Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRẦN VĂN THỜI

TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 279/2024/DS-ST

Ngày: 10-9-2024

V/v tranh chấp hợp đồng cố đất và

hợp đồng vay tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Huệ

Các Hội thẩm nhân dân.

Ông Hồ Quang Minh

Ông Nguyễn Việt Thắng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Trúc Linh. Là thư ký Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau: Bà Trần Hồng Cẩm – Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 518/2024/TLST-DS ngày 06 tháng 6 năm 2024 về tranh chấp hợp đồng cố đất, hợp đồng vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 321/2024/QĐXXST-DS ngày 29 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Cao Hùng V. Sinh năm: 1969.

Địa chỉ: Ấp K, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.

Bà Võ Kim C. Sinh năm: 1973.

Địa chỉ: Ấp K, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.

Bị đơn: Ông Lâm Trung N. Sinh năm: 1986.

Địa chỉ: Ấp K, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.

Bà Trần Ngọc T (Trần Thị T1). Sinh năm: 1990.

Địa chỉ: Ấp K, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Hàng Thị V1.

Địa chỉ: Ấp K, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.

Tất cả có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 08 tháng 5 năm 2024 của nguyên đơn, cũng như trong quá trình giải quyết vụ án thể hiện:

Vào ngày 19/8/2016al, ông Lâm Trung N và bà Trần Ngọc T có cố cho ông Cao Hùng V và bà Võ Kim C phần đất 05 công tầm 03m với giá 46 chỉ vàng 24k, thoả thuận thời hạn cố là 03 năm, việc cố đất có lập thành văn bản. Thoả thuận cho bà T, ông N thuê lại phần đất cố, giá thuê mỗi năm là 7.000.000 đồng.

Đến ngày 15/01/2021al, ông N, bà T vẫn chưa chuộc lại đất. Ông N, bà T cho rằng điều kiện kinh tế khó khăn nên nhận thêm 31 chỉ vàng 24k cho việc cố phần đất trước đó và vay số tiền 10.000.000 đồng. Việc ông N, bà T nhận thêm vàng, tiền có ghi nhận thêm vào văn bản cố đất ngày 19/8/2016. Từ thời điểm nhận thêm vàng cố, phần đất giao lại cho ông V và bà C sử dụng.

Đến khoảng tháng 01/2024, ông V và bà C biết được phần đất đã cố cho người khác. Từ đó phát sinh tranh chấp. Người đứng ra giao dịch là ông N, bà T nhưng đất là của bà Hàn Thị V2 (Mẹ ruột ông N), bà V2 biết việc cố đất, vàng cố đất dùng vào sinh hoạt chung của gia đình (Bà V2 chung sống cùng vợ chông ông N). Do đó, ông V và bà C khởi kiện yêu cầu Tuyên bố hợp đồng cố đất giữa ông V, bà C với ông N, bà T ngày 19/8/2016al vô hiệu, yêu cầu ông N, bà T, bà V2 cùng có trách nhiệm thanh toán cho ông V, bà C 46 chỉ vàng 24k và 10.000.000 đồng.

Tại phiên toà, ông V, bà C thay đổi yêu cầu khởi kiện, chỉ yêu cầu trách nhiệm thanh toán đối với ông N, bà T.

Bị đơn là ông Lâm Trung N trình bày: Ông N và bà T là vợ chồng (Đã ly hôn tháng 5/2024), bà V2 là mẹ ruột ông N. Thời gian trước đây (không nhớ chính xác) vợ chồng có vay của ông V, bà C 02 chỉ vàng 24k, lãi 750.000 đồng/tháng. Sau đó có vay thêm một ít tiền nhưng không nhớ chính xác là bao nhiêu. Đến năm 2016, do không còn khả năng thanh toán nên vợ chồng ông N làm giấy cố đất, chốt lại số vàng, tiền gốc và lãi còn thiếu là 15 chỉ vàng 24k, lập văn bản cố đất ngày 19/6/2016al như trình bày của nguyên đơn, tính vàng nợ thành vàng cố đất. Việc cố đất bà V2 không biết. Sau khi cố vợ chồng ông N thuê lại phần đất sử dụng, giá thuê mỗi năm 7.000.000 đồng. Do canh tác đất thuê không hiệu quả nên không trả đủ tiền thuê, đến ngày 15/01/2021 vợ chồng ông V tính tổng lại gốc lãi thêm 31 chỉ vàng 24k và 10.000.000 đồng. Từ năm 2021, đất do ông V, bà C canh tác. Thực tế ông N không nhận thêm vàng, tiền nhưng có thống nhất chốt lại số nợ nên có ký biên nhận. Do vậy, ông N thống nhất với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đồng ý cùng bà T thanh toán cho ông V, bà C 46 chỉ vàng 24k và 10.000.000 đồng.

