|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 279/2024/DS-ST Ngày 04 – 9 – 2024 “V/v tranh chấp QSD đất, tranh chấp HĐCNQSD đất” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Việt Trung.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Huỳnh Hoàng Khởi.
- Ông Nguyễn Hoàng Kha.
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Cúc – Là Thư ký Toà án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Đoàn Đắc Bắc - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 30 tháng 8 và 04 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Cà Mau, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ L số: 567/2022/TLST-DS ngày 01/11/2022 về việc tranh chấp “Quyền sử dụng đất và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 247/2024/QĐXXST-DS ngày 01 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Huỳnh Công D, sinh năm 1951; Địa chỉ: Số 03B, đường 1/5, khóm B, phường N, thành phố C, tỉnh Cà Mau (có mặt).
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Lê Anh T – Là Luật sư Văn phòng luật sư Lê Anh Tuân, thuộc Đoàn luật sư tỉnh Cà Mau (có mặt)
- Bị đơn: Anh Châu Quốc H, sinh năm 1977; Địa chỉ: Số 53, đường CVĐ, khóm B, phường N, thành phố C, tỉnh Cà Mau (có mặt).
Người đại diện hợp pháp: Ông Đặng Minh Q, sinh năm 1957; Địa chỉ: Số 24, đường T, khóm N, phường S, thành phố C, tỉnh Cà Mau (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Nguyễn Minh L, sinh năm 1990 (có mặt).
- Bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1959; Địa chỉ: Số 92/108, đường H, khóm B, phường T, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
- Công ty cổ phần dịch vụ thương mại HT.
- Chị Nguyễn Thị Hoàn H1, sinh năm 1983.
- Bà Lê Thúy H2 (vắng mặt)
- Bà Nguyễn Hồng N, sinh năm 1962 (vắng mặt).
- Ông Trần Văn Đ, sinh năm 1957 (vắng mặt).
- Ngân hàng N.
Địa chỉ: Ấp B, xã H, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của anh L: Chị Du Thị B – Là Luật sư Văn phòng Luật sư Mũi Cà Mau, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
Người đại diện hợp pháp: Anh Nguyễn Văn K, sinh năm 1979; Địa chỉ: Số 140, đường Đ, khóm S, thành phố C, tỉnh Cà Mau (có mặt).
Người đại diện hợp pháp: Ông Phạm Quốc H; Địa chỉ: Số 471, đường L, khóm H, phường B, thành phố C, tỉnh Cà Mau (có mặt).
Địa chỉ: Số 53, đường C, khóm B, phường N, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
Người đại diện hợp pháp: Ông Đặng Minh Q, sinh năm 1957; Địa chỉ: Địa chỉ: Số 24, đường T, khóm N, phường S, thành phố C, tỉnh Cà Mau (có mặt).
Địa chỉ: Đường S, khóm D, phường B, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
Cùng địa chỉ: Số 119, đường Em khóm Q, phường B, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Văn C – Giám đốc Ngân N (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Huỳnh Công D trình bày:
Năm 1996, bà D có nhận chuyển nhượng của Công ty dịch vụ thương mại HT phần đất thửa số 890, tờ bản đồ số 01, tọa lạc tại đường Ôtô số 1, khóm 1, phường 7, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau, vị trí mặt bằng 3E (nay là đường Hồ Trung Thành, khóm 2, phường 7, thành phố Cà Mau), phần đất kích thước ngang 4m x dài 16m, diện tích 64m² có tứ cận: Phía Đông giáp đường Hồ Trung Thành, Phía Tây giáp Công ty cổ phần TMDV HT; Phía Nam giáp mặt bằng phần đất số 2E; Phía Bắc giáp mặt bằng phần đất số 4E. Ngày 17/10/1996 bà đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với phần đất trên. Hiện nay anh Châu Quốc H (mặt bằng số 2E) xây dựng nhà lấn chiếm qua phần đất của bà cụ thể cạnh giáp với anh H dài 16m đến hết hậu, ngang phía sau 4m và một cạnh nối dài thành hình tam giác, diện tích lấn chiếm khoảng 31,9m². Nay bà yêu cầu anh H trả lại cho bà phần đất đã lấn chiếm, ngoài ra bà không yêu cầu gì khác.
- Người đại diện hợp pháp của bị đơn anh Châu Quốc H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị Hoàn H trình bày:
Năm 2019, anh H và chị H1 có chuyển nhượng của anh Nguyễn Minh L một phần đất có kích thước ngang 04m x dài 16m, tổng diện tích 64m² thuộc thửa số 889, tờ bản đồ số 01, nay là đường Hồ Trung Thành, khóm 2, phường 7, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau. Khi chuyển nhượng anh L đã cắm mốc ranh giới và bàn giao mặt bằng 2E cho anh H và chị H1, đất có tứ cận một mặt giáp phần đất ông Trương Tấn B (1E, đường số 01), một mặt giáp phần đất bà Huỳnh Công D (3E, đường số 01), một mặt giáp lộ Hồ Trung Thành, một mặt giáp đất của Công ty cổ phần DVTM HT. Sau khi nhận chuyển nhượng anh H và chị H1 đã được điều chỉnh tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng và cất nhà tiền chế trên đất. Vì vậy anh H và chị H1 không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà D. Trường hợp Tòa án giải quyết chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà D thì anh H và chị H1 yêu cầu anh L phải tiếp tục thực hiện hợp đồng, giao thêm diện tích 31,9m² đủ so với diện tích chuyển nhượng. Nếu không có đất giao thì yêu cầu tuyên hợp đồng vô hiệu, anh L có lỗi nên buộc anh L bồi thường giá trị đất và bồi thường giá trị nhà theo chứng thư thẩm định ngày 26/8/2024.
Trước đây anh H và chị H1 trình bày phần đất anh chị nhận chuyển nhượng từ anh L do bà L1 quản L 31,9m² nên yêu cầu bà L1 tháo dỡ di dời nhà trả đất cho anh H và chị H1, nay anh H và chị H1 xác định anh chị rút lại yêu cầu này đối với bà L1.
Đối với căn nhà tiền chế trên đất tranh chấp trước đây anh H và chị H1 có cho bà Lê Thúy H2 thuê, nay đã hết hạn hợp đồng, bà H2 đã giao trả lại nhà cho anh H và chị H1 quản L sử dụng.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Anh Nguyễn Minh L trình bày:
Ngày 24/12/2018, anh L có nhận chuyển nhượng của bà Nguyễn Hồng N và ông Trần Văn Đ một phần đất diện tích 64m², thửa số 889, tờ bản đồ số 01, tọa lạc tại phường 7, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau với giá 1.100.000.000 đồng, sau khi chuyển nhượng ông Đ và bà N đã bàn giao đất cho anh quản lý. Đến ngày 23/01/2019 anh đã được điều chỉnh tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng. Ngày 14/3/2019 anh chuyển nhượng lại cho anh Châu Quốc H và chị Nguyễn Thị Hoàn H1 với giá 1.315.000.000 đồng, đã hoàn thành thủ tục chuyển nhượng đúng quy định. Đến ngày 19/3/2019 anh H và chị H1 được điều chỉnh sang tên trên giấy chứng nhận, anh đã nhận đủ tiền và đã bàn giao đất cho anh H và chị H1 quản lý và xây cất nhà ở. Anh L xác định anh đã giao đủ đất, đúng vị trí nhận chuyển nhượng từ bà Nga và ông Đ cho anh H và chị H1, giao dịch đã hoàn thành. Vì vậy yêu cầu của anh H và chị H1 đối với anh thì anh không đồng ý.
+ Người đại diện hợp pháp của bà Nguyễn Thị L1 trình bày:
Nguồn gốc phần đất tranh chấp anh H và chị H1 yêu cầu bà L1 tháo dỡ nhà để trả lại diện tích 31,9m² thuộc một phần thửa 171 tờ bản đồ số 7, chỉnh L năm 2009, tọa lạc khóm 2, phường 7, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau nằm trong tổng diện tích đất trước đây của bà Nguyễn Thị M và ông Lê Hữu T1 được Ủy ban nhân dân phường 7, thành phố Cà Mau cấp vào trước năm 1990, ông T1 và bà M nhận đất cất nhà sinh sống đến năm 2012 thì chuyển nhượng lại nhà và đất cho bà L1 với giá 400.000.000 đồng, việc chuyển nhượng chỉ làm hợp đồng mua bán viết tay, do đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng. Trong thời gian sinh sống trên đất, Công ty cổ phần dịch vụ thương mại HT có đến thỏa thuận để bồi thường cho bà L1 nhưng các bên không thống nhất nên bà L1 quản lý sử dụng đến nay. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa đại diện anh H và chị H1 rút lại yêu cầu đối với bà L1 nên bà đồng ý, bà L1 không ý kiến gì bổ sung. Ngày 02/6/2023 bà L1 có đơn yêu cầu độc lập, nội dung yêu cầu Tòa án công nhận phần đất diện tích 31,9m², thuộc một phần thửa 171 tờ bản đồ số 7, chỉnh lý năm 2009, tọa lạc khóm 2, phường 7, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau của bà L1, nay bà L1 xác định bà rút lại yêu cầu độc lập nêu trên.
+ Người đại diện hợp pháp Công ty cổ phần dịch vụ thương mại Cà Mau trình bày:
Từ tháng 12/2012 Công ty dịch vụ thương mại HT được chuyển đổi thành Công ty cổ phần dịch vụ thương mại HT, khi chuyển đổi sang công ty cổ phần, UBND tỉnh Cà Mau giao cho Công ty cổ phần trả những khoản nợ về đất, nợ về tiền theo Quyết định 893/QĐ-UBND ngày 29/6/2012.
Tại khu đất có thửa đất tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng giữa anh H và chị H1 với anh L nằm trong thửa đất còn tồn đọng mà Công ty dịch vụ thương mại HT được UBND tỉnh Cà Mau giao cho Công ty phải giao trả.
Năm 1994 Công ty DVTM MH có chuyển nhượng cho 08 hộ dân đã được UBND tỉnh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong đó có hộ của bà Nguyễn Hồng N nhận chuyển nhượng thửa 0889, tờ bản đồ 01, khóm 2, phường 7, thành phố Cà Mau, diện tích 64m², sau đó bà N đã chuyển nhượng lại cho anh Nguyễn Minh L.
Năm 2003 UBND tỉnh Cà Mau ban hành quyết định số 430/QĐ ngày 08/7/2003 phê duyệt điều chỉnh quy hoạch khu Trung tâm thương mại tổng hợp Cà Mau, theo đó toàn bộ khu đất được chuyển sang quy hoạch xây dựng chung cư trong đó có 08 hộ đã được cấp giấy chứng nhận nói trên.
Ngày 14/11/2011, UBND thành phố Cà Mau ban hành quyết định 60/QĐ phê duyệt đồ án chi tiết xây dựng khu Lia 14, phường 7, thành phố Cà Mau, tỉ lệ 1/500, theo đó khu đất được chuyển mục đích sang đất ở và đất tái định cư tại chổ, 08 mặt bằng nói trên được tồn tại theo điều chỉnh quy hoạch nhưng thay đổi vị trí theo quy hoạch mới.
Theo giấy chứng nhận thửa đất 0889, tờ bản đồ 01 mang tên Nguyễn Hồng N có một phần nằm trên nhà đất của bà L nên Công ty chưa thực hiện việc bàn giao nền cho bà N được. Sau đó bà N chuyển nhượng lại cho anh L, anh L chuyển nhượng lại cho anh H và chị H1. Công ty khẳng định việc các bên thực hiện việc chuyển nhượng Công ty không chứng kiến, không bàn giao vị trí, cột mốc cho các bên. Việc chuyển nhượng này do các bên tự thực hiện, Công ty không hay biết.
