Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ T
TỈNH TUYÊN QUANG

Bản án số: 28/2021/HS-ST
Ngày 08/4/2021
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T, TỈNH TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vương Thị Lan

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Thảo và bà Lý Thị Nhân

- Thư ký phiên tòa: Bà Triệu Thị Thúy Tình – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Tuyên Quang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Bà Phạm Hương Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 4 năm 2021, tại Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Tuyên Quang mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 22/2021/TLST- HS ngày 10 tháng 3 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2021/QĐXXST- HS ngày 25/3/2021 đối với bị cáo:

Họ và tên: Vũ Trung T, sinh ngày 11/11/1965;

Nơi cư trú: tổ 17, phường M, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Vũ Quốc K, sinh năm 1941 và bà Vũ Thị T, sinh năm 1942; Anh chị em ruột: Có 03 người, bị cáo là thứ hai; Vợ: Nguyễn Thị Kim T, sinh năm 1963; Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 1990, con nhỏ sinh năm 2001.

* Tiền án, tiền sự: Không.

* Nhân thân:

  • + Ngày 28/01/2015 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Tuyên Quang xử phạt 02 năm 03 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy;
  • + Ngày 28/10/2019 Công an phường M xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, hình thức phạt tiền 750.000 đồng;

* Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/12/2020 đến nay, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ ngày 17/12/2020, bị cáo Tuyến, trú tại tổ 17, phường M, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang một mình điều khiển xe mô tô biển số 22B2-41120 (xe mượn của con rể bị cáo là Nguyễn Vũ Hoàng L, trú tại số 3, ngách 146/1, phố Định Công Thượng, phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội) từ nhà đến khu vực bến xe khách thành phố T mua được 01 gói Heroine được gói ngoài bằng giấy báo của một người đàn ông không xác định được tên tuổi địa chỉ với số tiền 200.000 đồng mục đích để sử dụng. Sau khi mua được Heroine, bị cáo cất giấu vào túi quần bên trái đang mặc rồi điều khiển xe mô tô đến khu vực bờ sông thuộc phường M, thành phố T lấy một ít Heroine vừa mua được ra sử dụng bằng hình thức đốt hít vào cơ thể. Số ma túy còn lại, bị cáo gói lại rồi tiếp tục cất giấu trong túi quần bên trái đang mặc và đi về nhà. Khi bị cáo đi đến khu vực tổ 5, phường M, thành phố T thì bị Tổ công tác công an thành phố T phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang vào hồi 14 giờ 40 phút cùng ngày, bị cáo tự giác giao nộp 01 gói Heroine.

Tại Kết luận giám định số 15/GĐKTHS ngày 21/12/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Tuyên Quang, kết luận: Mẫu vật thu giữ của bị cáo khi bắt phạm tội quả tang gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine (Herôin); khối lượng 0,182g (không phẩy một tám hai gam).

Kết quả xét nghiệm tìm chất may túy trong cơ thể bị cáo (+) dương tính, có chất ma túy trong cơ thể.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tạm giữ 01 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn, mặt trước ghi “Tang vật vụ Vũ Trung T, giám định ngày 17/12/2020”, mặt sau tại các mép dán có chữ ký của T, các thành phần tham gia niêm phong và 05 hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Tuyên Quang, bên trong chứa 0,132g Heroine (khối lượng Heroin còn lại sau giám định); 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S màu đen, biển số 22B2-41120.

Tại bản Cáo trạng số 26/CT-VKSTP ngày 09 tháng 3 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân thành phố T đã truy tố bị cáo Vũ Trung T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, kết thúc phần xét hỏi, Kiểm sát viên giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Vũ Trung T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Vũ Trung T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, xử phạt bị cáo Vũ Trung T từ 01 (một) năm 03(ba) tháng tù đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.
  • - Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì bên trong chứa 0,132g Heroine thu giữ của bị cáo là tang vật của vụ án (khối lượng Heroine còn lại sau khi lấy mẫu giám định).
  • - Tuyên quyền kháng cáo và nghĩa vụ chịu án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố các Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn khi thực hành quyền công tố. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Vũ Trung T tiếp tục khai nhận hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra. Hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh bằng: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ; kết luận giám định và cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hồi 09 giờ 40 phút ngày 17/12/2020, tại khu vực tổ 5, phường M, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang. Vũ Trung T, cư trú tại tổ 17, phường M, thành phố T, đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,182g (Không phẩy một tám hai gam) Heroine, mục đích để sử dụng.

Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý, hành vi của bị cáo xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, hành vi của bị cáo cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố T truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định, cần chấp nhận.

[3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có mẹ đẻ được tặng Huân chương kháng chiến hạng ba trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Về hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo đã gây mất trật tự trị an tại địa phương, làm ảnh hưởng đến phong trào đấu tranh phòng, chống tội phạm và bài trừ tệ nạn ma tuý trên địa bàn thành phố T. Bị cáo có nhân thân xấu, đã bị xử xét xử 01 lần về tội tàng trữ trái phép chất ma túy, 01 lần bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, bản thân bị cáo sống tại trung tâm thành phố, có nhận thức pháp luật, hiểu được tác hại của ma túy đối với sức khỏe, kinh tế và an ninh trật tự xã hội, xác định được hậu quả của việc tàng trữ ma túy trái phép nhưng không rút kinh nghiệm mà còn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, qua đó đánh giá ý thức pháp luật của bị cáo là rất kém, Do vậy, cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt nghiêm khắc tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố: Bị cáo Vũ Trung T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

Xử phạt bị cáo Vũ Trung T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 17/12/2020.

2. Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn, trên các mép dán có chữ ký của Vũ Trung T, chữ ký của các thành phần tham gia, có 05 hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Tuyên Quang bên trong có 0,132gam Heroine (khối lượng còn lại sau khi lấy mẫu giám định);

3. Căn cứ khoản 2 Điều 136; khoản 1 Điều 331, khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án 08/4/2021.

Nơi nhận:
- TAND tỉnh Tuyên Quang;
- VKSND tỉnh Tuyên Quang;
- Công an tỉnh Tuyên Quang;
- Sở Tư pháp tỉnh Tuyên Quang;
- VKSND tp Tuyên Quang;
- Công an tp Tuyên Quang;
- Chi cục THDS tp Tuyên Quang;
- UBND phường M;
- Bị cáo;
- Hồ sơ vụ án hình sự;
- Lưu HS.
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Vương Thị Lan
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 28/2021/HS-ST ngày 08/04/2021 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Tuyên Quang về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 28/2021/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/04/2021
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Tuyên Quang
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger