|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN Bản án số: 28/2021/DS-PT Ngày 22/9/2021 V/v “Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Trung Thực
Các Thẩm phán: Bà Vũ Thị Nga và ông Trương Quang Tú.
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Phạm Thị Thu - Cán bộ Toà án nhân dân tỉnh Hưng Yên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Ngọc Tú - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 02/2021/TLPT - DS ngày 11/01/2021 về việc “Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất”. Do bản án dân sự sơ thẩm số 17/2020/DS-ST ngày 07/12/2020 của Tòa án nhân dân huyện Yên Mỹ bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2021/QĐPT - DS ngày 06/5/2021 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị V, sinh năm 1981; (Có mặt)
Quê quán: Thôn L.T, xã L.X, huyện Y.M, tỉnh Hưng Yên.
Trú tại: Thôn Y.P, xã Gi.Ph, huyện Y.M, tỉnh Hưng Yên. - Bị đơn: Anh Đỗ Thế Đ, sinh năm 1978; (Có mặt)
Trú tại: Thôn L.T, xã L.X, huyện Y.M, tỉnh Hưng Yên. - Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- 3.1. Bà Trương Thị L, sinh năm 1951; (Vắng mặt)
- 3.2. Chị Đỗ Thị T, sinh năm 1982; (Vắng mặt)
Người đại diện theo ủy quyền của bà L và chị T là chị Đỗ Thị V. - 3.3. Bà Trần Thị M (Trần Thị M), sinh năm 1950; (Có mặt)
- 3.4. Anh Đỗ Thế Đ, sinh năm 1987; (Có mặt)
- 3.5. Chị Đỗ Thị H, sinh năm 1982; (Vắng mặt)
- 3.6. Chị Đỗ Thị M, sinh năm 1979; (Vắng mặt)
- 3.7. Chị Đỗ Thị L1, sinh năm 1953; (Có mặt)
- 3.8. Chị Trương Thị A, sinh năm 1978; (Có mặt)
- 3.9. Chị Lưu Thị M, sinh năm 1981; (Vắng mặt)
Đều trú tại: Thôn L.T, xã L.X, huyện Y.M, tỉnh Hưng Yên. - 3.10. Bà Đỗ Thị H2, sinh năm 1958; (Có mặt)
Trú tại: Thôn Đ.M, xã Đ.T, huyện M.Đ, tp. Hà Nội.
- Người làm chứng:
- 5.1. Ông Đ.T.T, sinh năm 1929; (Có mặt).
- 5.2. Ông Đỗ Thế Y, sinh năm 1930; (Có mặt).
- 5.3. Ông Lưu Đức C, sinh năm 1945; (Có mặt).
- Người kháng cáo: Nguyên đơn chị Đỗ Thị V.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 29 tháng 6 năm 2018, đơn khởi kiện bổ sung đề ngày 20 tháng 8 năm 2018 và quá trình giải quyết tại Tòa án, nguyên đơn chị Đỗ Thị V trình bày:
Cụ Đỗ Thế S và cụ Luyện Thị M là ông bà nội của chị sinh được 04 người con gồm: ông Đỗ Thế V1, ông Đỗ Thế D, ông Đỗ Thị L, Bà Đỗ Thị H. Ngoài ra hai cụ không có con riêng và con nuôi. Cụ M chết ngày 02/5/1979, cụ S chết tháng 6/1998. Hai cụ khi chết đều không để lại di chúc.
Ông Đỗ Thế V1 có vợ là Bà Trương Thị L và có 02 con chung là chị Đỗ Thị V, sinh năm 1981 và Chị Đỗ Thị T, sinh năm 1982. Ông Đỗ Thế D có vợ là Bà Trần Thị M và có 04 con chung gồm anh Đỗ Thế Đ, sinh năm 1978, Chị Đỗ Thị M, sinh năm 1979, Anh Đỗ Thế Đ, sinh năm 1987, Chị Đỗ Thị H, sinh năm 1983. Ông Đỗ Thế V1 chết năm 1983, ông D chết năm 1995 đều không để lại di chúc.
Sinh thời, vợ chồng hai cụ S, Muộn sống trên mảnh đất cha ông để lại tại Thôn L.T, xã L.X, huyện Y.M, tỉnh Hưng Yên. Ông V1 và ông D sau khi lập gia đình thì đều sinh sống trên thửa đất tranh chấp cùng hai cụ. Năm 1979, sau khi cụ M chết, cụ S tiếp tục quản lý và sử dụng mảnh đất. Thực hiện Chỉ thị 299 của Thủ tướng Chính phủ, cụ S đã kê khai đăng ký với nhà nước và vào bản đồ xác lập tài sản vợ chồng là thửa đất số 375 diện tích 306m2 tại Thôn L.T, xã L.X, huyện Y.M, tỉnh Hưng Yên. Năm 1998, cụ S kê khai đăng ký lại thành thửa đất số 208 diện tích 296,7m2. Ngoài đất thổ cư, năm 1993 cụ S được chia 01 tiêu chuẩn ruộng nông nghiệp diện tích 598m2 nằm trong hộ gia đình ông Đỗ Thế D.
Tháng 6 năm 1998 cụ S chết. Toàn bộ tài sản chung của hai cụ S, M để lại tại thửa đất số 208 diện tích 296,7 m2 do bà L và ông M quản lý sử dụng. Tiêu chuẩn ruộng nông nghiệp của cụ S do ông M quản lý sử dụng.
Năm 2005, bà L đã kê khai đăng ký thửa đất của vợ chồng cụ S, cụ M được chia thành 02 thửa là thửa số 55 diện tích 145 m2 tờ bản đồ số 26 đứng tên Đỗ Thế Vinh và thửa số 56 diện tích 155 m2 tờ bản đồ số 26 đứng tên Đỗ Thế Dự.
Năm 2010, anh Đỗ Thế Đ có đơn khiếu nại về đất nên đã được UBND huyện Yên Mỹ giải quyết theo Quyết định số 221 ngày 29/01/2011 của Chủ tịch UBND huyện Yên Mỹ quyết định các thửa đất số 55, 56 cùng tờ bản đồ số 26 tổng diện tích 300m2, loại đất ONT là đất ông cha để lại cho Cụ Đỗ Thế S và không công nhận việc tách thửa đất của Cụ Đỗ Thế S ra thành 02 thửa mang tên Đỗ Thế V và Đỗ Thế Dự như bản đồ năm 2005 vì tại thời điểm này cụ S và 02 con trai của cụ là ông V1 và ông D đều đã chết.
...
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng khoản 2 Điều 308, Điều 147,148,244 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 623, 650, 651, 652, 357, 468 Bộ luật dân sự; Điều 12,13,14,24,25,26 Pháp lệnh thừa kế năm 1990; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của chị Đỗ Thị V. Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 17/2020/DS-ST ngày 07/12/2020 của Tòa án nhân dân huyện Yên Mỹ như sau:
- [1]. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của chị Đỗ Thị V đối với di sản của Cụ Đỗ Thế S là tiêu chuẩn 598m2 ruộng nông nghiệp tại Thôn L.T, xã L.X, huyện Y.M, tỉnh Hưng Yên.
- [2]. Chấp nhận yêu cầu chia thừa kế của chị Đỗ Thị V đối với di sản của cụ Luyện Thị M, Đỗ Thế S để lại là 296,5m2 đất ở thuộc thửa số 55, 56 tờ bản đồ số 26 tại Thôn L.T, xã L.X, huyện Y.M, tỉnh Hưng Yên. Trị giá di sản của hai cụ là 2.075.500.000 đồng.
- [3]. Áng trích công sức tôn tạo, bảo quản di sản cho anh Đ, ông M, chị Anh tương ứng với số tiền 75.500.000đ. Giá trị Di sản của cụ Luyện Thị M, Đỗ Thế S còn lại để chia thừa kế là 2.000.000.000đ.
- [4]. Chia di sản của cụ Luyện Thị M và Cụ Đỗ Thế S theo pháp luật. Việc phân chia hiện vật cụ thể như sau:
- Giao cho chị Đỗ Thị V được quản lý, sử dụng 76,2m2 đất (là phần được ký hiệu ABCDEF trên sơ đồ trong đó: AB = 3.75m, BC = 3.2m, CD = 0.97m, DE = 13.65m, EF = 4.74m, FA = 16.71m) thuộc Thôn L.T, xã L.X, huyện Y.M, tỉnh Hưng Yên. Trên đất có một số tài sản do vợ chồng anh Đ xây dựng gồm: công trình kiên cố xây năm 2003, mái lợp proxi măng diện tích 21,5m2, giá trị còn lại là 10.113.750đ; Công trình bán kiên cố mái lợp tôn, diện tích 25,62m2 xây năm 2018 trị giá 73.131.816đ. Chị V được quyền sở hữu các tài sản trên nhưng phải trả vợ chồng anh Đ, chị Anh giá trị các tài sản bằng tiền.
- Giao cho anh Đỗ Thế Đ được quản lý, sử dụng 220,3m2 đất (là phần được ký hiệu BCDEGHIKLM trên sơ đồ) cùng các tài sản do vợ chồng anh tạo dựng trên đất thuộc Thôn L.T, xã L.X, huyện Y.M, tỉnh Hưng Yên.
|
Nơi nhận: - VKSND tỉnh Hưng Yên; - TA, THA huyện Y.M; - Các đương sự; - Lưu HSVA, văn phòng. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Phạm Trung Thực |
Bản án số 28/2021/DS-PT ngày 22/09/2021 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN về tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất
- Số bản án: 28/2021/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 22/09/2021
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyên Đơn chị Đỗ Thị V Bị Đơn anh Đỗ Thế Đ
