Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH


Bản án số: 28/2021/DS-PT

Ngày 18- 01- 2021

V/v “Tranh chấp Quyền sử dụng đất, yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với việc thực hiện quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Minh
Các Thẩm phán: Ông Phan Nhựt Bình
Ông Hoàng Thanh Dũng

- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Quang Nhựt - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Mậu Hưng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 18 tháng 01 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 512/2019/TLPT-DS ngày 01 tháng 10 năm 2019 về việc: “Tranh chấp Quyền sử dụng đất, yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với việc thực hiện quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 43/2019/DS-ST ngày 01 tháng 8 năm 2019 của Toà án nhân dân tỉnh An Giang bị kháng cáo;

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 364/2020/QĐPT-DS ngày 29 tháng 7 năm 2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn:

  • 1.1. Ông Lê Minh D, sinh năm 1966 (có đơn xin xét xử vắng mặt).
  • 1.2. Bà Lâm Thị H, sinh năm 1962.
  • Nơi cư trú: Số 115, tổ 8, ấp T, thị trấn O, huyện T, tỉnh An Giang.
  • Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn (bà Lâm Thị H): Ông Lương Tống T, sinh năm 1964, nơi cư trú: Số 118/6B, đường R, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang là người đại diện theo ủy quyền theo Giấy ủy quyền ngày 06/02/2017 (có mặt).

2. Bị đơn:

  • 2.1. Bà Ngô Thị E, sinh năm 1948 (có mặt).
  • 2.2. Ông Trần Văn U, sinh năm 1946 (vắng mặt).
  • Nơi cư trú: Tổ 8, ấp T, thị trấn O, huyện T, tỉnh An Giang.
  • Người đại diện hợp pháp của bị đơn (ông Trần Văn U): Ông Trần Văn P, sinh năm 1982, nơi cư trú: Ấp T, thị trấn O, huyện T, tỉnh An Giang là người đại diện theo ủy quyền theo Giấy ủy quyền ngày 24/10/2018 (có mặt).
  • Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Nguyễn Văn P - Hãng Luật P và Luật sư thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • 3.1. Ông Lê Minh S, sinh năm 1983 (xin vắng mặt);
  • 3.2. Bà Lê Thị X, sinh năm 1985 (xin vắng mặt);
  • 3.3. Cháu Lê Thị H, sinh năm 2002 do ông Lê Minh D và bà Lâm Thị Hà là người đại diện theo pháp luật (có đơn xin xét xử vắng mặt).
  • Cùng cư trú: Số 115, tổ 8, ấp T, thị trấn O, huyện T, tỉnh An Giang.
  • 3.4. Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh An Giang.
  • Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Minh T - Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh An Giang (vắng mặt).
  • Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đỗ Chí Q - Phó Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện T, tỉnh An Giang (Giấy ủy quyền ngày 09/10/2018) (có đơn xin xét xử vắng mặt).

4. Người kháng cáo: Bị đơn là bà Ngô Thị E và người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Trần Văn Pháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn là ông Lê Minh D và bà Lâm Thị Hà (bà H ủy quyền cho ông Lương Tống T) trình bày:

Hộ ông D và bà H được hưởng thừa kế của cha mẹ để lại phần đất diện tích 2.236,4m², thửa đất số 30, tờ bản đồ địa chính số 41, mục đích sử dụng đất ở tại đô thị và đất trồng cây lâu năm, tọa lạc tại ấp T, thị trấn O, huyện T, tỉnh An Giang. Đất đã được UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00752 ngày 01/11/2005 cho hộ ông D và bà H. Khi hộ ông D và bà H làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo dạng đại trà thì ông U có ký tên tứ cận. Trong phần đất này, vào năm 2002 ông bà và ông U, bà E có thỏa thuận ông U, bà E chuyển nhượng lại cho ông bà phần đất xéo cánh buồm diện tích khoảng 40m² trị giá 05 chỉ vàng 24 kara theo Biên nhận (Không ghi ngày tháng năm) do ông U, bà E ký tên và lăn tay. Khi ông D, bà H xây hàng rào xung quanh phần đất thì ông U, bà E ngăn cản không cho ông bà xây dựng.

Sau khi đo đạc hiện trạng khu đất tranh chấp thì phát hiện ông U, bà E đã lấn chiếm của ông D, bà H phần đất diện tích 35,8m². Ông D, bà H yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Trần Văn U và bà Ngô Thị E phải chấm dứt hành vi cản trở ông D, bà H thực hiện quyền sử dụng đất đối với thửa đất nêu trên và yêu cầu ông U, bà E phải tháo dỡ, di dời hàng rào và cây trồng trên đất để trả lại phần đất diện tích 35,8m² theo Bản trích đo hiện trạng khu đất do Văn Phòng Đăng ký đất đai chi nhánh T ngày 04/7/2018 được giới hạn bởi các điểm 8, 9, 39, 45. Ông D, bà H không đồng ý theo yêu cầu của ông U, bà E yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông bà.

Bị đơn là ông Trần Văn U ủy quyền cho anh Trần Văn Pháp và bà Ngô Thị E trình bày:

Nguồn gốc đất ông bà đang sử dụng diện tích khoảng 2.500m² đến 3.000m², tọa lạc tại ấp T, thị trấn O, huyện T, tỉnh An Giang là của cha ông U là cụ Trần Văn K (đã chết) để lại trước giải phóng và ông bà đã sử dụng hơn 50 năm nay nhưng các giấy tờ đất đã bị thất lạc, hiện nay ông bà chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Hàng năm ông bà đều có đóng thuế đất cho Nhà nước đầy đủ nhưng ông bà không nhớ diện tích đất đã đóng thuế. Ông bà thừa nhận có nhận 05 chỉ vàng 24kara của ông D, bà H bồi hoàn thành quả lao động phần đất hình chéo cánh buồm nhưng không biết diện tích cụ thể. Khi ông D, bà H làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông U có ký tên và ghi họ tên tứ cận, bà E không ký tên tứ cận. Đối với phần đất ông D, bà H xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bà có cho con là anh Trần Văn Tâm diện tích ngang 6m, dài không biết diện tích nhưng phần đất này cũng không có giấy tờ, ông bà không tranh chấp trong vụ án này. Nếu sau này anh Tâm có tranh chấp sẽ khởi kiện ông D, bà H bằng vụ án khác. Ông U và bà E không đồng ý đối với yêu cầu khởi kiện của ông D, bà H yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở việc thực hiện quyền sử dụng đất đối với phần đất nêu trên và không đồng ý trả lại phần đất diện tích 35,8m² theo Bản trích đo hiện trạng khu đất do Văn Phòng Đăng ký đất đai chi nhánh T lập ngày 04/7/2018 được giới hạn bởi các điểm 8, 9, 39, 45. Ông bà yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp số H00752 ngày 01/11/2005 cấp cho hộ ông D, bà H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Phía bị đơn kháng cáo cho rằng phần đất có diện tích 35,8m² đang tranh chấp thuộc một phần thửa đất có diện tích khoảng 2.500m² đến 3.000m², thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bị đơn, có nguồn gốc do cha ông Trần Văn U là cụ Trần Văn K để lại, gia đình bị đơn đã sử dụng hơn 50 năm.

- Hội đồng xét xử nhận thấy, vào ngày 01/11/2005, hộ ông D, bà H đã được UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00752 đối với phần đất có diện tích 2.236,4m², thửa số 30, tờ bản đồ số 41, tọa lạc tại ấp T, thị trấn O, huyện T, tỉnh An Giang. Theo Bản trích đo hiện trạng khu đất do Văn phòng Đăng ký đất đai chi nhánh T lập ngày 04/7/2018 thể hiện: phần đất diện tích 35,8m² được giới hạn bởi các điểm 8, 9, 39, 45 nằm trong phần đất có diện tích 2.236,4m² đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông D, bà H.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Khoản 1 Điều 136, Điều 138, Điều 140, Điều 169, Điều 245, Điều 247, Điều 248 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 166, Điều 203 của Luật đất đai năm 2013;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ông Lê Minh D và bà Lâm Thị Hà. Buộc ông Trần Văn U và bà Ngô Thị E phải chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với việc thực hiện quyền sử dụng đất diện tích 2.236,4m², thửa số 30, tờ bản đồ số 41, tọa lạc tại ấp T, thị trấn O, huyện T, tỉnh An Giang.
  2. Không chấp nhận yêu cầu của ông Trần Văn U và bà Ngô Thị E yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00752 ngày 01/11/2005 cấp cho hộ ông Lê Minh D và bà Lâm Thị Hà.
Nơi nhận:
- Tòa án nhân dân tối cao;
- VKSND cấp cao tại TP.HCM;
- TAND tỉnh An Giang;
- VKSND tỉnh An Giang;
- Cục THADS tỉnh An Giang;
- Các đương sự;
- Lưu.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA



Nguyễn Văn Minh
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 28/2021/DS-PT ngày 18/01/2021 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh về tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với việc thực hiện quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 28/2021/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Quyền sử dụng đất, yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với việc thực hiện quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 18/01/2021
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Y án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger