Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN A

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án: 279/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 18 - 7 - 2024

V/v: “Tranh chấp hôn nhân và

gia đình, ly hôn, nuôi con chung"

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Sang.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Phước Tân và ông Ngô Văn Thi.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Thanh Trúc Phương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Trà Mi - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 148/2024/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 349/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 372/2024/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Trương Thị Phượng H, sinh năm 2000; cư trú: Tổ A, ấp V, xã V, huyện A, tỉnh An Giang;
  • - Bị đơn: Ông Trần Phi H1, sinh năm 1994; cư trú: Số nhà A, tổ A, ấp V, xã V, huyện A, tỉnh An Giang;

(Bà H có đơn xin xử vắng mặt, ông H1 vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện cùng với các tài liệu, chứng cứ kèm theo và quá trình tố tụng tại Tòa án, bà Trương Thị Phượng H trình bày: Hôn nhân giữa bà và ông Trần Phi H1 do mai mối tiến đến hôn nhân vào năm 2019 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện A, tỉnh An Giang. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng đến năm 2023 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do ông H1 không chăm lo cho cuộc sống gia đình, thường xuyên ăn nhậu về có hành vi bạo lực đối với bà, dẫn đến vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung. Đến khoảng tháng 8/2023, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng không thể hàn gắn nên vợ chồng bà không còn chung sống từ đó cho đến nay. Hiện bà không còn tình cảm với ông H1 nên được ly hôn được với ông H1.

Về con chung: Có 02 (hai) con chung: 1/ Trần Văn H2, sinh ngày 12/6/2019; 2/ Trần Kim T, sinh ngày 24/4/2022. Cháu H2 và cháu T đang sống cùng bà H. Sau khi ly hôn, bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông H1 cấp dưỡng.

Về tài sản chung, nợ chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho ông H1 nhưng ông H1 vẫn vắng mặt không lý do, bà H yêu cầu không tiến hành hòa giải. Do đó, Hội đồng xét xử nghĩ nên cần tiến hành việc xét xử mà không qua thủ tục hòa giải.

Tòa án tiến hành kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ để các bên tiếp cận, đương sự thống nhất với những tài liệu, chứng cứ mà mình cung cấp, không bổ sung thêm.

Biên bản xác minh ngày 31/5/2024, người thân bà H cung cấp: Hôn nhân của bà Trương Thị Phượng H và ông Trần Phi H1 do mai mối tiến tới hôn nhân vào năm 2019. Cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, nguyên nhân ông H1 không chịu làm ăn nuôi vợ con, suốt ngày ăn chơi nhậu nhẹt, kiếm chuyện chửi mắng còn vô cớ đánh bà H. Sau khi bà H chuyển về nhà mẹ ruột sinh sống thì ông H1 không một lần tới lui thăm con, không hỏi han hay quan tâm. Theo bà thì khả năng hàn gắn của hai người là không thể do bà H, ông H1 đã ly thân từ tháng 08/2023 cho đến nay, ông H1 cũng không thay đổi tính tình, không năn nỉ cũng như hàn gắn tình cảm với bà H, biết bà H nộp đơn ly hôn mà cũng không có ý kiến gì; về con chung thì có 02 con chung, đang sống cùng bà H; tài sản chung, nợ chung thì bà không biết.

Tại phiên toà: Bà H có đơn xin xét xử vắng mặt, ông H1 vắng mặt lần thứ hai không có lý do nên Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt bà H, ông H1 theo thủ tục chung.

Quan điểm đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú:

Về thủ tục tố tụng:

Tòa án thụ lý, xác định quan hệ tranh chấp, xác định tư cách đương sự, thu thập chứng cứ đảm bảo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; thành phần Hội đồng xét xử không thuộc trường hợp phải thay đổi; thủ tục xét xử vắng mặt được đảm bảo.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào các chứng cứ trong hồ sợ vụ án cho thấy hôn nhân của bà H, ông H1 có mâu thuẫn trầm trọng, thời gian ly thân đã lâu nhưng hai bên không có thiện chí hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Để đảm bảo điều kiện cho con chung phát triển và ổn định về tâm sinh lý của các cháu sau này được tốt đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà H, giao cháu con chung cho bà H được trực tiếp nuôi dạy. Công nhận sự tự nguyện của bà H về việc không yêu cầu ông H1 cấp dưỡng nuôi con chung.

Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Do đương sự không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Trương Thị Phượng H yêu cầu được ly hôn với ông Trần Phi H1. Ông H1 cư trú tại huyện A, tỉnh An Giang nên được Tòa án thụ lý giải quyết theo Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình.

Về sự vắng mặt của đương sự: Bà H có đơn xin xét xử vắng mặt, ông H1 được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà H, ông H1 theo Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của đương sự trong quá trình tố tụng thể hiện: Quan hệ hôn nhân giữa bà H, ông H1 do mai mối tiến tới hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện A, tỉnh An Giang vào ngày 27/6/2019 nên làm phát sinh giá trị pháp lý theo Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình.

Xét yêu cầu của bà H xin ly hôn với ông H1, Hội đồng xét xử xét thấy: Mâu thuẫn vợ chồng giữa bà H, ông H1 phát sinh từ lâu nhưng cả hai không có giải pháp hàn gắn nên đã sống ly thân từ tháng 8/2023. Trong quá trình giải quyết, Tòa án đã hòa giải đoàn tụ cho cả hai nhưng ông H1 không có mặt để hàn gắn tình cảm, bà H cương quyết ly hôn. Cho thấy, mâu thuẫn tình cảm giữa hai bên đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, điều này là phù hợp với lời trình bày của người thân trong gia đình bà H, ông H1 nên yêu cầu ly hôn của bà H là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung: Có 02 (hai) con chung: 1/ Trần Văn H2, sinh ngày 12/6/2019; 2/ Trần Kim T, sinh ngày 24/4/2022. Cháu H2 và cháu T đang sống cùng bà H. Xét thấy, các cháu H2 và T hiện còn nhỏ và đang sống cùng bà H nên để đảm bảo điều kiện cho con chung phát triển và ổn định về tâm sinh lý của cháu sau này được tốt nên Hội đồng xét xử giao cháu H2 và cháu T cho bà H được tiếp tục nuôi dạy.

Về cấp dưỡng: Theo quy định của pháp luật, bên không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Tuy nhiên, bà H không yêu cầu ông H1 cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử công nhận sự tự nguyện của đương sự.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: Bà H xác định tự thỏa thuận, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí: Bà H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Các Điều 9, Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Các Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 hướng dẫn về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị Phượng H.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Trương Thị Phượng H được ly hôn với ông Trần Phi H1.

Về con chung: Bà Trương Thị Phượng H được tiếp tục nuôi dạy 02 (hai) con chung tên Trần Văn H2, sinh ngày 12/6/2019 và Trần Kim T, sinh ngày 24/4/2022.

Công nhận sự tự nguyện của bà H về việc không yêu cầu ông H1 cấp dưỡng nuôi con chung.

Ông H1 cùng các thành viên trong gia đình phải tôn trọng quyền trực tiếp nuôi con chung của bà H. Ngược lại, bà H và các thành viên trong gia đình không được cản trở ông H1 trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích, cơ quan có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, việc cấp dưỡng nuôi con dựa trên các căn cứ theo quy định của pháp luật hoặc hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên.

Về án phí: Bà Trương Thị Phượng H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Số tiền này được chuyển từ tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn) đồng mà bà H đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Phú theo biên lai thu số: 0009439 ngày 14/5/2024.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.

(Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự).

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện (2);
  • - TAND tỉnh An Giang (1);
  • - Chi cục THADS huyện (1);
  • - Các đương sự;
  • - UBND nơi đăng ký kết hôn (1);
  • - Lưu hồ sơ (1),
  • - Lưu văn phòng (1).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Sang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 279/2024/HNGĐ-ST ngày 18/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 279/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bà H - ông H1
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger