|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 279/2024/DS-ST
Ngày: 30-5-2024
V/v “Tranh chấp về hợp đồng vay tài sản"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12-THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Hữu Hạnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Công Chiếm.
- Ông Võ Văn Tốt.
Thư ký phiên tòa: Ông Trần Thiện Quang – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12 xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 379/2023/TLST-DS ngày 05 tháng 7 năm 2023 về tranh chấp về vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 338/2024/QĐXXST-DS ngày 03 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 487/2024/QĐST-DS ngày 03 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1952. (có mặt)
Địa chỉ: phường T, Quận A, TP . - Đại diện theo ủy quyền: Bà Trần Thị T – địa chỉ: Thôn N, xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. (có mặt)
- Bị đơn: Ông Nguyễn Phúc V. (có mặt)
Địa chỉ: phường T, Quận A, TP . - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Nguyễn Khắc T1 và bà Bùi Thị M. (có mặt)
Cùng địa chỉ: phường T, Quận A, TP .
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 26/6/2023, bản tự khai, biên bản không tiến hành hòa giải được và tại phiên toà, cùng các tài liệu chứng cứ kèm theo nguyên đơn bà Nguyễn Thị Đ trình bày:
Bà Đ có cho ông Nguyễn Phúc V vay ngày 15/6/2022 là 240.000.000₫ (hai trăm bốn mươi triệu đồng) bao gồm chuyển khoản 220.000.000đ và đưa tiền mặt cho ông V 20.000.000đ thời hạn vay 02 tháng, không tính lãi. Đến nay, ông V chỉ trả được cho bà Đ 115.000.000đ (một trăm mười lăm triệu đồng); bà Đ có thay đổi một phần yêu cầu là bà không đòi số tiền mặt 20.00.000₫ do bà không có chứng cứ giao tiền nên bà chỉ yêu cầu ông V trả số tiền còn thiếu là: 105.000.000đ (một trăm lẻ năm triệu đồng).
Nay bà Đ khởi kiện yêu cầu bị đơn trả dứt số nợ 105.000.000đ (một trăm lẻ năm triệu đồng), không yêu cầu trả lãi.
Nguyên đơn, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn là bà Trần Thị T cũng không bổ sung gì thêm.
Bị đơn ông Nguyễn Phúc V tại bản tường trình sự việc ngày 08/9/2023 trình bày: Ông V thừa nhận có nhận số tiền 240.000.000đ (hai trăm bốn mươi triệu đồng) chuyển khoản qua ngân hàng từ bà Đ như bà Đ đã trình bày. Tuy nhiên, sau đó ông đưa hết số tiền này lại cho cha của ông là ông Nguyễn Phúc H (đã chết). Ông V khẳng định chính cha ông mới là người vay tiền của bà Đ, bản thân ông chỉ là người nhận dùm tiền mà thôi.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Khắc T1 và bà Bùi Thị M cho rằng không hề biết là ông H vay tiền của bà Đ, nhưng có biết số tiền 240.000.000đ (hai trăm bốn mươi triệu đồng) V mang về nhà sau khi nhận chuyển khoản từ bà Đ. Cho nên, bà M và ông T1 không đồng ý trả số tiền nợ này.
Tại phiên toà hôm nay ông V có xuất trình 01 (một) USB màu đen nêu là bằng chứng bà Đ nói ông V không có vay tiền của bà nhưng không có tài liệu diễn giải kèm theo.
Sau khi thụ lý hồ sơ vụ án, Tòa án đã tiến hành điều tra, mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải và mở phiên tòa xét xử hôm nay ngày 30/5/2024.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 tại phiên tòa hôm nay: Quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử đảm bảo đúng trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định; nguyên đơn đều chấp hành tốt các quy định pháp luật, trừ trường hợp của bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không chấp hành đúng quy định tại Điều 72, Điều 73 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Các bên đều không chứng minh được hợp đồng vay mượn nên cần xác định quan hệ tranh chấp là “đòi tài sản”. Có đủ cơ sở để chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn theo quy định tại các Điều 166 của Bộ luật Dân sự năm 2015, các Điều 26, 35 và 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 buộc bị đơn ông V trả cho nguyên đơn số tiền nợ gốc là 105.000.000đ (một trăm lẻ năm triệu đồng). Kiến nghị Tòa án khắc phục vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả thảo luận của hội đồng xét xử, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, Tòa án nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Các đương sự tranh chấp với nhau về việc yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp vay tài sản dù cho không ai chứng minh được có hợp đồng vay nhưng có giấy cam kết trả nợ nhiều lần của ông T1 đối với bà Đ ngày 23/6/2023 nên đây là quan hệ vay mượn tiền. Đây là tranh chấp về dân sự theo quy định tại Khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Do bị đơn cư trú tại Quận A nên căn cứ vào Điểm a, Khoản 1 Điều 35 và Điểm a, Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
[2] Về yêu cầu của các đương sự:
Hội thẩm nhân dân là ông Nguyễn Văn Q và ông Nguyễn Mạnh T2 đều vắng mặt do bận công tác nên có hội thẩm nhân dân dự khuyết là ông Võ Văn T3 và ông Nguyễn Công C tham gia xét xử thay theo quy định tại khoản 1 Điều 226 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Xét yêu cầu của nguyên đơn bà Đ trên cơ sở căn cứ vào lời tự khai của đương sự, căn cứ các tài liệu, chứng cứ do đương sự cung cấp, Tòa án thu thập: Hội đồng xét xử xét thấy: Có đủ cơ sở để khẳng định một mình ông V có vay số tiền 240.000.000đ (hai trăm bốn mươi triệu đồng) của bà Đ bằng chuyển khoản 220.000.000đ (theo giấy sổ phụ/statement in ngày 22/6/2023 của Ngân hàng N chi nhánh T4) và nhận tiền mặt 20.000.000đ vào ngày 15/6/2022. Chính bản tường trình sự việc ngày 08/9/2023 của bị đơn ông V cũng thừa nhận có nhận số tiền 240.000.000đ (hai trăm bốn mươi triệu đồng) của bà Đ nhưng ông lại cho rằng ông đã rút tiền và gửi lại hết số tiền này cho cha ông là ông Nguyễn Phúc H (chết ngày 14/02/2023 theo giấy trích lục khai tử số 21/TLKT ngày 15/02/2023 do UBND phường T, Quận A cấp). Bị đơn ông V lập luận vậy là để né tránh trách nhiệm vay và ông cũng không có tài liệu chứng cứ gì chứng minh là bà Đ cho cha ông vay số tiền trên nên không có cơ sở xem xét. Việc giải quyết tranh chấp liên quan số nợ này nếu có giữa ông V và cha ông, những người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng như bà M, ông T1 sẽ được thực hiện bằng việc khởi kiện một vụ án khác. Tại phiên toà ông V có đưa 01 (một) USB màu đen nêu là bằng chứng bà Đ nói ông V không có vay tiền của bà nhưng không có tài liệu diễn giải kèm theo theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về chứng cứ điện tử, video, ghi âm,... nên Hội đồng xét xử không thể xem xét.
Bà Đ cũng thừa nhận gia đình ông V đã trả cho bà được 115.000.000đ, bà Đ không yêu cầu ông V trả số tiền mặt đã đưa không có chứng từ là 20.000.000₫ cho nên, Hội đồng xét xử nghĩ chấp nhận yêu cầu của bà Đ buộc cá nhân ông V phải trả cho bà Đ số tiền còn thiếu lại là 220.000.000₫ – 115.000.000₫ = 105.000.000đ (một trăm lẻ năm triệu đồng), không yêu cầu tính lãi.
Về án phí sơ thẩm: 5% x 105.000.000đ = 5.250.000đ (năm triệu hai trăm năm mươi ngàn đồng) bị đơn ông V phải nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ vào các Điều 147, 238, 273 và 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Căn cứ vào các Điều 357, 463, 466 và 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- - Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Đ:
1. Buộc bị đơn ông Nguyễn Phúc V thanh toán cho nguyên đơn bà Nguyễn Thị Đ số tiền nợ vay còn thiếu là 105.000.000đ (một trăm lẻ năm triệu đồng), không tính lãi.
Thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Kể từ ngày nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án nếu bị đơn ông V chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì ông V còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán theo quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Về án phí sơ thẩm 5.250.000đ (năm triệu hai trăm năm mươi ngàn đồng) bị đơn ông Nguyễn Phúc V phải nộp.
Bà Nguyễn Thị Đ được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí.
3. Quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008./.
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN Trương Hữu Hạnh |
Bản án số 279/2024/DS-ST ngày 30/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp về hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 279/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp vay tái sản
