|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN Bản án số: 28/2021/DS-PT Ngày 29-6-2021 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Thùy.
Các Thẩm phán: Bà Chu Lệ Hường; Ông Lộc Sơn Thái.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thu Nga, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn: Bà Hoàng Thanh Huyền, Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Ngày 25 và ngày 29 tháng 6 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 05/2021/TLPT-DS ngày 14 tháng 5 năm 2021 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản;
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 03/2021/DS-ST ngày 01 tháng 4 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn bị kháng cáo;
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 14/2021/QĐ-PT ngày 04 tháng 6 năm 2021 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị N; địa chỉ: Số **, đường P, PL4, phường H, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; có mặt.
- Bị đơn:
- Ông Dương Mạnh C,
- Bà Hoàng Thị H;
- Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị N là nguyên đơn, ông Dương Mạnh C là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và Bản án dân sự sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bà Nguyễn Thị N, là nguyên đơn trình bày: Do có quan hệ quen biết nên bà Nguyễn Thị N đã nhiều lần cho vợ chồng ông Dương Mạnh C và bà Hoàng Thị H vay tiền. Hiện nay, tổng số tiền mà vợ chồng ông Dương Mạnh C còn nợ bà là 618.270.000 đồng được thể hiện tại Giấy vay tiền đề ngày 14/10/2019, Giấy cam kết đề ngày 26/10/2019 và các giấy đề nghị tạm ứng, chuyển khoản khác.
Ngày 14/10/2019, bà Nguyễn Thị N cho ông Dương Mạnh C vay 400.000.000 đồng, hai bên viết Giấy vay tiền; thời hạn vay 02 ngày; bà đã chuyển khoản vào tài khoản của ông Dương Mạnh C 02 lần đủ số tiền 400.000.000 đồng.
Sau đó, bà Nguyễn Thị N tiếp tục cho vợ chồng ông Dương Mạnh C vay tiền để thanh toán tiền cho công nhân Công ty TNHH do ông Dương Mạnh C làm giám đốc. Hai bên viết Giấy cam kết đề ngày 26/10/2019 với nội dung bà Nguyễn Thị N cho ông Dương Mạnh C vay 200.000.000 đồng. Tổng số tiền từ ngày 26/10/2019 đến ngày 06/12/2019 mà bà Nguyễn Thị N chi tiền mặt và chuyển khoản cho ông Dương Mạnh C là 218.270.000 đồng.
Về lãi suất: Hai bên thỏa thuận mức lãi suất là 1.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày.
Sau nhiều lần đòi nợ, bà Hoàng Thị H đã trả bà Nguyễn Thị N tổng số tiền là 70.000.000 đồng vào tháng 01/2020; số tiền này được trừ vào nợ gốc.
Ngày 20/10/2020, bà Nguyễn Thị N làm đơn khởi kiện, yêu cầu ông Dương Mạnh C và bà Hoàng Thị H thanh toán tiền nợ gốc còn lại là 548.270.000 đồng và tiền nợ lãi.
Về phía ông Dương Mạnh C thừa nhận vay tổng số tiền là 600.000.000 đồng nhưng trình bày rằng đã trả cho bà N 490.000.000 đồng vào ngày 28/10/2019, tuy nhiên không lập giấy tờ. Ông C xác định chỉ còn nợ gốc 130.000.000 đồng.
Bản án sơ thẩm số 03/2021/DS-ST ngày 01/4/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn đã quyết định chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị N, buộc ông C và bà H liên đới trả tổng số tiền 629.809.000 đồng (gồm 548.270.000 đồng nợ gốc và 81.539.000 đồng nợ lãi).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các đương sự, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy có căn cứ xác định quan hệ vay tài sản giữa bà N và vợ chồng ông C, bà H.
[2] Đối với khoản vay 400.000.000 đồng ngày 14/10/2019, các bên đều thừa nhận nên không cần chứng minh.
[3] Đối với số tiền vay còn lại thông qua các giấy đề nghị tạm ứng, mặc dù ông C không thừa nhận nhưng các nhân viên công ty và bà H đã thừa nhận việc nhận tiền, và các giấy này đều có sự đồng ý của ông C với tư cách Giám đốc. Do đó, việc xác định tổng nợ gốc 618.270.000 đồng là có căn cứ.
[4] Về số tiền ông C khai đã trả 490.000.000 đồng: Ông C không đưa ra được chứng cứ chứng minh nên không được chấp nhận. Việc bà N thừa nhận nhận 190.000.000 đồng là để trả cho các khoản vay khác không nằm trong đơn khởi kiện này.
[5] Về lãi suất: Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng mức lãi suất 10%/năm là chưa phù hợp với các quy định tại Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP. Hội đồng xét xử phúc thẩm tính lại lãi suất theo quy định của Bộ luật Dân sự, chia ra các giai đoạn trong hạn và quá hạn.
[6] Tổng số tiền nợ lãi được tính lại là 119.418.000 đồng. Tổng cộng nợ gốc và lãi là 667.688.000 đồng.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 và khoản 1 Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị N, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Dương Mạnh C. Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị N. Buộc ông Dương Mạnh C và bà Hoàng Thị H liên đới trả bà Nguyễn Thị N tổng số tiền là 667.688.000 đồng (Sáu trăm sáu mươi bảy triệu sáu trăm tám mươi tám nghìn đồng), trong đó nợ gốc là 548.270.000 đồng, nợ lãi tính đến ngày 01/4/2021 là 119.418.000 đồng.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc ông Dương Mạnh C và bà Hoàng Thị H liên đới nộp 30.707.000 đồng tiền án phí. Hoàn trả bà Nguyễn Thị N 16.979.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Các đương sự không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả bà N và ông C mỗi người 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp.
Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Thị Minh Thùy |
Bản án số 28/2021/DS-PT ngày 29/06/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 28/2021/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 29/06/2021
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Do có quan hệ quen biết nên bà Nguyễn Thị N đã nhiều lần cho vợ chồng ông Dương Mạnh C và bà Hoàng Thị H vay tiền. Hiện nay, tổng số tiền mà vợ chồng ông Dương Mạnh C còn nợ bà là 618.270.000 đồng được thể hiện tại Giấy vay tiền đề ngày 14/10/2019, Giấy cam kết đề ngày 26/10/2019 và 10 Giấy đề nghị tạm ứng đề ngày 26/10/2019, 07 Giấy đề nghị tạm ứng, chuyển khoản đề ngày 31/10/2019, 02/11/2019, 06/11/2019, 08/11/2019, 09/11/2019 và 01 bản phô tô tin nhắn điện thoại thể hiện nội dung chuyển khoản ngày 06/12/2019. Sau nhiều lần đòi nợ, bà Hoàng Thị H (vợ ông Dương Mạnh C) đã trả bà Nguyễn Thị N tổng số tiền là 70.000.000 đồng (lần 1 trả 50.000.000 đồng vào ngày 21/01/2020, lần 2 trả 20.000.000 đồng vào ngày 24/01/2020); số tiền 70.000.000 đồng đó được trừ vào nợ gốc. Ngày 20/10/2020, bà Nguyễn Thị N làm đơn khởi kiện, yêu cầu ông Dương Mạnh C và bà Hoàng Thị H có nghĩa vụ thanh toán tiền nợ gốc còn lại là 548.270.000 đồng và tiền nợ lãi tính từ ngày 14/10/2019 đến ngày 20/10/2020 là 200.666.820 đồng. Tại phiên tòa sơ thẩm, bà Nguyễn Thị N giữ nguyên yêu cầu về số tiền nợ gốc và yêu cầu Tòa án giải quyết nợ lãi theo quy định của pháp luật. Trong thời hạn luật định, nguyên đơn bà Nguyễn Thị N và bị đơn ông Dương Mạnh C kháng cáo.Bà Nguyễn Thị N kháng cáo về tiền nợ lãi; yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét tính lại lãi suất, yêu cầu bị đơn phải trả mức lãi suất là 18%/năm của số tiền gốc kể từ ngày vay, lãi chậm trả của số tiền nợ gốc là 150%/năm, lãi chậm trả của số tiền lãi là 10%/năm.Ông Dương Mạnh C kháng cáo về nợ gốc, nợ lãi và nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm; ông Dương Mạnh C xác định số tiền nợ gốc là 130.000.000 đồng, yêu cầu tính nợ lãi trên số tiền nợ gốc nói trên kể từ ngày 24/01/2020 cho đến nay, buộc bà Nguyễn Thị N phải chịu một phần tiền án phí dân sự sơ thẩm.
