|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ VÕ TỈNH BẮC NINH Bản án số: 28/2021/HNGĐ-ST |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ VÕ
- Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị L
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu H và ông Nguyễn Văn H
- Thư ký phiên toà: Ông Lê Quốc H - Thư ký TAND huyện QV
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện QV, tỉnh BN tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Kim Ph – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 4 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện QV, Tỉnh BN mở phiên toà công khai xét xử sơ thẩm vụ án “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” thụ lý số 131/2021/TLST- HNGĐ ngày 22 tháng 01 năm 2021 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2021/QĐST- HNGĐ ngày 12 tháng 4 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 08/2021/QĐST- HNGĐ ngày 29/4/2021, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lê Thị L, sinh năm 1983 (Có mặt)
STQ: Thôn HĐ, xã HQ, huyện QV, tỉnh BN - Bị đơn: Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1979 (Có mặt)
STQ: Thôn HĐ, xã HQ, huyện QV, tỉnh BN
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn chị Lê Thị L trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn C được hai gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán địa phương vào tháng 8/2001. Trước khi cưới, anh chị được tự nguyện tìm hiểu và được UBND xã HQ cấp giấy chứng nhận kết hôn theo quy định của pháp luật. Sau ngày cưới, anh chị về chung sống cùng nhau hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2014 thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân, do bất đồng về quan điểm sống, cách sống. Anh C không chung thủy, có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác và có con riêng. Sau nhiều lần chị bỏ qua, nhắc nhở nhưng anh C không sửa chữa, từ bỏ dẫn đến đời sống của vợ chồng càng mâu thuẫn và không có hạnh phúc. Tháng 7/2019, chị đã về nhà đẻ sinh sống, trong thời gian ly thân, giữa chị và anh C không có biện pháp nào để đoàn tụ. Nay chị nhận thấy, tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn C.
- Về con chung: Vợ chồng sinh được 03 con chung là Nguyễn Ngọc Minh, sinh ngày 29/9/2002, Nguyễn Văn Vương, sinh ngày 03/01/2006 và Nguyễn Thùy Linh, sinh ngày 17/10/2008. Hiện cháu Minh đã trưởng thành nên cháu có nguyện vọng ở với ai là do cháu quyết định. Đối với cháu Vương và cháu Linh, chị có ý kiến các cháu có nguyện vọng ở với ai thì chị cũng đồng ý. Cấp dưỡng nuôi con, chị sẽ có trách nhiệm theo khả năng và điều kiện của chị trên cơ sở tự nguyện và không đề nghị Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung, C nợ, C sức: Vợ chồng tự thỏa thuận và không đề nghị Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Chị chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Tại bản tự khai ngày 24/02/2021 và các lời khai thể hiện trong hồ sơ vụ án, bị đơn là anh Nguyễn Văn C trình bày: Anh kết hôn với chị Lê Thị L trên cơ sở tự nguyện và có hôn nhân hợp pháp. Tuy nhiên, trong thời gian chung sống vợ chồng đã phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, cách sống dẫn đến đời sống hôn nhân không có hạnh phúc. Hiện tại hai vợ chồng đã sống ly thân và không còn khả năng đoàn tụ. Do đó, chị L đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn, anh đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị L chỉ cần chị L cùng anh xác nhận C nợ của vợ chồng.
- Về con chung: Vợ chồng sinh được 03 con chung là Nguyễn Ngọc Minh, sinh ngày 29/9/2002, Nguyễn Văn Vương, sinh ngày 03/01/2006 và Nguyễn Thùy Linh, sinh ngày 17/10/2008. Hiện cả ba con chung đang ở với anh. Hiện cháu Minh đã trưởng thành nên cháu ở với ai là do cháu quyết định còn cháu Vương và Linh anh đề nghị được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc các con chung. Cấp dưỡng nuôi con anh không yêu cầu chị L phải đóng góp.
- Về tài sản chung: Trong thời gian chung sống vợ chồng đã tạo lập được khối tài sản chung gồm: 01 xe ô tô Laceti đời 2010, BKS 98H- 1998, giá trị hiện tại khoảng 180.000.000đ; 01 bộ bàn ghế khi mua là 70.000.000đ; Một số tôn đã được tháo ra từ nhà xưởng và bát đĩa, khay thìa, tủ cơm….(Một số đồ dùng phục vụ bếp ăn công nghiệp). Toàn bộ số tài sản này hiện anh đang quản lý và sử dụng. Anh có nguyện vọng được chia cho chị L, chị L nhận tài sản nào thì anh giao cho chị L sử dụng tài sản đó. Anh xác nhận đây là ý kiến, quan điểm của anh và anh không đề nghị Tòa án giải quyết quan hệ tài sản.
Về nợ: Theo anh đến thời điểm chị L về nhà đẻ ở thì vợ chồng còn nợ số tiền của nhà cung cấp là 1.506.000.000đ (Một tỷ năm trăm linh sáu triệu đồng). Số tiền này không phải nhà cung cấp cho anh chị vay mà họ đưa tiền trước cho anh chị và anh chị sử dụng số vốn của họ để làm ăn. Do không phải là tiền vay nên họ không có nghĩa vụ phải đòi. Anh đề nghị chị L xác nhận là trong thời gian chung sống vợ chồng có số nợ trên với nhà cung cấp. Nguyện vọng của anh chỉ cần chị L xác nhận có nợ nhà cung cấp còn anh không yêu cầu chị L phải cùng anh trả số nợ này và anh cũng không đề nghị Tòa án giải quyết khoản nợ tiền nhà cung cấp của vợ chồng anh.
C sức: Không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định: Chị Lê Thị L và anh Nguyễn Văn C kết hôn trên cơ sở tự nguyện và được UBND xã HQ cấp giấy chứng nhận kết hôn theo quy định của pháp luật ngày 28/9/2001, vì vậy đây là hôn nhân hợp pháp. Sau ngày cưới, anh chị về chung sống cùng nhau hòa thuận, hạnh phúc đến đầu năm 2014 thì vợ chồng bắt đầu nẩy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, cách sống dẫn đến cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc. Chị L khai anh C có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác và có con riêng, chị cũng nuôi con riêng của anh C từ khi cháu 06 tháng tuổi đến năm 2019. Tại phiên tòa anh C cũng thừa nhận, do chị L không dành tình cảm cho anh nên anh mới tìm hạnh phúc ở người phụ nữ khác và có với nhau 01 con chung. Từ tháng 7/2019 đến nay chị L đã về nhà đẻ sinh sống và vợ chồng cũng sống ly thân và không có biện pháp đoàn tụ từ đó cho đến nay. Xét mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên để ổn định cuộc sống của hai bên cần xử cho chị L được ly hôn với anh C là phù hợp.
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng: Khoản 1 Điều 28; Khoản 4 Điều 147; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Xử:
Về quan hệ vợ chồng: Chị Lê Thị L được ly hôn với anh Nguyễn Văn C.
Con chung: Giao con chung Nguyễn Văn V, sinh ngày 03/01/2006 và Nguyễn Thùy L, sinh ngày 17/10/2008 cho anh Nguyễn Văn C tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục. Cấp dưỡng nuôi con không đặt ra giải quyết. Chị L có quyền đi lại thăm nom con chung theo quy định của pháp luật và không ai được cản trở chị L thực hiện quyền này.
Về tài sản chung, C nợ, C sức: Không đặt ra giải quyết.
Án phí: Chị Lê Thị L phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận chị L đã nộp 300.000đ tạm ứng án phí tại biên lai số AA/2020/0002565 ngày 22/01/2021 của Chi cục THA dân sự huyện QV, tỉnh BN.
|
Nơi nhận: - TAND tỉnh BN; - VKSND huyện QV; - Chi cục THA huyện QV; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án. |
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị L |
Bản án số 28/2021/HNGĐ-ST ngày 14/05/2021 của Toà án nhân dân huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 28/2021/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/05/2021
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Toà án nhân dân huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Thị Loan - Nguyễn văn Công "Ly hôn"