Vị trí phần đất tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng giữa anh H và chị H1 với anh L là khu đất của Công ty đang xin chủ trương sắp xếp lại để phân lô bàn giao cho các hộ dân nên chưa cặm mốc giao cho cá nhân nào. Công ty xác định Công ty chỉ có bàn giao một phần đất duy nhất là giao đất cho bà D, ngoài ra các phần đất khác trong vụ án này Công ty chưa bàn giao cho ai, lý do là Công ty không có quỹ đất và chưa thực hiện đền bù cho các hộ dân. Hiện nay Công ty đang xin chủ trương và đang thực hiện đền bù để tiến hành bàn giao cho các hộ, trường hợp không bàn giao được thì Công ty sẽ thực hiện bồi thường theo giá trị.
+ Bà Nguyễn Hồng N và ông Trần Văn Đ trình bày:
Trước đây bà Nga có nhận chuyển nhượng của Công ty cổ phần thương mại dịch vụ HT phần đất kích thức 4m x 16m, diện tích 64m², phần đất nay tọa lạc tại khóm 2 phường 7, thành phố Cà Mau. Sau khi nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, bà N đã thanh toán đủ tiền cho Công ty, Công ty đã bàn giao đủ đất cho bà N, đồng thời có cắm trụ đá làm ranh giới, đến năm 1996 bà N được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau khi được giao đất, được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng, bà N và ông Đ quản lý sử dụng và cùng với bà Huỳnh Công D là người có phần đất liền kề lập chung hàng rào trụ đá kéo dây kẽm gai quản lý sử dụng ổn định. Đến ngày 24/12/2018 ông Đ và bà N cùng ký hợp đồng công chứng chuyển nhượng lại phần đất trên cho anh Nguyễn Minh L, giá trị chuyển nhượng trên 01 tỷ đồng, sau khi chuyển nhượng cho anh L thì ông bà giao các giấy tờ có liên quan, đồng thời có đến thực địa giao đất cho anh L theo đúng hiện trạng Công ty đã bàn giao cho ông bà trước đây, còn việc khi ông bà giao đất cho anh L có mặt Công ty cùng đến chứng kiến hay không thì ông bà không nhớ.
Việc ông bà nhận chuyển nhượng đất từ Công ty, sau đó ông bà chuyển nhượng lại cho anh L đã hoàn thành, vì vậy ông bà xác định không có quyền lợi, nghĩa vụ gì tại vụ kiện này, nên từ chối tham gia tố tụng tại vụ án.
+ Người đại diện hợp pháp của Ngân hàng NN trình bày:
Qua rà soát hiện anh Châu Quốc H không còn dư nợ tại Ngân hàng vì vậy Ngân hàng khước từ tham gia tố tụng tại vụ án.
+ Đối với bà Lê Thúy H1 vắng mặt, không gửi văn bản nêu ý kiến của mình đối với vụ kiện.
Tại phiên tòa, Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ L cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật, không vi phạm. Về nội dung vụ án: Công ty cổ phần dịch vụ thương mại HT chuyển nhượng đất cho bà N, tuy Công ty đã nhận đủ tiền nhưng không có đất để bàn giao, sau khi bà N được cấp giấy chứng nhận, bà N chuyển nhượng trên giấy cho anh L, sau đó anh L chuyển nhượng lại cho anh H và chị H1. Xét thấy việc Công ty chuyển nhượng đất nhưng không có đất giao như trên đã xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự nêu trên, vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử chuyển hồ sơ vụ án sang Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cà Mau xem xét xử lý theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
[1] Quan hệ pháp luật tranh chấp: Tranh chấp giữa các đương sự được xác định là tranh chấp quyền sử dụng đất và tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
[2] Ngân hàng NN, bà Lê Thúy H2, bà Nguyễn Hồng N, ông Trần Văn Đ và chị Du Thị B vắng mặt. Căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt đối với đương sự và người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho đương sự nêu trên.
[3] Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, các đương sự thống nhất kết quả đo đạc ngày 28/6/2024 của Công ty trách nhiệm hữu hạn phát triển xanh Việt Nam; thống nhất kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 22/3/2023 và ngày 15/01/2024; thống nhất kết quả định giá tài sản ngày 26/8/2024 của Công ty cổ phần thẩm định Giá Trị Việt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào các kết quả trên làm căn cứ để xem xét giải quyết vụ án.
Theo kết quả đo đạc, xem xét thẩm định tại chổ và định giá tài sản, có cơ sở xác định phần đất bà D khởi kiện yêu cầu anh H và chị H1 trả lại có diện tích 31,9m² thuộc một phần thửa 144 tờ bản đồ số 7 và một phần thửa 118 tờ bản đồ số 8, chỉnh L năm 2009; phần đất tranh chấp anh H và chị H1 buộc anh L giao thuộc một phần thửa 171 tờ bản đồ số 7 và một phần thửa số 118 tờ bản đồ số 8, chỉnh L năm 2009. Đất tọa lạc tại khóm 2, phường 7, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau. Phần đất tranh chấp có căn nhà tiền chế của anh H và chị H1 xây dựng, hiện anh H và chị H1 quản lý.
[4] Xét về nguồn gốc đất tranh chấp, thấy rằng:
Về nguồn gốc đất của bà D: Ngày 17/12/1994 bà D nhận chuyển nhượng của Công ty dịch vụ thương mại HT phần đất thuộc thửa số 890, tờ bản đồ số 01, tọa lạc tại đường Ôtô số 1, khóm 1, phường 7, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau, vị trí mặt bằng 3E (nay thuộc một phần thửa 144 tờ bản đồ số 7 và một phần thửa 118 tờ bản đồ số 8, chỉnh lý năm 2009, tọa lạc tại khóm 2, phường 7, thành phố Cà Mau) có kích thước ngang 4m x dài 16m, diện tích 64m². Sau khi nhận chuyển nhượng bà D đã thanh toán đủ tiền cho Công ty, ngược lại Công ty đã giao đủ diện tích và đúng vị trí đất cho bà D. Ngày 17/10/1996 bà D đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất nhận chuyển nhượng nêu trên, việc cơ quan nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà D xét thấy là đúng trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật.
Về nguồn gốc đất của anh H và chị H1: Ngày 29/12/1994 bà N nhận chuyển nhượng từ Công ty dịch vụ thương mại HT phần đất thuộc thửa số 889, tờ bản đồ số 01, tọa lạc tại đường Ôtô số 1, khóm 1, phường 7, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau, vị trí mặt bằng 2E (nay thuộc một phần thửa số 118 tờ bản đồ số 8, chỉnh L năm 2009, tọa lạc tại khóm 2, phường 7, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau). Đến ngày 09/10/1996 bà N được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngày 24/12/2018 bà N và ông Đ chuyển nhượng phần đất đã nhận chuyển nhượng từ Công ty lại cho anh Nguyễn Minh L, đến ngày 23/01/2019 anh L được điều chỉnh tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngày 14/3/2019 anh L chuyển nhượng lại cho anh H và chị H1, đến ngày 19/3/2019 anh H và chị H1 đã được điều chỉnh tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng và cất nhà tiền chế trên đất.
Quá trình quản lý sử dụng đất thấy rằng: Sau khi bà D nhận chuyển nhượng đất của Công ty từ năm 1994, bà D quản lý sử dụng đất ổn định không có tranh chấp, đến năm 2019 khi anh H và chị H1 đến phần đất cho rằng nhận chuyển nhượng từ anh L cất nhà tiền chế thì bà D phát hiện nên có yêu cầu địa phương giải quyết nhưng kết quả không thành.
Anh H và chị H1 cho rằng khi cất nhà tiền chế, anh chị cất đúng vị trí đất nhận chuyển nhượng từ anh L, khi anh L giao đất cho anh chị thì thời điểm này có người đại diện Công ty chứng kiến, xác định đúng vị trí đất của anh L nhận chuyển nhượng từ bà N và ông Đ trước đây.
Đại diện Công ty cho rằng, ngày 17/12/1994 Công ty có chuyển nhượng đất cho bà D và ngày 29/12/1994 Công ty có chuyển nhượng đất cho bà N là đúng như bà D và bà N trình bày. Khi chuyển nhượng đất cho bà D và bà N đã thanh toán đủ tiền cho Công ty, bà D và bà N cũng đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định. Tuy nhiên trên thực tế Công ty chỉ mới giao đất cho bà D, việc giao đất cho bà D được thể hiện tại biên bản bàn giao đất trên thực địa ngày 22/9/2014. Đối với phần đất Công ty chuyển nhượng cho bà N lô 2E có vị trí một phần nằm trên đất của bà L mà Công ty chưa thỏa thuận bồi thường cho bà L được, vì vậy Công ty chưa có đất để giao cho bà N theo hợp đồng. Công ty thừa nhận khi anh L giao đất cho anh H và chị H1 có mặt đại diện Công ty, tuy nhiên Công ty chỉ đến xác định vị trí mốc giới của hai thửa đất bên cạnh là 1E và 3E, không phải có mặt để xác định mốc giới thửa đất 2E của bà N nhận chuyển nhượng từ Công ty.
Việc anh H, chị H1, anh L, bà N và ông Đ trình bày phần đất bà D tranh chấp với anh H và chị H1 có diện tích 31,9m² có nguồn gốc từ đất của Công ty đã giao cho bà N, nhưng xét thấy ngoài lời trình bày thì anh H, chị H1, anh L, bà N và ông Đ không cung cấp được biên bản Công ty đã bàn giao mặt bằng hay biên bản bàn giao đất cho bà N sau khi bà N nhận chuyển nhượng đất từ Công ty.
Từ căn cứ trên xét thấy việc anh H và chị H1 trình bày phần đất anh chị đang quản L sử dụng có cất nhà tiền chế trên đất là đúng với vị trí đất Công ty chuyển nhượng đã bàn giao cho bà N, đúng vị trí bà N bàn giao lại cho anh L xét thấy là không có căn cứ. Do đó xét thấy việc bà D khởi kiện yêu cầu anh H và chị H1 tháo dỡ di dời nhà tiền chế để trả lại phần đất có diện tích 31,9m² thuộc một phần thửa 144 tờ bản đồ số 7 và một phần thửa 118 tờ bản đồ số 8, chỉnh L năm 2009, tọa lạc tại khóm 2, phường 7, thành phố Cà Mau, xét thấy là có căn cứ nên được chấp nhận.
[5] Xét yêu cầu khởi kiện của anh H và chị H1 thấy rằng: Như đã phân tích đánh giá trên, ngày 29/12/1994 bà N nhận chuyển nhượng từ Công ty dịch vụ thương mại HT phần đất mặt bằng vị trí 2E, thuộc thửa số 889, tờ bản đồ số 01, trên thực tế bà N đã thanh toán đủ tiền cho Công ty, đến ngày 09/10/1996 bà N được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngày 24/12/2018 bà N và ông Đ chuyển nhượng lại cho anh L, ngày 23/01/2019 anh L được điều chỉnh tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngày 14/3/2019 anh L chuyển nhượng lại cho anh H và chị H1, đến ngày 19/3/2019 anh H và chị H1 đã được điều chỉnh tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng và cất nhà tiền chế trên đất. Quá trình giải quyết vụ án Công ty thừa nhận bà N đã thanh toán đủ tiền cho Công ty nhưng Công ty chưa có đất để giao cho bà N. Như vậy xét thấy đối tượng để Công ty thực hiện giao dịch chuyển nhượng cho bà N là diện tích đất 64m² là không có thực trên thực địa, tuy không có đất trên thực địa nhưng bà N và ông Đ chuyển nhượng lại cho anh L, sau khi nhận chuyển nhượng và căn cứ vào việc được điều chỉnh sang tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng, từ đó anh L tiếp tục thực hiện giao dịch ký hợp đồng chuyển nhượng lại cho anh H và chị H1 phần đất nay thuộc một phần thửa số 171 tờ bản đồ số 7 và một phần thửa số 118 tờ bản đồ số 8, chỉnh lý năm 2009, tọa lạc tại khóm 2, phường 7, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau là không đúng quy định, vô hiệu kể từ thời điểm xác lập giao dịch chuyển nhượng, lỗi trong việc thực hiện ký hợp đồng chuyển nhượng giữa anh L với anh H và chị H1 thuộc về anh L. Quá trình giải quyết vụ án, anh H và chị H1 yêu cầu anh L giao đủ diện tích đất đã chuyển nhượng, như đã phân tích xét thấy anh L không có đất để bàn giao theo hợp đồng, do đó anh H và chị H1 yêu cầu anh L bồi thường giá trị phần đất do anh chị đã nhận chuyển nhượng bằng tiền 3.215.583.800 đồng và bồi thường giá trị căn nhà tiền chế xây dựng trên đất phải tháo dỡ để trả lại cho bà D bằng tiền 78.873.720 đồng, tổng cộng anh H và chị H1 yêu cầu anh L bồi thường 3.294.457.600 theo chứng thư thẩm định ngày 26/8/2024 của Công ty cổ phần thẩm định Giá Trị Việt xét thấy là có căn cứ.
Công ty xác định chưa bàn giao đất đã chuyển nhượng cho bà N, nhưng bà N và ông Đ, cũng như anh L khẳng định Công ty đã bàn giao đất xong nên tại vụ án này bà N, ông Đ, anh L chưa đặt ra trách nhiệm đối với Công ty, vì vậy nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Tại phiên tòa Công ty trình bày hiện Công ty đang xin chủ trương để giải quyết những trường hợp trước đây có nhiều cá nhân nhận chuyển nhượng đất từ Công ty nhưng Công ty chưa có đất để giao, trong đó có phần đất bà N nhận chuyển nhượng. Công ty cho rằng Công ty sẽ có trách nhiệm đối với những trường hợp này khi những cá nhân nhận chuyển nhượng mà chưa nhận được đất khi họ có yêu cầu.
Từ phân tích đánh giá trên nên có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà D đối với anh H và chị H1, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh H và chị H1 với anh L.
Tại phiên tòa, đại diện anh H và chị H1 rút lại yêu cầu buộc bà L tháo dỡ di dời nhà để trả lại cho anh H và chị H1 phần đất diện tích 31,9m² thuộc một phần thửa 171 tờ bản đồ số 7, chỉnh lý năm 2009, tọa lạc khóm 2, phường 7, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau. Đại diện bà L1 rút lại yêu cầu độc lập về việc yêu cầu Tòa án công nhận phần đất diện tích 31,9m² thuộc một phần thửa 171 tờ bản đồ số 7, chỉnh L năm 2009, tọa lạc khóm 2, phường 7, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau là của bà L1. Xét thấy đây là sự tự nguyện của anh H, chị H1 và bà L1 nên chấp nhận.
Quá trình giải quyết vụ án đại diện Ngân hàng NN trình bày hiện anh Châu Quốc H không còn dư nợ tại Ngân hàng vì vậy Ngân hàng khước từ tham gia tố tụng tại vụ án, nên không xem xét.
[6] Về chi phí tố tụng: Do chấp nhận yêu cầu của bà D đối với anh H và chị H1, chấp nhận yêu cầu của anh H và chị H1 với anh L, vì vậy chi phí đo đạc anh H và chị H1 có nghĩa vụ hoàn trả lại cho bà D số tiền 9.210.000 đồng, chi phí đo đạc và định giá tài anh L có nghĩa vụ hoàn trả lại cho anh H và chị H1 số tiền 29.274.600 đồng.
[7] Lời bảo vệ của người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn xét thấy là phù hợp với phân tích đánh giá của Hội đồng xét xử. Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chuyển hồ sơ vụ án sang Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cà Mau xem xét xử lý do có dấu hiệu tội phạm xét thấy là chưa phù hợp với phân tích đánh giá của Hội đồng xét xử.
[8] Án phí dân sự sơ thẩm: Anh L, anh H và chị H1 phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH :
Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 147, 165, 166, 217, 227, 228 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Áp dụng các Điều 123, 131, 164, 166, 500 và 502 Bộ luật dân sự; Áp dụng khoản 1 Điều 12, các Điều 166, 202 và 203 Luật đất đai;
Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản L và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Công D; Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Châu Quốc H và chị Nguyễn Thị Hoàn H1.
Buộc anh Châu Quốc H và chị Nguyễn Thị Hoàn H1 tháo dỡ di dời nhà trả lại bà Huỳnh Công D phần đất có diện tích đo đạc thực tế 31,9m² thuộc một phần thửa 144 tờ bản đồ số 7 và một phần thửa 118 tờ bản đồ số 8, chỉnh lý năm 2009, tọa lạc tại khóm 2, phường 7, thành phố Cà Mau. (Kèm theo bản Trích đo hiện trạng ngày 28/6/2024 của Công ty trách nhiệm hữu hạn Phát triển xanh Việt Nam).
Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 14/3/2019 giữa anh Nguyễn Minh L với anh Châu Quốc H và chị Nguyễn Thị Hoàn H1 là vô hiệu.
Buộc anh Nguyễn Minh L bồi thường cho anh Châu Quốc H và chị Nguyễn Thị Hoàn H1 tổng số tiền 3.294.457.600 đồng (Ba tỷ hai trăm chín mươi bốn triệu bốn trăm năm mươi bảy nghìn sáu trăm đồng).
Buộc anh Châu Quốc H và chị Nguyễn Thị Hoàn H1 có nghĩa vụ hoàn trả cho bà Huỳnh Công D số tiền 9.210.000 đồng; Buộc anh Nguyễn Minh L có nghĩa vụ hoàn trả cho anh Châu Quốc H và chị Nguyễn Thị Hoàn H1 số tiền 29.274.600 đồng.
Kể từ ngày bà Huỳnh Công D có đơn yêu cầu thi hành án, nếu anh Châu Quốc H và chị Nguyễn Thị Hoàn H1 không thanh toán xong khoản tiền nêu trên thì phải trả thêm khoản lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành.
Kể từ ngày anh Châu Quốc H và chị Nguyễn Thị Hoàn H1 có đơn yêu cầu thi hành án, nếu anh Nguyễn Minh L không thanh toán xong khoản tiền nêu trên thì phải trả thêm khoản lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành.
Đình chỉ yêu cầu phản tố của anh Châu Quốc H và chị Nguyễn Thị Hoàn H1 về việc buộc bà Nguyễn Thị L tháo dỡ di dời nhà để trả lại cho anh H và chị H1 phần đất diện tích 31,9m² thuộc một phần thửa 171 tờ bản đồ số 7, chỉnh lý năm 2009, tọa lạc khóm 2, phường 7, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
Đình chỉ yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Thị L1 về việc yêu cầu công nhận phần đất diện tích 31,9m² thuộc một phần thửa 171 tờ bản đồ số 7, chỉnh L năm 2009, tọa lạc khóm 2, phường 7, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau là của bà Nguyễn Thị L1.
Án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Huỳnh Công D và bà Nguyễn Thị L1 không phải chịu án phí, đã được miễn dự nộp tạm ứng án phí theo quy định.
Anh Châu Quốc H và chị Nguyễn Thị Hoàn H1 phải chịu án phí dân sự không giá ngạch 300.000 đồng. Ngày 10/5/2023 anh H và chị H1 đã dự nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0003358 nên đối trừ sung công quỹ nhà nước.
Anh Nguyễn Minh L phải chịu án phí dân sự không giá ngạch 300.000 đồng và án phí dân sự có giá ngạch 97.889.000 đồng.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ được giao bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phạm Việt Trung |
10
Bản án số 279/2024/DS-ST ngày 04/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp quyền sử dụng đất và tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Số bản án: 279/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu nguyên đơn
