|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 279/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 10 - 6 - 2025
“V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thái Thị Hồng Vân
Các Hội thẩm nhân dân:
Hồ Bá Võ
Mai Xuân Thường
- Thư ký phiên tòa: Bà Lý Thanh Tâm, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Bằng Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An mở phiên tòa để xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 146/2025/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 3 năm 2025, về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử 261/2025/QĐST-HNGĐ ngày 09 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Chị Võ Thị L, sinh năm 1991.
Địa chỉ: Xóm E, xã Q (N là xã B), huyện Q, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
-
Bị đơn: Anh Nguyễn Xuân V, sinh năm 1991.
Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Xóm E, xã Q (N là xã B), huyện Q, tỉnh Nghệ An; chỗ ở hiện nay: Canada. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn chị Võ Thị L trình bày:
Chị và anh Nguyễn Xuân V kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 05 tháng 7 năm 2013, tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn do tính tình và quan điểm sống không phù hợp dẫn đến tình cảm vợ chồng rạn nứt, không thể hòa hợp. Năm 2022, anh V đi xuất khẩu lao động tại Canada. Từ khi đi nước ngoài anh V không còn liên lạc về cho chị L. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị L làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Xuân V.
Về con chung: Chị L và anh V có cháu Nguyễn Tiến P, sinh ngày 21/01/2014; cháu Nguyễn Hà G, sinh ngày 06/6/2018 và cháu Nguyễn Tiến K, sinh ngày 10/12/2020. Hiện nay các cháu đang ở cùng chị L. Ly hôn chị L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc 03 con chung và không yêu cầu anh V cấp dưỡng.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị L chưa yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn là anh Nguyễn Xuân V: Quá trình từ khi thụ lý vụ án cho đến nay, bị đơn là anh Nguyễn Xuân V vắng mặt. Chị Võ Thị L không cung cấp được địa chỉ cụ thể hiện nay anh Văn cư T, chị chỉ biết hiện nay anh V đang sinh sống tại nước Canada. Tòa án đã hai lần gửi văn bản yêu cầu bà Hồ Thị D (Là mẹ đẻ của anh V), trú tại: Xóm E, xã B, huyện Q, tỉnh Nghệ An cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn cũng như yêu cầu bà D thông báo với anh V để gửi lời khai về cho Tòa án. Tuy nhiên, tại biên bản xác minh của bà Hồ Thị D cho biết thời gian ở nước ngoài, anh V liên lạc về với bà D bằng điện thoại, còn địa chỉ cụ thể của anh V thì anh V không cung cấp nên bà D không biết. Bà D đã thông báo cho anh V biết về việc Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đang thụ lý, giải quyết vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm giữa chị L và anh V. Thông qua bà D anh V đề nghị Tòa án giải quyết việc ly hôn và nội dung liên quan theo quy định pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56, 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Võ Thị L ly hôn với anh Nguyễn Xuân V. Về con chung: Đề nghị giao 03 con chung là cháu Nguyễn Tiến P, sinh ngày 21/01/2014; cháu Nguyễn Hà G, sinh ngày 06/6/2018 và cháu Nguyễn Tiến K, sinh ngày 10/12/2020 cho chị Võ Thị L chăm sóc, nuôi dưỡng; Về cấp dưỡng nuôi con: Chị L không yêu cầu nên không xem xét. Về tài sản chung, nợ chung: Chị L không yêu cầu nên không xem xét; dành quyền khởi kiện về chia tài sản chung, nợ chung cho các đương sự trong vụ án dân sự khác khi có yêu cầu.
Về án phí: Chị Võ Thị L phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Võ Thị L hiện cư trú tại Việt Nam làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Xuân V hiện cư trú ở nước ngoài; trước khi xuất cảnh, anh V có địa chỉ cư trú tại Xóm E, xã Q (N là xã B), huyện Q, tỉnh Nghệ An nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại Điều 37, Điều 40, Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 122, Điều 123, Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình.
[1.2] Về sự vắng mặt của đương sự: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn là anh Nguyễn Xuân V vắng mặt, Tòa án đã gửi công văn yêu cầu bà Hồ Thị D (Là mẹ đẻ của anh V) cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn và thông báo cho anh V biết để gửi lời khai về cho Tòa án. Tuy nhiên, bà D không cung cấp được địa chỉ hiện nay của anh V. Đến nay, Tòa án vẫn chưa nhận được văn bản trình bày ý kiến của anh V liên quan đến yêu cầu khởi kiện, nên được coi như trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Vì vậy, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung, Tòa án đã tiến hành cấp tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng tại địa chỉ nơi cư trú cuối cùng của anh V trước khi xuất cảnh theo đúng quy định pháp luật. Vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 2 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chị Võ Thị L có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Võ Thị L và anh Nguyễn Xuân V kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 05/7/2013 tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn do tính tình và quan điểm sống không phù hợp dẫn đến tình cảm vợ chồng rạn nứt, không thể hòa hợp. Hiện nay chị L đang ở Việt Nam, còn anh V đang sống và làm việc tại nước Canada. Từ khi đi nước ngoài một thời gian anh V không còn liên lạc về cho chị L. Xét thấy, chị L và anh V không còn tình cảm vợ chồng, mục đích hôn nhân không đạt được, vì vậy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị L, căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cho chị Võ Thị L được ly hôn anh Nguyễn Xuân V.
[2.2] Về con chung: Chị Võ Thị L và anh Nguyễn Xuân V có 03 con chung là cháu Nguyễn Tiến P, sinh ngày 21/01/2014; cháu Nguyễn Hà G, sinh ngày 06/6/2018 và cháu Nguyễn Tiến K, sinh ngày 10/12/2020, hiện nay các cháu đang sống cùng chị L. Ly hôn, chị L có nguyện vọng Tòa án giao con chung cho chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con. Nguyện vọng của chị L là chính đáng, phù hợp với quy định của pháp luật và điều kiện kinh tế, vì hiện nay, anh Nguyễn Xuân V đang ở nước ngoài và cố tình dấu địa chỉ. Do đó, căn cứ vào các Điều 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của chị L, giao cho chị L được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 03 con chung là cháu Nguyễn Tiến P, sinh ngày 21/01/2014; cháu Nguyễn Hà G, sinh ngày 06/6/2018 và cháu Nguyễn Tiến K, sinh ngày 10/12/2020 cho đến lúc đủ 18 tuổi, trưởng thành.
Về cấp dưỡng nuôi con, chị L không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Chị Võ Thị L không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Dành quyền khởi kiện về tài sản chung, nợ chung cho các đương sự trong một vụ án dân sự khác khi có yêu cầu.
[3] Về án phí: Chị Võ Thị L phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ vào Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 122, Điều 123, Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 37, Điều 40, khoản 4 Điều 147, khoản 1, khoản 4 Điều 207, Điều 228, khoản 1 Điều 273, Điều 469, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Võ Thị L.
- - Về quan hệ hôn nhân: Chị Võ Thị L được ly hôn anh Nguyễn Xuân V.
- - Về con chung: Giao 03 con chung là cháu Nguyễn Tiến P, sinh ngày 21/01/2014; cháu Nguyễn Hà G, sinh ngày 06/6/2018 và cháu Nguyễn Tiến K, sinh ngày 10/12/2020 cho chị Võ Thị L được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến lúc đủ 18 tuổi, trưởng thành.
- Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Không xem xét.
- Sau khi ly hôn, anh Nguyễn Xuân V có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
- - Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.
- Dành quyền khởi kiện liên quan đến chia tài sản chung, nợ chung cho các đương sự trong một vụ án dân sự khác khi các đương sự có yêu cầu.
- Về án phí: Chị Võ Thị L phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0013937 ngày 04 tháng 3 năm 2025, tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An.
- Chị Võ Thị L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. Anh Nguyễn Xuân V có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Thái Thị Hồng Vân |
Bản án số 279/2025/HNGĐ-ST ngày 10/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 279/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Võ Thị L được ly hôn anh Nguyễn Xuân V.
