TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK Bản án số: 279/2024/HS-ST Ngày: 23-9-2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
– Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim Cúc
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Bùi Ngọc Thảo
2. Bà Nguyễn Thị Tạc
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Phan – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột.
– Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Lê Minh Thuận – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 266/2024/TLST–HS ngày 09 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 297/2024/QĐXXST–HS ngày 13 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên Nguyễn Văn N
Sinh ngày 27 tháng 7 năm 1988; Tại: Hà Tĩnh; Nơi cư trú: Thôn T, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk; Chỗ ở: Thôn A, xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Nghề nghiệp: Nhân viên; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn Á và con bà Nguyễn Thị Tuyết. Bị cáo có vợ là Lê Thị Khánh L và có 03 con, con lớn sinh năm 2011 và con nhỏ nhất sinh năm 2020.
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại – Có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại: Ông Nguyễn Văn L1 – sinh năm 1967 (đã chết)
Người đại diện theo pháp luật: Bà Hoàng Thị L2, Nguyễn Văn T, Nguyễn Thị T1.
Người đại diện theo ủy quyền của gia đình bị hại: Bà Hoàng Thị L2 sinh năm 1973
Địa chỉ: Thôn A, xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. (Vắng mặt)
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Mai Văn C
Địa chỉ Thôn H, xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt)
2. Bà H KBuôr
Địa chỉ: Thôn A, xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 24/01/2024 Nguyễn Văn N (đã có giấy phép lái xe hạng B2 theo quy định, âm tính với chất ma tuý và nồng độ cồn) điều khiển xe ô tô biển số 47A–434.88 lưu thông trên đường L, xã H, thành phố B (đây là đoạn đường thẳng được trải bê tông xi măng bằng phẳng, không có vạch sơn phân chia chiều đường, làn đường xe chạy), theo hướng từ thôn D đến thôn A với tốc độ khoảng 20km/h (theo lời khai của N). Khi N điều khiển xe ô tô đi vào khu vực nơi đường giao nhau (ngã tư) với đường liên thôn khác (đây là đoạn đường thẳng được trải nhựa bằng phẳng, không có vạch sơn phân chia chiều đường, làn đường xe chạy), thuộc thôn A, xã H, thành phố B, cùng lúc đó có ông Nguyễn Văn L1, sinh năm: 1967, trú tại: Thôn A, xã H, thành phố B (không có giấy phép lái xe theo quy định, không đội mũ bảo hiểm, có sử dụng chất có cồn) đang điều khiển xe mô tô biển số 47H3–8717 lưu thông trên đoạn đường này hướng đi từ phải sang trái theo chiều đi của N cũng vào khu vực nơi đường giao nhau nói trên. Do thiếu chú ý quan sát nên N đã để phần đầu phía trước bên phải xe ô tô va chạm với phần hông bên trái của xe mô tô biển số 47H3–8717 do ông L1 điều khiển gây tai nạn giao thông. Hậu quả, ông L1 bị thương tích chảy máu ở vùng đầu, tay, chân, 02 phương tiện nói trên bị hư hỏng nhẹ. Sau đó, N xuống xe thấy ông L1 đã ngồi dậy cạnh chiếc xe mô tô thì gọi điện thoại cho anh Nguyễn Đông N1, sinh năm: 1991, trú tại: Thôn B, xã H, thành phố B đến hiện trường, rồi N điều khiển xe ô tô biển số 47A–434.88 chở ông L1, còn anh N1 điều khiển xe mô tô biển số 47H3– 8717 cùng đến Trạm y tế xã H. Tại đây, người nhà của ông L1 đã đến cùng anh N đưa ông L1 đến Bệnh viện Đ để điều trị, còn chị H Huệ K, sinh năm: 1981, trú tại: Thôn A, xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk đến mang chiếc xe mô tô biển số 47H3– 8717 đi sửa. Đến ngày 25/01/2024, ông L1 tử vong.
Hiện trường vụ tai nạn giao thông:
Hiện trường vụ tai nạn tại nơi giao nhau giữa hai đường liên thôn thuộc thôn A, xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Đoạn đường liên thôn có hướng đi từ thôn A đến thôn D là đoạn đường thẳng, được trải nhựa bằng phẳng, rộng 3,00m, không có vạch sơn phân chia chiều đường và làn đường xe chạy, trước khi đến nơi giao nhau theo hướng từ thôn A đến thôn D có biển báo 205a ở lề đường bên phải. Đoạn đường liên thôn có hướng đi từ thôn D đến thôn A là đoạn đường thẳng, được trải bê tông xi măng bằng phẳng, rộng 3,60m, không có vạch sơn phân chia chiều đường và làn đường xe chạy. Không có chướng ngại vật ảnh hưởng đến tầm quan sát của người tham gia giao thông.
Quá trình khám nghiệm, chọn mép đường bên phải đường liên thôn có hướng đi từ thôn D đến thôn A làm mép đường chuẩn, chọn mép đường bên phải đường liên thôn có hướng đi từ thôn A đến thôn D làm mép đường giả định, các số đo thể hiện tại hiện trường và sơ đồ được đo vuông góc đến mép đường chuẩn và mép đường giả định, chọn gốc trụ biển báo 205a làm mốc cố định (đo vào mép đường giả định 0,70m và đo vào mép đường chuẩn 18,10m), lấy hướng Bắc làm hướng chính thể hiện trong sơ đồ và lấy đơn vị đo là mét.
Vị trí các phương tiện, dấu vết tại hiện trường được đánh số thứ tự, ký hiệu và mô tả như sau:
- Xe ô tô biển số 47H3–8717, ký hiệu (1): Do ông Nguyễn Văn L1 điều khiển lưu thông trên đường liên thôn theo hướng từ thôn A đến thôn D sau tai nạn xe ngã nghiêng bên phải, đầu xe quay về hướng T, đuôi xe quay về hướng N, tâm trục bánh trước cách mép đường chuẩn 0,90m, tâm trục bánh sau cách mép đường chuẩn 0,20m, cách mốc cố định 18,00m.
- Xe ô tô biển số 47A–434.88, ký hiệu (2): Do Nguyễn Văn N điều khiển lưu thông trên đường liên thôn theo hướng từ thôn D đến thôn A, sau tai nạn xe dừng trên đường, đầu xe quay về hướng Bắc đuôi xe quay về hướng N, tâm trục bánh trước bên phải cách mép đường chuẩn 1,05m, tâm trục bánh sau bên phải cách mép đường chuẩn 1,20m, cách tâm trục bánh sau xe (1) 4,45m.
- Vết chà xước, ký hiệu (3): Màu trắng xám, nét đứt quãng, trên mặt đường, kích thước (2,40 x 0,02) m, điểm đầu vết cách mép đường chuẩn 1,05m, cách mép đường giả định 0,45m, điểm cuối vết tại cần thắng chân tiếp xúc với mặt đường.
- Vết chà xước, ký hiệu (4): Màu xám trắng, nét đứt quãng, trên mặt đường, kích thước (1,90 x 0.025) m, điểm đầu vết trùng với đường giả định, cách mép đường chuẩn 0,90m, cách đầu vết (3) 0,50m, điểm cuối vết tại gác chân trước bên phải tiếp xúc với mặt đường.
- Vùng mảnh vỡ, ký hiệu (MV): Kích thước (2,40 x 2,00)m, tâm vùng mảnh vỡ cách tâm bánh sau xe (1) 0,80m, cách mép đường chuẩn 0,15m.
- Vị trí va chạm, ký hiệu (VC): Căn cứ vị trí sau cùng của các phương tiện, dấu vết để lại tại hiện trường và trên phương tiện, xác định vị trí va chạm giữa xe (1) với xe (2) tại nơi giao nhau giữa hai đường liên thôn cách mép đường chuẩn 1,05m, cách mép đường giả định 0,95m, cách tâm bánh sau xe (1) 2,80m, cách tâm bánh sau bên phải xe (2) 6,80m, cách mốc cố định 19,20m. (Bút lục 49–50; 55–56)
Tại bản Kết luận giám định pháp y về tử thi số 69/KLGĐTT–PY, ngày 26/02/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đ kết luận: Nguyên nhân tử vong của ông Nguyễn Văn L1: Chấn thương sọ não nặng/Chấn thương ngực kín/Nhiều thương tích do tai nạn giao thông. (Bút lục 18–19)
Tại bản Kết luận giám định số 454/KL–KTHS, ngày 03/4/2024, của Phòng K1 Công an tỉnh Đ kết luận: Xe ô tô nhãn hiệu Huyndai, mang biển số 47A–434.88, có số máy: G4LC*LF723982* không thay đổi, số khung: RLUA541BAMN058617 không thay đổi; Xe mô tô mang biển số 47H3–8717, có số máy WYJ150FMG*003030* không thay đổi, số khung VTMPCG001YT003030 không thay đổi. (Bút lục: 22)
Tại phiếu xét nghiệm ngày 24/01/2024 của Bệnh viện Đ đối với ông Nguyễn Văn L1 cho kết quả: Nồng độ cồn là 3.6 mmol/L.
Tại phiếu xét nghiệm ngày 26/01/2024 của Bệnh viện đa khoa thành phố B đối với Nguyễn Văn N cho kết quả: Âm tính với chất ma túy.
Quá trình xác minh tại Sở Giao thông vận tải tỉnh Đ xác định: Sở Giao thông vận tải tỉnh Đ không có cấp và quản lý Giấy phép lái xe nào cho ông Nguyễn Văn L1, sinh ngày: 01/01/1967, trú tại: Thôn A, xã H, thành phố B, số CCCD: [...], số CMND: [...].
Tại bản cáo trạng số: 275/CT-VKS ngày 09/9/2024 Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Buôn Ma Thuột, đã truy tố Nguyễn Văn N về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như bản Cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Buôn Ma Thuột đã phân tích, chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật hình sự; Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 03 năm đến 04 năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; các Điều 584, 585, 586, 591, 593 Bộ luật Dân sự.
- Trả 01 xe ô tô biển số 47A–434.88, nhãn hiệu Huyndai, số loại: Acent 1.4MT, màu đỏ, số máy: G4LC*LF723982*, số khung: RLUA541BAMN058617, đã qua sử dụng; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô biển số 47A–434.88; 01 Giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô biển số 47A–434.88, 01 Bảo hiểm TNDS của xe ô tô biển số 47A–434.88 cho Nguyễn Văn N.
- Trả 01 xe mô tô biển số 47H3–8717, nhãn hiệu Jiulong, số loại C100/00, màu sơn nâu, số máy WYJ150FMG*003030*, số khung VTMPCG001YT0030, đã qua sử dụng cho chị H Huệ Kbuôr là chủ sở hữu hợp pháp.
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi xảy ra sự việc, bị cáo N đã bồi thường cho gia đình bị hại ông L1 số tiền 22.000.000 đồng (Hai mươi hai triệu đồng). Sau khi nhận tiền, bà Hoàng Thị L2, sinh năm: 1973, trú tại: Thôn A, xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (Vợ của ông L1) là người đại diện của ông L1 đã có đơn bãi nại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho N. Đối với xe ô tô biển số 47A-434.88 và xe mô tô biển số 47H3– 8717 bị hư hỏng nhẹ, N và chị H Huệ không yêu cầu bồi thường gì.
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn N không bào chữa tranh luận gì, chỉ đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, của Viện Kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung:
[2.1] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác và các tài liệu chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Hành vi của bị cáo như sau: Khoảng 9 giờ 00 phút ngày 24/01/2024, Bị cáo Nguyễn Văn N (đã có giấy phép lái xe hạng B2 theo quy định, âm tính với chất ma tuý) điều khiển xe ô tô biển số 47A–434.88 tham gia giao thông khi đến nơi đường giao nhau đã thiếu chú ý quan sát, không giảm tốc độ, không nhường đường cho xe đi đến từ bên phải nên để phía trước bên phải đầu xe ô tô va chạm với phần bên trái xe mô tô biển số 47H3–8717 do ông Nguyễn Văn L1 điều khiển lưu thông từ phải sang trái, hậu quả ông Nguyễn Văn L1 tử vong. Hành vi của Nguyễn Văn N đã vi phạm Khoản 23, Điều 8 và Khoản 1, Điều 24 Luật Giao thông đường bộ, gây hậu quả làm chết 01 người.
Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 BLHS. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk truy tố bị cáo Nguyễn Văn N theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015, quy định:
“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Làm chết người.’ ”
Xét tính chất mức độ hành vi của bị cáo Nguyễn Văn N gây ra là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người có đủ khả năng nhận thức được, hành vi của bị cáo là thiếu chú ý quan sát, không giảm tốc độ, không nhường đường cho xe đi đến từ bên phải nên đã để phía trước bên phải đầu xe ô tô va chạm với phần bên trái xe mô tô do ông L1 điều khiển lưu thông từ phải sang trái, hậu quả làm cho bị hại ông Nguyễn Văn L1 tử vong. Hành vi của Nguyễn Văn N đã vi phạm vào Khoản 23 Điều 8 và Khoản 1 Điều 24 Luật Giao thông đường bộ, gây hậu quả nghiêm trọng làm chết một người.
Trong vụ án này có một phần lỗi của bị hại, khi tham gia giao thông trong người có nồng độ cồn trong máu 3.6mmol/L và không có giấy phép lái xe mô tô theo quy định. Tuy nhiên lỗi của bị cáo là chủ yếu, trực tiếp dẫn đến thiệt hại về tính mạng của bị hại nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do lỗi của mình gây ra.
[2.2] Về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Xét bị cáo Nguyễn Văn N trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại. Trong quá trình điều tra đại diện gia đình bị hại đã bãi nại xin giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Mặt khác HĐXX xét thấy trong vụ án này bị hại khi tham gia giao thông có một phần lỗi. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó cần xem xét áp dụng cho bị cáo để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện chính sách nhân đạo khoan hồng của pháp luật nhà nước ta.
Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo Nguyễn Văn N là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, mà cho bị cáo áp dụng biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung trong xã hội.
[2.3] Đối với chị H H2 là chủ sở hữu xe mô tô biển số 47H3– 8717 mà ông L1 điều khiển trong sự việc trên nhưng do chị H H3 không biết việc ông L1 không có giấy phép lái xe theo quy định, đồng thời chị H H3 cũng không biết việc ông L1 tự ý lấy xe mô tô nói trên điều khiển tham gia giao thông để xảy ra tai nạn nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không đề cập xử lý.
Đối với hành vi của chị H H3 về việc không làm thủ tục đăng ký sang tên xe theo quy định khi mua, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B chuyển hồ sơ đến Công an thành phố B đề nghị ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với chị H Huệ K về hành vi “Không làm thủ tục đăng ký sang tên xe theo quy định khi mua” theo quy định tại Điểm a, Khoản 4, Điều 30 Nghị định 100/2019/NĐ-CP, ngày 30/12/2019, của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt.
Đối với ông Nguyễn Văn L1 có hành vi sử dụng rượu, bia và không có giấy phép lái xe mô tô theo quy định, không đội mũ bảo hiểm khi điều khiển phương tiện xe mô tô tham gia giao thông đã vi phạm Luật giao thông đường bộ, tuy nhiên sau tai nạn ông L1 đã tử vong, do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B không đề cập xử lý đối với ông L1.
[2.4] Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ các Điều 584, 585, 586, 591, 593 Bộ luật Dân sự.
Sau khi xảy ra sự việc, bị cáo N đã bồi thường cho gia đình bị hại ông L1 số tiền 22.000.000 đồng (Hai mươi hai triệu đồng). Sau khi nhận tiền, bà Hoàng Thị L2, sinh năm: 1973, trú tại: Thôn A, xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (Vợ của ông L1) là người đại diện của ông L1 đã có nhận đủ và không yêu cầu bồi thường thêm.
Đối với xe ô tô biển số 47A– 434.88 và xe mô tô biển số 47H3–8717 bị hư hỏng nhẹ, bị cáo N và chị H H3 không yêu cầu bồi thường gì.
[2.5] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Chấp nhận cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố B: Trả 01 xe ô tô biển số 47A-434.88, nhãn hiệu Huyndai, số loại: Acent 1.4MT, màu đỏ, số máy: G4LC*LF723982*, số khung: RLUA541BAMN058617, đã qua sử dụng; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô biển số 47A–434.88; 01 Giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô biển số 47A–434.88, 01 Bảo hiểm TNDS của xe ô tô biển số 47A–434.88 cho Nguyễn Văn N.
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 01 năm 06 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk là nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo Nguyễn Văn N thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Nguyễn Văn N cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của BLHS.
* Về trách nhiệm dân sự: Các Điều 584, 585, 586, 591, 593 Bộ luật Dân sự.
Ghi nhận sự tự nguyện bồi thường của bị cáo Nguyễn Văn N đã tự nguyện bồi thường chi phí điều trị, mai táng cho gia đình ông Nguyễn Văn L1 với tổng số tiền 22.000.000 đồng, bà Hoàng Thị L2 là người đại diện theo ủy quyền của những người đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận đủ số tiền trên và không yêu cầu bồi thường gì thêm.
* Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Chấp nhận cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố B: Trả 01 xe ô tô biển số 47A–434.88, nhãn hiệu Huyndai, số loại: Acent 1.4MT, màu đỏ, số máy: G4LC*LF723982*, số khung: RLUA541BAMN058617, đã qua sử dụng; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô biển số 47A–434.88; 01 Giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô biển số 47A–434.88, 01 Bảo hiểm TNDS của xe ô tô biển số 47A–434.88 cho Nguyễn Văn N.
Chấp nhận Cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố B: Trả 01 xe mô tô biển số 47H3–8717, nhãn hiệu Jiulong, số loại C100/00, màu sơn nâu, số máy WYJ150FMG*003030*, số khung VTMPCG001YT0030, đã qua sử dụng cho chị H Huệ Kbuôr là chủ sở hữu hợp pháp.
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn N 01 Giấy phép lái xe hạng B2 số [...] do Sở giao thông vận tải tỉnh Đ cấp ngày 29/7/2020 mang tên Nguyễn Văn N.
* Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Văn N phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm ngày) ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.
* Nơi nhận:
| TM. Hội đồng xét xử sơ thẩm Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Phạm Thị Kim Cúc |
Bản án số 279/2024/HS-ST ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 279/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn N phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
