Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 279/2024/HNGĐ-ST

Ngày 06 - 8 - 2024

V/v tranh chấp ly hôn

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Anh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phạm Văn Hải.
  2. Bà Trần Thị Như Phương

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thư Thái Bình – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy Ái – Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 199/2023/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 6 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 3398/2024/QĐXXST–HNGĐ ngày 25 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 10144/2024/QÐST-HNGĐ ngày 15/7/2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà T, T (Trần Trân C), sinh năm 1984

Hộ chiếu số PB 1354589 do Australia cấp ngày 14/7/2021

Địa chỉ: B Eaglecrest Avenue Fraser Rise V, Australia.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Trần Thị N, sinh năm 1966

Địa chỉ: 26 khu nhà ở Đ P, khu phố F, phường P, thành phố T, Tp .. (Giấy ủy quyền ngày 17/3/2023)

Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh T1, sinh năm 1989

Địa chỉ: 1 N, Phường A, quận B, Tp ..

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Châu Ngọc Ẩ, sinh năm 1954

Địa chỉ: D L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện ngày 17 tháng 3 năm 2023 và lời khai của nguyên

đơn – bà Trần Trân C (T, Tran C1) thì: Bà và bị đơn kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 107 do Ủy ban nhân dân quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 30/3/2017. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc. Sau khi bà sinh con thì tình cảm vợ chồng lạnh nhạt và phát sinh mâu thuẫn do không tin tưởng và tôn trọng lẫn nhau. Năm 2020, bà C quay về Úc. Nhận thấy thời gian xa cách đã lâu, tình cảm không còn, không thể kéo dài cuộc hôn nhân này nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với bị đơn.

Về con chung: Có 01 con chung là trẻ Nguyễn Anthony Mạnh H, sinh ngày 17/7/2017. Bà yêu cầu được nuôi con chung và không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng.

Về tài sản chung:

- Thửa đất số 1182, tờ bản đồ số 22 xã L, huyện C, tỉnh Long An, diện tích 138 m² nhận chuyển nhượng của Công ty cổ phần Đ, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CK 457755 của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 02/8/2017 đứng tên Trần Trân C và Nguyễn Thanh T1.

- 01 xe ô tô hiệu Huyndai Elantra biển số 51G – 420.72 đứng tên đăng ký sở hữu Trần Trân C.

Về nợ chung: Nợ bà Châu Ngọc Ẩn s tiền 1.363.400.000 đồng theo Giấy nhận tiền lập ngày 24/8/2017, trong đó: nợ tiền mua đất ở C, Long An là 813.400.000 đồng và nợ tiền mua xe ô tô là 550.000.000 đồng.

Bà và ông T1 đã trả được 150.000.000 đồng. Số tiền còn nợ lại là 1.213.400.000 đồng.

Nay bà yêu cầu được nhận quyền sử dụng thửa đất số 1182, tờ bản đồ số 22 xã L, huyện C, tỉnh Long An, diện tích 138 m², trị giá khoảng 1.000.000.000 đồng và chịu trách nhiệm trả cho bà Châu Ngọc Ấn s tiền nợ là 713.400.000 đồng. Phần ông T1 nhận quyền sở hữu xe ô tô hiệu Huyndai Elantra biển số 51G – 420.72 (ông T1 đang quản lý và sử dụng xe này) và chịu trách nhiệm trả cho bà Châu Ngọc Ấn s tiền nợ 500.000.000 đồng.

Bà Trần Trân C đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt Bà.

* Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Thống nhất với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về phần tài sản chung và nợ chung.

* Tại bản tự khai ngày 10/8/2023, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – Bà Châu Ngọc  trình bày:

Bà là mẹ của bà C. Năm 2017, con gái bà kết hôn với ông Nguyễn Thanh T1. Vì muốn tạo điều kiện cho các con phát triển kinh tế nên bà có cho vợ chồng mượn tiền mua đất, mua xe ô tô. Ngày 24/8/2017, vợ chồng C – T1 có viết Giấy nhận tiền mượn bà 02 khoản nợ; cụ thể: mượn mua đất ở C, Long An, số tiền 813.400.000đồng; mượn mua xe ô tô biển số 51G- 42072 số tiền 550.000.000đồng. Sau đó, vợ chồng có trả bà 02 lần được 150.000.000đồng (lần 1: 50.000.000₫ và lần 2: 100.000.000₫). Tổng cộng số nợ còn lại là

1.213.400.000đồng.

Nay vợ chồng C – T1 có yêu cầu ly hôn, phân chia tài sản và nghĩa vụ trả nợ chung trong thời kỳ hôn nhân, ý kiến của bà là:

Nếu vợ chồng thỏa thuận phân chia tài sản chung: giao cho bà C được quyền sử dụng thửa đất số 1182 tờ bản đồ số 22 xã L, huyện C, tỉnh Long An theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào sổ số CS 08050 của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 02/8/2017 đứng tên bà Trần Trân C, ông Nguyễn Thanh T1. Phần Nguyễn Thanh T1 nhận tài sản là chiếc xe ô tô hiệu HYUNDAI ELANTRA màu đen, biển số 51G-420.72 đứng tên Trần Trân C (T1 đang sử dụng) thì bà không yêu cầu vợ chồng C – T1 thực hiện nghĩa vụ trả lại bà toàn bộ số nợ nêu trên.

Trường hợp một trong hai vợ chồng C – T1 không đồng ý với việc phân chia tài sản chung như ý kiến của bà thì bà sẽ đòi lại số nợ còn lại là 1.213.400.000đồng.

Bà Châu Ngọc Ẩ đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt Bà.

Tòa án đã thực hiện thủ tục tống đạt Thông báo về việc thụ lý, ngày mở phiên họp, phiên tòa cho bị đơn – ông Nguyễn Thanh T1 và yêu cầu ông Nguyễn Thanh T1 trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà Trần Trân C nhưng ông Nguyễn Thanh T1 không có văn bản trả lời và vắng mặt không có lý do.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Trần Thị N là đại diện ủy quyền của nguyên đơn Trần Trân C giữ nguyên ý kiến về phần tài sản chung và nợ chung như đơn khởi kiện của nguyên đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Nguyên đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt và bị đơn vắng mặt không lý do nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là đúng theo quy định của pháp luật.

- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần đơn khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về áp dụng pháp luật tố tụng: Bà Trần Trân C khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Thanh T1, bà Trần Trân C đang cư trú tại Úc, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, theo quy định tại Khoản 1 Điều 28; Điều 35; Khoản 1 Điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn – bà Trần Trân C và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Châu Ngọc Ả có đơn đề nghị Tòa án không hòa giải và xét xử vắng mặt, ông Nguyễn Thanh T1 đã được tống đạt các văn bản tố tụng, yêu cầu cung cấp bản khai và thông báo ngày, giờ, địa điểm xét xử nhưng đến thời điểm xét xử Tòa án vẫn không nhận được phản hồi của bị đơn nên căn cứ Điều 227 và Khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà Trần Trân C, ông Nguyễn Thanh T1 và bà Châu Ngọc Ẩ.

[2] Về áp dụng pháp luật nội dung:

Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Trần Trân C đã cung cấp tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình; đối với ông Nguyễn Thanh T1 vắng mặt không lý do nên được xem như bị đơn ông Nguyễn Thanh T1 từ bỏ nghĩa vụ chứng minh theo quy định tại Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn bà Trần Trân C cung cấp và Toà án thu thập để xét xử vụ án.

[2.1] Về hôn nhân: Căn cứ theo Giấy chứng nhận kết hôn số 107 do Ủy ban nhân dân quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 30/3/2017 thì giữa bà Trần Trân C và ông Nguyễn Thanh T1 là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Theo trình bày của bà Trần Trân C sau khi kết hôn thì hai bên phát sinh nhiều mâu thuẫn. Do tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà Trần Trân C yêu cầu ly hôn ông Nguyễn Thanh T1. Xét trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn đã không có văn bản nêu ý kiến và cũng không đến Tòa án để đưa ra giải pháp để vợ chồng đoàn tụ, cả hai hiện có khoảng cách địa lý nên tình cảm vợ chồng không tồn tại, đây là căn cứ xác định quan hệ hôn nhân giữa hai người không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn như quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên tòa.

[2.2] Về con chung: Căn cứ Giấy khai sinh số 70 do Ủy ban nhân dân quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 30/8/2017 thì có đủ cơ sở xác định trẻ Nguyễn Anthony Mạnh H, sinh ngày 17/7/2017 là con chung của bà Trần Trân C và ông Nguyễn Thanh T1. Hiện nay trẻ đang ở cùng bà C tại Úc. Xét Báo cáo đánh giá ngày 18/3/2022 đối với trẻ Nguyễn Anthony Mạnh H, sinh ngày 17/7/2017 thì trẻ được chẩn đoán bị rối loạn phổ tự kỷ. Trẻ vẫn đi học bình thường tuy nhiên trẻ phải có chuyên gia trợ giúp về giao tiếp và việc học. Xét thấy trẻ đang sinh sống ổn định với nguyên đơn từ nhỏ tại Úc, đồng thời để đảm bảo cho việc phát triển toàn diện về tâm, sinh lý và thể chất của trẻ. Do đó, chấp nhận yêu cầu của bà C, giao con chung Nguyễn Anthony Mạnh H, sinh ngày

17/7/2017 cho bà C trực tiếp nuôi dưỡng và tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng cho bị đơn do nguyên đơn không yêu cầu.

[2.3] Về nợ chung:

Căn cứ Giấy nhận tiền ngày 24/8/2017 là thời gian diễn ra trong thời kỳ hôn nhân của bà C và ông T1. Đây là khoản nợ chung của bà C và ông T1, bà C và ông T1 đã trả được 150.000.000 đồng và số tiền còn nợ lại là 1.213.400.000 đồng.

C thừa nhận bà và ông T1 đã vay của bà để mua đất, mua xe và đã trả được 150.000.000 đồng cho bà . Ông T1 không có văn bản trình bày cũng như không chứng minh được nghĩa vụ trả nợ là bao nhiêu. Vì vậy về trách nhiệm trả nợ cả bà C và ông T1 đều cùng có nghĩa vụ và mỗi người phải chịu trách nhiệm trả nợ 50% trong tổng số nợ nói trên. Đối chiếu quy định tại Điều 37 Luật Hôn nhân gia đình 2014, Hội đồng xét xử có căn cứ buộc bà C và ông T1 phải có trách nhiệm trả lại cho bà Ẩn số tiền 1.213.400.000 đồng; cụ thể, bà C và ông T1 mỗi người phải trả cho bà Ẩn số tiền 606.700.000 đồng.

[2.4] Về tài sản chung:

[2.4.1] Đối với quyền sử dụng đất có diện tích 138 m², thuộc thửa đất số 1182, tờ bản đồ số 22 xã L, huyện C, tỉnh Long An, thửa đất đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS 08050 cấp ngày 02/8/2017 cho bà Trần Trân C và ông Nguyễn Thanh T1.

Căn cứ công văn số 6525/CN.VPĐKĐĐ-KTLT ngày 21/8/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C, tỉnh Long An thì diện tích đất nêu trên do bà Trần Trân C và ông Nguyễn Thanh T1 nhận chuyển nhượng của bà Phan Thị Bạch M và ông Nguyễn Thanh T2 ngày 07/7/2017 và được cấp giấy chứng nhận đúng quy định, việc chuyển nhượng được hình thành trong thời kỳ hôn nhân của bà C và ông T1, nên căn cứ theo quy định tại Điều 33, Điều 59 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 thì đây là tài sản chung của bà C và ông T1.

Căn cứ Chứng thư thẩm định giá số 002/24/BĐS/BAVC ngày 03/01/2024 do Công ty TNHH MTV Đ1 và thẩm định giá Bảo T3, thì giá trị quyền sử dụng đất tại xã L, huyện C, tỉnh Long An là (9.820.000 đồng x 138 m² ) = 1.355.160.000 đồng.

Căn cứ Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ngày 28/12/2023, thửa đất số 1182 có hiện trạng là đất trống.

[2.4.2] Đối với 01 xe ôtô hiệu Huyndai Elantra biển số 51G – 420.72 đứng tên đăng ký sở hữu Trần Trân C

Căn cứ Phiếu trả lời xác minh xe của Phòng Cảnh sát giao thông - đường bộ đường sắt ngày 18/01/2024 thì xe ôtô con màu đen, nhãn hiệu Huyndai Elantra biển số 51G – 420.72, số máy: G4FGHU094588, Số khung: RLUDC41CBHN005999, chủ xe là Trần Trân C.

Căn cứ Hợp đồng mua bán xe ôtô số 33-06/HĐMB-HKDV/2017 giữa Công ty TNHH Đ ôtô và bà Trần Trân C đối với chiếc xe trên với giá là 639.000.000 đồng. Việc mua bán được hình thành trong thời kỳ hôn nhân của bà C và ông T1, nên đây là tài sản chung của bà C và ông T1.

Căn cứ Chứng thư thẩm định giá số 005/24/BAVC ngày 24/01/2024 do Công ty TNHH MTV Đ1 và thẩm định giá Bảo T3, thì giá trị xe ôtô hiệu Huyndai Elantra biển số 51G – 420.72 là 390.000.000 đồng. Hiện nay chiếc xe trên đang do ông T1 quản lý, sử dụng.

Xét thấy đây là hai tài sản chung của vợ chồng được hình thành trong thời kỳ hôn nhân. Các bên cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh cho công sức đóng góp của mình và cũng không có thỏa thuận được. Do đó, mỗi người được hưởng 50% giá trị của tài sản tại thời điểm thi hành án.

[3] Từ những nhận định trên, chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Trân C.

[4] Về chi phí tố tụng:

Chi phí tố tụng gồm chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, thẩm định giá, bà C tự nguyện chịu, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm:

  • Án phí hôn nhân: Do bà Trần Trân C khởi kiện yêu cầu ly hôn nên bà Trần Trân C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.
  • Án phí nợ chung: Bà C và ông T1 mỗi người phải chịu là 28.268.000 (hai mươi tám triệu hai trăm sáu mươi tám nghìn) đồng.
  • Án phí về chia tài sản chung: Bà C và ông T1 mỗi người phải chịu án phí đối với phần tài sản chung được chia là 38.177.400 (ba mươi tám triệu một trăm bảy mươi bảy nghìn bốn trăm) đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điều 37; Điều 38; Khoản 4 Điều 147; Khoản 4 Điều 207; Điều 227, Điều 264; Khoản 1 Điều 273 và Khoản 1, Khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ vào Điều 19, Điều 33, Điều 37, Điều 59 và Khoản 1 Điều 56, Điều 68, Điều 69, Điều 70, Điều 71, Điều 72, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

- Căn cứ vào Khoản 5, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trần Trân C.

1.1. Về hôn nhân: Bà Trần Trân C được ly hôn ông Nguyễn Thanh T1.

1.2. Về con chung: giao con chung Nguyễn Anthony Mạnh H, sinh ngày 17/7/2017 cho bà C trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng cho ông Nguyễn Thanh T1 do bà Trần Trân C không yêu cầu.

Ông Nguyễn Thanh T1 có quyền và nghĩa vụ đi lại thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được cản trở. Vì lợi ích của con theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Cha mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích của con chung, sau này bà C và ông T1 đều có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con.

1.3. Về nợ chung:

-Buộc bà Trần Trân C phải trả cho bà Châu Ngọc Ẩn s tiền nợ là 606.700.000 đồng (sáu trăm lẻ sáu triệu bảy trăm đồng).

-Buộc ông Nguyễn Thanh T1 phải trả cho bà Châu Ngọc Ẩn s tiền nợ là 606.700.000 đồng (sáu trăm lẻ sáu triệu bảy trăm đồng).

1.4. Về tài sản chung:

Xác định quyền sử dụng đất có diện tích 138 m², thuộc thửa đất số 1182, tờ bản đồ số 22 xã L, huyện C, tỉnh Long An, thửa đất đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS 08050 cấp ngày 02/8/2017 là tài sản chung của bà Trần Trân C và ông Nguyễn Thanh T1. Bà Trần Trân C và ông Nguyễn Thanh T1 mỗi người được chia 50% giá trị thửa đất trên tại thời điểm thi hành án, sau khi trừ đi chi phí, lệ phí.

Xác định xe ôtô con màu đen, nhãn hiệu Huyndai Elantra biển số 51G – 420.72, số máy: G4FGHU094588, Số khung: RLUDC41CBHN005999, là tài sản chung của bà Trần Trân C và ông Nguyễn Thanh T1. Bà Trần Trân C và ông Nguyễn Thanh T1 mỗi người được chia 50% giá trị chiếc xe trên tại thời điểm thi hành án, sau khi trừ đi chi phí, lệ phí.

2. Chi phí tố tụng khác: Bà Trần Trân C đã tự nguyện chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và thẩm định giá. Bà C đã nộp đủ.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

3.1. Bà Trần Trân C phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng và án phí đối với phần tài sản chung được chia là 38.177.400 (ba mươi tám triệu một trăm bảy mươi bảy nghìn bốn trăm) đồng; án phí về nợ chung là 28.268.000 (hai mươi tám triệu hai trăm sáu mươi tám nghìn) đồng; được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà C đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2022/0001616 và AA/2022/0001617 ngày 19 tháng 6 năm 2023 của Cục Thi hành án Dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Bà C còn phải nộp 34.744.000 (ba mươi bốn triệu bảy trăm bốn mươi bốn ngàn) đồng.

3.2. Ông Nguyễn Thanh T1 phải chịu án phí đối với phần tài sản chung được chia là 38.177.400 (ba mươi tám triệu một trăm bảy mươi bảy nghìn bốn trăm) đồng và án phí về nợ chung là 28.268.000 (hai mươi tám triệu hai trăm sáu mươi tám nghìn) đồng. Tổng cộng là 66.445.400 (sáu mươi sáu triệu bốn trăm bốn mươi lăm nghìn bốn trăm) đồng.

4. Thi hành án tại Cơ quan thi hành án có thẩm quyền.

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn – Bà Trần Trân C được quyền kháng cáo trong thời hạn 01 (một) tháng kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án; bị đơn – ông Nguyễn Thanh T1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – bà Châu Ngọc Ẩ được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện yêu cầu thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành
  • phố Hồ Chí Minh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
  • - Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại
  • thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân thành phố
  • Hồ Chí Minh;
  • - Cục Thi hành án dân sự thành phố
  • Hồ Chí Minh;
  • - Các đương sự (03);
  • - Ủy ban nhân dân Q. Bình Thạnh,
  • Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Lưu: HSVA, VT (HA).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hoàng Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 279/2024/HNGĐ-ST ngày 06/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 279/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cho ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger