộp và

quản lý án phí, lệ phí Toà án: các bị cáo Lỷ Hiền N2, Đặng Quí VLỷ N1 Và được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: áp dụng khoản 1, khoản 4 Điều 331, khoản 1, khoản 3 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo về những vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Ninh;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - Cơ quan CSĐT Công an huyện Hải Hà;
  • - Cơ quan THAHS Công an huyện Hải Hà;
  • - Cơ quan hồ sơ nghiệp vụ cảnh sát Công an huyện Hải Hà;
  • - Nhà tạm giữ Công an huyện Hải Hà;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hải Hà;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh;
  • - Ủy ban nhân dân xã Q, huyện
  • - Ủy ban nhân dân xã Q, huyện;
  • - Các Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu: VP, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vương Thị Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 28/2023/HS-ST ngày 29/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HÀ, TỈNH QUẢNG NINH về vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới

  • Số bản án: 28/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HÀ, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố: các bị cáo Lỷ Hiền N, Đặng Quí V, Lỷ Nhật phạm tội “Vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới).
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger