|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ C TỈNH KHÁNH HÒA Bản án số: 28/2021/HNGĐ – ST Ngày: 06/4/2021 V/v “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ C – TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên Tòa: Ông Trần Quốc Hay
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Đại Hải
- Ông Lê Xuân Hoàng
- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Nữ Thanh Hường – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố C, tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố C, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên toà: Ông Bùi Văn Khánh – Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 4 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố C mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 01/2021/TLST –HNGĐ ngày 06 tháng 01 năm 2021 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2021/QĐST – HNGĐ ngày 24 tháng 02 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 26/2021/QĐST – HNGĐ ngày 17 tháng 3 năm 2021; giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T - Sinh năm 1989
Nơi cư trú: Tổ dân phố Phú S, phường C1, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa.
Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Quốc H - Sinh năm: 1988
Nơi cư trú: Tổ dân phố Phú S, phường C1, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa.
Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 23/12/2020, bản tự khai ngày 12/01/2021, các tài liệu trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị T trình bày: Tôi và anh Nguyễn Quốc H tự nguyện kết hôn năm 2008, được UBND phường C2, cấp giấy chứng nhận kết hôn số 66, quyển số 01/2008, ngày ngày 29 tháng 9 năm 2008.
Thời gian đầu chúng tôi sống chung với nhau hạnh phúc, tuy nhiên đến đầu năm 2019 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là anh H không chăm lo cho gia đình, vợ con mà thường xuyên đi qua đêm ở bên ngoài với người phụ nữ khác. Tôi và gia đình đã nhiều lần khuyên bảo và cho anh H cơ hội nhưng anh vẫn chứng nào tật đó, không chịu sửa đổi. Nhận thấy không thể kéo dài cuộc hôn nhân này nữa nên tôi yêu cầu Tòa án giải quyết cho chúng tôi ly hôn.
Về con chung: Chúng tôi có tất cả 02 con chung tên Nguyễn Quốc Đ, sinh ngày 19/4/2010 và Nguyễn Thị Mai L, sinh ngày 22/11/2011. Sau khi ly hôn tôi đề nghị Tòa án giao cả 02 con cho tôi trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành, không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa bị đơn ông Nguyễn Quốc H vắng mặt và trong suốt quá trình giải quyết vụ án ông H cũng không có ý kiến bằng văn bản đối với yêu cầu khởi kiện nguyên đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố C phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm. Nguyên đơn chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn và nuôi con chung của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
- Bị đơn ông Nguyễn Quốc H đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt, Tòa án căn cứ theo quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
- Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị T vắng mặt, tuy nhiên bà T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, Tòa án căn cứ vào Khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt nguyên đơn.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Quốc H tự nguyện kết hôn năm 2008, được UBND phường C2, cấp giấy chứng nhận kết hôn số 66, quyển số 01/2008, ngày 29 tháng 9 năm 2008 nên xác định đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.
Quá trình chung sống: Thời gian đầu bà T và ông H sống chung với nhau hạnh phúc, tuy nhiên đến đầu năm 2019 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là ông H không chăm lo cho gia đình, vợ con mà thường xuyên đi qua đêm ở bên ngoài với người phụ nữ khác. Bà T và gia đình đã nhiều lần khuyên bảo và cho ông H cơ hội nhưng ông vẫn chứng nào tật đó, không chịu sửa đổi. Qua xác minh, tại địa phương không nắm được tình trạng hôn nhân của ông H và bà T; tuy nhiên căn cứ vào lời khai của nguyên đơn và việc ông H từ chối đến Tòa theo triệu tập của Tòa án để giải quyết yêu cầu ly hôn của bà T cho thấy ông H không quan tâm đến cuộc hôn nhân này nữa. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa ông H và bà T đã đến mức trầm trọng, có kéo dài để sống chung thì mục đích hôn nhân cũng không đạt được. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị T đối với ông Nguyễn Quốc H.
[3] Về con chung: Nguyên đơn xác định có tất cả 02 (hai) con chung tên Nguyễn Quốc Đ, sinh ngày 19/4/2010 và Nguyễn Thị Mai L, sinh ngày 22/11/2011. Xét thấy, sau khi ly hôn việc giao con chưa thành niên cho người nào nuôi dưỡng, giáo dục là nhằm mục đích giúp con chưa thành niên phát triển toàn diện cả về thể chất lẫn tinh thần. Nguyên đơn mong muốn được tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục cháu Đ và cháu L đến tuổi trưởng thành, thực tế từ trước đến nay cả 02 cháu sống cùng nguyên đơn và được đảm bảo đầy đủ điều kiện sống và học tập; nguyện vọng của 02 cháu là muốn sống cùng nguyên đơn. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận giao cháu Đ và cháu L cho nguyên đơn được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành. Nguyên đơn không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.
[4] Về tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn khai không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về án phí: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 và Điều 116 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng Dân sự và Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Nguyễn Thị T được ly hôn với ông Nguyễn Quốc H.
- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Quốc Đ, sinh ngày 19/4/2010 và Nguyễn Thị Mai L, sinh ngày 22/11/2011 cho bà Nguyễn Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành. Bà T không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con. Sau khi ly hôn vì quyền lợi của con, các bên có quyền làm đơn yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con; Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này.
- Về án phí: Bà Nguyễn Thị T phải nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng tại biên lai số AA/2019/0001097 ngày 05 tháng 01 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố C. Như vậy, bà Nguyễn Thị T đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn.
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
Quy định: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án; quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận: - TAND tỉnh Khánh Hòa; - VKSND thành phố C; - Chi cục THADS thành phố C; - UBND phường C2 (Số 66, quyển số 01/2008, ngày 29/9/2008); - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ, án văn. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Quốc Hay |
Bản án số 28/2021/HNGĐ – ST ngày 06/04/2021 của Tòa án nhân dân thành phố C, tỉnh Khánh Hòa về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 28/2021/HNGĐ – ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/04/2021
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố C, tỉnh Khánh Hòa
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