Bị đơn là Trần Ngọc T trình bày: Ông N và bà T là vợ chồng (Đã ly hôn tháng 5/2024). Bà T thống nhất với trình bày và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Vàng cố đất, tiền vay là dùng chung cho sinh hoạt trong gia đình nên bà T đồng ý cùng ông N thanh toán cho ông V, bà C 46 chỉ vàng 24k và 10.000.000 đồng.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Hàn Thúy V3 trình bày: Bà V3 là mẹ ruột ông N. Bà V3 sống chung nhà với ông N. Bà vân không biết việc ông N, bà T cố đất cho ông V, bà C. Bà V3 giao phần đất cho vợ chồng ông Nguyên canh T2. Ông N hỏi ý kiến bà V3 để cho ông V thuê đất đó canh tác, bà V3 đồng ý nên khi ông V canh tác đất bà V3 không có ý kiến gì. Đến khi bà V3 không đồng ý cho thuê tiếp, lấy lại đất thì mới biết ông N, bà T cố phần đất này cho ông V. Bà V3 không có cố đất, cũng không nhận vàng. Do vậy, không đồng ý cùng trách nhiệm thanh toán cho ông V, bà C.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời phát biểu quan điểm: Về thủ tục tố tụng, việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán chủ tọa từ khi thụ lý đến khi đưa vụ án ra xét xử và tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với người tham gia tố tụng, đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình đúng quy định của pháp luật. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tuyên bố hợp đồng cố đất giữa ông V, bà C với ông N, bà T vô hiệu. Buộc ông N, bà T trả lại cho ông V, bà C 46 chỉ vàng 24k và 10.000.000 đồng. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông V, bà C đối với và V3. Các đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được xem xét tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Tranh chấp giữa các dương sự là tranh chấp hợp đồng cố đất và hợp đồng vay tài sản. Nơi cư trú của bị đơn và nơi thực hiện hợp đồng đều tại huyện T nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết vụ án tại Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời là đúng theo quy định tại khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; điểm g khoản 1 Điều 40 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung tranh chấp: Nguyên đơn cho rằng, vào ngày 19/8/2016al, ông Lâm Trung N và bà Trần Ngọc T có cố cho ông Cao Hùng V và bà Võ Kim C phần đất 05 công tầm 03m với giá 46 chỉ vàng 24k. Đến ngày 15/01/2021al, nhận thêm 31 chỉ vàng 24k cho việc cố phần đất trước đó và vay số tiền 10.000.000 đồng. Từ năm 2016 đến năm 2021 đất do ông N, bà T thuê canh tác. Từ năm 2021 đến năm 2023 do ông V, bà C canh tác. Do bà V3 lấy lại đất cho người khác canh tác nên phát sinh tranh chấp. Tuyên bố hợp đồng cố đất giữa ông V, bà C với ông N, bà T ngày 19/8/2016al vô hiệu, yêu cầu ông N, bà T có trách nhiệm thanh toán cho ông V, bà C 46 chỉ vàng 24k và 10.000.000 đồng.

[3] Xét yêu cầu của nguyên đơn:

Các đương sự đều thống nhất ngày 19/8/2016al, ông V, bà C có nhận cố của ông N, bà T 01 phần đất, giá cố là 15 chỉ vàng 24k, sau đó đến ngày 15/01/2021al có nhận thêm 31 chỉ vàng 24 cho hợp đồng cố đất trước đó. Mặc dù ông N cho rằng trong số vàng cố đất có cộng dồn tiền thuê đất và tiền lãi nhưng ông N không có tài liệu, chứng cứ gì để chứng minh. Do vậy, ông N cũng thống nhất có trách nhiệm thanh toán 46 chỉ vàng 24k cố đất theo yêu cầu của nguyên đơn.

Giao dịch giữa các bên thực hiện là cố đất. Đất đai không phải là đối tượng của hợp đồng cầm cố, nên việc thỏa thuận cầm cố của đương sự không được pháp luật công nhận. Do đó, giấy cố đất ngày 19/8/2016al giữa ông V, bà C với ông N, bà T vô hiệu.

Về hậu quả của hợp đồng vô hiệu, các bên phải trao trả cho nhau những gì đã nhận. Nguyên đơn xác định, người nhận vàng cố đất là ông N, bà T. Do đó, ông N, bà T phải trả cho ông V, bà C 64 chỉ vàng 24k. Đối với phần đất cố, các bên đều xác định đã giao trả lại phía ông N, bà V3. Như vậy, ông V, bà C đã tự nguyện thực hiện xong trách nhiệm giao trả phần đất cố nên không buộc trách nhiệm đối với ông V, bà C.

Đối với khoản tiền vay, các bên đều thống nhất ông N, bà T có vay và có trách nhiệm thanh toán cho ông V, bà C số tiền 10.000.000 đồng, là phù hợp nên được chấp nhận.

Từ những phân tích trên thấy rằng, đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là có căn cứ, yêu cầu của nguyên đơn đặt ra là phù hợp nên được chấp nhận.

[4] Về án phí: Ông N, bà T có nghĩa vụ thực hiện việc thanh toán cho ông V, bà C nên phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. (Giá vàng được áp dụng để tính án phí là 7.590.000 đồng/chỉ vàng 24kara). Ông V, bà T, bà V3 không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ Điều 117, 122, 131, 463, 466 của Bộ luật Dân sự; Điều 166, 167 Luật Đất đai;
  • - Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
  • - Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  1. Tuyên bố Hợp đồng cố đất ngày 19/8/2016al, giữa ông Cao Hùng V, bà Võ Kim C với ông Lâm Trung N, bà Trần Ngọc T (Trần Thị T1) vô hiệu.
  2. Buộc ông Lâm Trung N, bà Trần Ngọc T (Trần Thị T1) trả cho ông Cao Hùng V, bà Võ Kim C 46 chỉ vàng 24k (Bốn mươi sáu chỉ vàng hai mươi bốn kara)

  3. Buộc ông Lâm Trung N, bà Trần Ngọc T (Trần Thị T1) trả cho ông Cao Hùng V, bà Võ Kim C số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng)
  4. Đối với khoản tiền nêu trên, kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không tự nguyện thi hành xong khoản tiền phải thanh toán thì còn phải chịu thêm khoản lãi phát sinh theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành.

  5. Đình chỉ yêu cầu của ông V, bà C về việc yêu cầu bà Hàn Thị V2 có trách nhiệm liên đới với ông N, bà T1 thanh toán cho ông V, bà C số 46 chỉ vàng 24k và 10.000.000 đồng.
  6. Về án phí: Ngày 31/5/2024, ông Cao Hùng V, bà Võ Kim C có nộp tại ứng án phí số tiền 11.660.000 đồng theo biên lai số 5072 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, được trả lại. Ông Lâm Trung N, bà Trần Ngọc T (Trần Thị T1) phải chịu án phí số tiền 17.957.000 đồng (Mười bảy triệu chín trăm năm mươi bảy ngàn đồng), chưa nộp.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tính kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Cà Mau;
  • - VKSND huyện Trần Văn Thời;
  • - CC.THADS huyện Trần Văn Thời;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ, văn thư.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Bùi Thị Huệ

5

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 279/2024/DS-ST ngày 10/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hợp đồng cố đất và hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 279/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng cố đất và hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hợp đồng cố đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger