Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH PHÚ THỌ


Bản án số: 28/2021/HNGĐ-ST

Ngày 09 tháng 6 năm 2021

V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa Phiên toà: Bà Lê Thị Thu Huyền;

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Hảo; Bà Nguyễn Thị Phẩm.

- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Vân - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Tôn Thị Thanh Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 6 năm 2021 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 03/2021/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 01 năm 2021 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2021/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 5 năm 2021 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Nguyễn Trung Q, sinh năm 1980; ĐKHKTT: Tổ 42, phố T, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.

Bị đơn: Chị Khổng Thị L, sinh năm 1987; ĐKHKTT: Tổ 42, phố T, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Chị L hiện đang ở Nhật Bản.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Khổng Minh L, sinh năm 1966 và bà Hà Thị L, sinh năm 1964; ĐKHKTT: Khu 4, xã V (Nay là khu L, xã B), huyện P, tỉnh Phú Thọ.

(Các đương sự đều có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng nguyên đơn anh Nguyễn Trung Q trình bày: Anh và chị Khổng Thị L đăng ký kết hôn ngày 20/3/2006 tại UBND phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Trước khi kết hôn hai bên được tự do tìm hiểu, đăng ký kết hôn tự nguyện, không bị ai ép buộc. Sau khi kết hôn vợ chồng về sống cùng bố mẹ đẻ của anh tại tổ 42, phố T, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do chị L không coi trọng, trân quý cuộc sống gia đình của mình. Đến tháng 9 năm 2019 chị L đi lao động tại Nhật Bản và hiện nay chưa quay trở lại Việt Nam. Kể từ khi chị L đi lao động tại Nhật Bản vợ chồng không còn liên lạc với nhau, không có sự quan tâm, thương yêu, chăm sóc lẫn nhau. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh Q đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ giải quyết cho anh được ly hôn với chị Khổng Thị L.

Về con chung: Anh Nguyễn Trung Q xác định vợ chồng có 03 con chung là Nguyễn Khắc Đ, sinh ngày 01/4/2007; Nguyễn Khắc N, sinh ngày 13/3/2017; Nguyễn Khắc H, sinh ngày 13/3/2017 (Cháu N, H là hai cháu sinh đôi). Khi ly hôn anh Q xin được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu N và cháu H; chị L sẽ trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Đ. Nguyện vọng của cháu Đ là được ở cùng mẹ nên anh cũng tôn trọng nguyện vọng của cháu. Hai bên không phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.

Về tài sản chung, công nợ, công sức đóng góp: Anh Q xác định vợ chồng không có nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

Về án phí ly hôn: Anh Nguyễn Trung Q tự nguyện chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.

Bị đơn chị Khổng Thị L vắng mặt nhưng có quan điểm thể hiện tại đơn đề nghị đề ngày 08/3/2021, ngày 26/4/2021: Chị và anh Nguyễn Trung Q đăng ký kết hôn ngày 20/3/2006 tại UBND phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Quá trình chung sống hòa thuận đến cuối năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn do không hợp nhau. Đến tháng 9/2019 chị đi lao động tại Nhật Bản. Nay anh Q xin ly hôn, quan điểm của chị là đồng ý ly hôn với anh Q. Về con chung và tài sản chung, chị thống nhất như ý kiến của anh Q.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về tố tụng: Quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn đang ở nước ngoài nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ theo quy định tại Điều 35, Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2]. Về nội dung: Xét thấy hôn nhân giữa anh Q và chị L đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Hai bên đều thống nhất thuận tình ly hôn nên Tòa án chấp nhận.

[3]. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Khắc N và Nguyễn Khắc H cho anh Q trực tiếp nuôi dưỡng; giao cháu Nguyễn Khắc Đ cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng. Trong thời gian chị L ở nước ngoài, ông Khổng Minh L và bà Hà Thị L (ông bà ngoại) sẽ thay chị L chăm sóc cháu Đ.

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 55; Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết về án phí.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Nguyễn Trung Q và chị Khổng Thị L.
  2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Khắc N (sinh 13/3/2017) và Nguyễn Khắc H (sinh 13/3/2017) cho anh Q trực tiếp nuôi dưỡng. Giao cháu Nguyễn Khắc Đ (sinh 01/4/2007) cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.
  3. Về tài sản chung: Không xem xét giải quyết do các đương sự xác định không có.
  4. Về án phí: Anh Nguyễn Trung Q tự nguyện chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - Cục THADS tỉnh Phú Thọ;
  • - UBND P.T, TP. V;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HS - AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ





Lê Thị Thu Huyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 28/2021/HNGĐ-ST ngày 09/06/2021 của Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 28/2021/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/06/2021
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Anh Nguyễn Trung Quân xin ly hôn chị Khổng Thị Lý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger