Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN HOÀNG MAI

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 279 /2024/HSST

Ngày : 20/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy Hà

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Trần Thị Minh

Bà Phạm Thị Trinh

- Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Minh Anh - Thư ký Toà án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Lê Quang Thiện - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 283/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 277/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

-Nguyễn Đình G, sinh năm 1992; Giới tính: Nam; Hộ khẩu thường trú: Thôn C.H, xã T.C, huyện T.C, tỉnh Nghệ An; Nơi ở: Không có nơi ở cố định; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Đình K (đã chết) và bà: Nguyễn T.T (sinh năm 1961); Danh chỉ bản số 389, lập ngày 18/8/2024 tại Công an quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội; Tiền sự: Không; Tiền án: Ngày 20/4/2021, Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng xử phạt 16 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” buộc Nguyễn Đình G phải thi hành khoản án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng và án phí dân sự sơ thẩm là 475.000 đồng, bồi thường cho anh Phạm Đình Phong số tiền 9.500.000 tuy nhiên đến nay vẫn chưa nộp (chưa xoá án tích). Bị cáo đầu thú, tạm giữ, tạm giam: từ ngày 22/08/2024; Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 Công an thành phố Hà Nội ( Có mặt tại phiên tòa )

Bị hại: Anh Đặng T.P, sinh năm 2004; Nơi ở: Số 4D, ngách 6, ngõ 169 đường H.M, phường H.V.T, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội ( Vắng mặt )

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 40 phút ngày 16/8/2024, Nguyễn Đình G đi bộ 1 mình vào khu Park Hill thuộc Khu đô thị T.C, M.Đ, Hoàng Mai, Hà Nội để tìm tài sản không ai trông giữ để trộm cắp lấy tiền tiêu xài cá nhân. Khi đến trước tòa Park 5 T.C, G thấy ở trước sảnh Park 5 có để 01 chiếc xe đạp màu đen nhãn hiệu MUFENG màu đen không có khóa và không có ai trông giữ nên đã tiến lại gần, ngồi lên xe điều khiển chiếc xe đạp đi về phía cổng khu đô thị T.C. Sau đó, G điều khiển chiếc xe đạp đến trước số 43 ngõ C.V, phường P.H, Hai Bà Trưng, Hà Nội bán cho một người phụ nữ không quen biết được số tiền 650.000 đồng G đã chi tiêu cá nhân hết. Hồi 18 giờ 00 phút ngày 21/8/2024, G đến trụ sở công an phường M.Đ đầu thú về hành vi phạm tội của bản thân.

Tại Kết luận định giá tài sản số 215/KL-HĐĐGTS ngày 29/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân quận Hoàng Mai, kết luận: 01 xe đạp màu đen nhãn hiệu MUFENG đã qua sử dụng trị giá: 1.000.000 đồng (Một triệu đồng).

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Đình G khai nhận hành vi phạm tội của mình như trên.

Tại Bản cáo trạng số 284/CT-VKS-HM ngày 30 tháng 10 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai truy tố Nguyễn Đình G về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo Nguyễn Đình G thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản của mình và không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai tham gia phiên tòa sau khi phân tích nội dung vụ án, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo đã giữ nguyên nội dung truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Đình G với mức hình phạt từ 8 đến 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản ”. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo phải bồi thường cho anh Đặng T.P số tiền 1.000.000 đồng là trị giá chiếc xe đạp đã trộm cắp.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an quận Hoàng Mai, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về đánh giá chứng cứ trong vụ án: Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố; phù hợp với lời khai của bị hại; bản kết luận định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:

Khoảng 13 giờ 40 phút ngày 16 tháng 8 năm 2024, tại trước sảnh Park 5 T.C, Nguyễn Đình G đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của anh Đặng T.P 01 chiếc xe đạp MUFENG màu đen đã qua sử dụng trị giá 1.000.000 đồng.

Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo Nguyễn Đình G có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự trị an và an toàn xã hội, gây tâm lý lo lắng, bất bình trong nhân dân. Bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác của chủ sở hữu tài sản để lén lút trộm cắp tài sản. Tài sản bị cáo trộm cắp có giá trị chưa đến 2.000.000 đồng, tuy nhiên bị cáo có một tiền án ngày 20/4/2021 Toà án nhân dân quận Hai Bà Trưng xử 16 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản” chưa được xoá án tích nên hành vi phạm tội của bị cáo lần này đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại điểm b khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai truy tố bị cáo ra trước Tòa án để xét xử theo tội danh và điều luật đã viện dẫn là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:

-Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự : Không

-Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo ra đầu thú tại cơ quan điều tra. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải, nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

[4] Về quyết định hình phạt: Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm mục đích cải tạo, giáo dục riêng đối với bị cáo và đảm bảo công tác đấu tranh phòng ngừa chung.

[5] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo G hiện đang bị tạm giam, không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Đặng T.P số tiền 1.000.000 đồng là giá trị chiếc xe đạp bị cáo đã trộm cắp.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật .

[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình G 10 ( Mười) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/8/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo

*Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Đình G phải bồi thường cho anh Đặng T.P số tiền 1.000.000 đồng

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án thì người phải thi hành án còn phải chịu lãi suất chậm trả theo mức lãi suất cơ bản của ngân hàng nhà nước đối với số tiền còn phải thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả.

* Về án phí:

Căn cứ điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điều 23 nghị quyết 326/2016 /UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội

Buộc bị cáo Nguyễn Đình G phải chịu 200.000 đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm

* Về quyền kháng cáo:

Căn cứ điều 331,333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận :

- Bị cáo, bị hại;

- Tòa án NDTP Hà Nội;

-VKSND TP Hà Nội;

- Viện kiểm sát ND Quận Hoàng Mai;

- Công an Quận Hoàng Mai;

- Cơ quan Thi hành án hình sự;

- Lưu hồ sơ.

TM . HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Thúy Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 279/2024/HSST ngày 20/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 279/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình G 10 ( Mười) tháng tù.Thời hạn tù tính từ ngày 22/8/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo *Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Đình G phải bồi thường cho anh Đặng T.P số tiền 1.000.000 đồng Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án thì người phải thi hành án còn phải chịu lãi suất chậm trả theo mức lãi suất cơ bản của ngân hàng nhà nước đối với số tiền còn phải thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger