|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 278/2024/DS-ST
Ngày 24/9/2024
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Công Hách
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Mai
Bà Trần Thị Thanh Vân
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Hương – Thư ký Tòa án nhân dân quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội.
Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa tham gia phiên tòa: Bà Phạm Hà Thanh – Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Đống Đa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 181/2024/TLST-DSST ngày 20 tháng 05 năm 2024 về tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 294/2024/QĐXXST-DS ngày 19 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 272/2024/QĐST-DS ngày 05 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S (S1);
Địa chỉ trụ sở: Số B - B N, Phường V, quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D – Tổng giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phan A - Nhân viên Công ty TNHH MTV Q và khai thác tài sản Ngân hàng S; Địa chỉ: Tầng B số B - B Bà T, phường L, quận H, Thành phố Hà Nội. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Trần Văn T, sinh năm: 1980;
Nơi ĐKHKTT: Số B đường L, phường T, quận Đ, Thành phố Hà Nội.
Nơi cư trú: Số B ngõ G T, phường T, quận Đ, Thành phố Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện ngày 25/9/2023 và văn bản tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng thương mại cổ phần S ông Phan A trình bày như sau:
Ngày 18/9/2015, ông Trần Văn T có ký với Ngân hàng TMCP S (gọi tắt là Ngân hàng). Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, bản Điều khoản, Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng – các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của ông T, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ số thẻ 472075 – 9310 với hạn mức sử dụng là 56.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân.
Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông T đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 1.678.884.000 đồng.
Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông T đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 1.636.737.915 đồng. (Thứ tự thanh toán áp dụng theo Điều 20 của bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, kể từ ngày chuyển nợ quá hạn sẽ thanh toán theo thứ tự gốc trước, lãi sau).
Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông T vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông T vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 2 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), ngày 01/03/2019 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 23 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Lãi suất quá hạn: 2.15% x 150% = 3.225%/ tháng.
Tính đến ngày 24/02/2024, ông T còn nợ Ngân hàng tổng cộng: 180.968.150 đồng (Bằng chữ: Một trăm tám mươi triệu, chín trăm sáu mươi tám nghìn, một trăm năm mươi đồng), trong đó nợ gốc: 56.772.100 đồng, lãi quá hạn 124.196.050 đồng.
Mặc dù Ngân hàng đã yêu cầu ông T có trách nhiệm thanh toán, tuy nhiên ông T vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã qui định tại Hợp đồng đã ký.
Nay Ngân hàng đề nghị Tòa án giải quyết buộc ông Trần Văn T phải trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 24/09/2024 là 180.968.150 đồng (Bằng chữ: Một trăm tám mươi triệu, chín trăm sáu mươi tám nghìn, một trăm năm mươi đồng).
Buộc ông Trần Văn T có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh sau ngày 24/09/2024 cho đến khi trả dứt nợ gốc vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.
Về án phí: Ngân hàng đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra, ngân hàng không có yêu cầu gì khác.
Quá trình tiến hành giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành thông báo cho ông Trần Văn T biết Tòa án đã thụ lý vụ án tranh chấp Hợp đồng tín dụng do Ngân hàng TMCP S khởi kiện đối với ông Trần Văn T và triệu tập ông T đến Tòa để giải quyết vụ án, nhưng ông T không đến Tòa thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng dân sự giải quyết vụ án. Vì vậy, Tòa án căn cứ vào các quy định của pháp luật ra quyết định đưa vụ án ra xét xử.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Ngân hàng TMCP S có đơn xin xét xử vắng mặt và đề nghị giữ nguyên yêu cầu Tòa án nhân dân quận Đống Đa buộc ông Trần Văn T thanh toán cho Ngân hàng số tiền tạm tính đến ngày 24/9/2024 là 180.968.150 đồng (Bằng chữ: Một trăm tám mươi triệu, chín trăm sáu mươi tám nghìn, một trăm năm mươi đồng), trong đó nợ gốc: 56.772.100 đồng, lãi quá hạn 124.196.050 đồng.
Tại phiên tòa ông Trần Văn T vẫn vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa tham gia phiên tòa có ý kiến:
Về tố tụng: Quá trình tòa án tiến hành thụ lý vụ án cho đến khi quyết định đưa vụ án ra xét xử Thẩm phán, thư ký đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật, tại phiên tòa hôm nay Hội đồng xét xử đã tiến hành tố tụng theo đúng các quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Nguyên đơn chấp hành đúng các quy định của pháp luật. Bị đơn không chấp hành đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung: Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa nhận định, đánh giá tính hợp pháp của Hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng TMCP S với ông Trần Văn T và có ý kiến đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S, buộc ông Trần Văn T có trách nhiệm thanh toán trả cho Ngân hàng TMCP S toàn bộ số tiền nợ gốc, nợ lãi tính đến ngày 24/9/2024 là: 180.968.150 đồng và lãi phát sinh tính từ ngày 25/9/2024 cho đến khi thanh toán hết nợ theo mức lãi suất thỏa thuận trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Bản điều khoản Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng tương ứng với thời gian chưa thanh toán.
Ông Trần Văn T phải chịu án phí dân sự theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy:
[1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ yêu cầu khởi kiện và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật trong vụ án dân sự này là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn ông Trần Văn T có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại số B đường L, phường T, quận Đ, Thành Phố Hà Nội và nơi cư trú tại số B ngõ G T, phường T, quận Đ, Thành phố Hà Nội. Do vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Đống Đa theo khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập, triệu tập ông Trần Văn T đến tham gia phiên tòa, thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng dân sự tại phiên tòa nhưng ông T vẫn vắng mặt. Nguyên đơn Ngân hàng TMCP S có đơn xin xét xử vắng mặt. Do vậy, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ngân hàng TMCP S và ông Trần Văn T là đúng quy định tại khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3]. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Xét thấy, Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng) ký ngày 18/5/2015 giữa Ngân hàng TMCP S và ông Trần Văn T được các bên ký trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật, vì vậy xác định là Hợp đồng hợp pháp có hiệu lực thi hành với các bên. Ông T được cấp thẻ số thẻ 472074 - 9310 với hạn mức sử dụng là 56.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân. Quá trình sử dụng thẻ tín dụng ông T đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền 1.678.884.000 đồng, ông T đã thanh toán cho ngân hàng là 1.636.737.915 đồng (Một tỷ sáu trăm ba mươi sáu triệu, bảy trăm ba mươi bảy nghìn, chín trăm mười lăm đồng). Sau đó ông T không tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng nữa mặc dù đã được Ngân hàng làm việc, nhắc nhở nhiều lần. Ngày 01/03/2019, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu của ông T sang nợ quá hạn theo Điều 23 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng. Nay ngân hàng xác nhận tạm tính đến ngày 24/09/2024 ông Trần Văn T còn nợ Ngân hàng số tiền nợ gốc và lãi là: 180.968.150 đồng (Bằng chữ: Một trăm tám mươi triệu, chín trăm sáu mươi tám nghìn, một trăm năm mươi đồng), trong đó nợ gốc: 56.772.100 đồng, lãi quá hạn 124.196.050 đồng. Ngân hàng đề nghị Tòa án giải quyết buộc ông Trần Văn T phải thanh toán trả Ngân hàng toàn bộ số tiền nợ gốc và lãi nêu trên.
[3.1]. Xét yêu cầu thanh toán số tiền nợ gốc: 56.772.100 đồng. Hội đồng xét xử căn cứ vào Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng, bản sao kê sử dụng thẻ tín dụng của ông Trần Văn T với Ngân hàng TMCP S đủ cơ sở xác nhận ông Trần Văn T còn nợ Ngân hàng số tiền nợ gốc là: 56.772.100 đồng (Năm mươi sáu triệu, bảy trăm bảy mươi hai nghìn, một trăm đồng) nên việc Ngân hàng TMCP S đề nghị Tòa án giải quyết buộc ông Trần Văn T phải thanh toán trả Ngân hàng số tiền nợ gốc trên là có căn cứ chấp nhận và phù hợp với quy định của pháp luật.
[3.2]. Xét yêu cầu tính lãi: căn cứ Điều 23 Bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng thương mại cổ phần S quy định: Việc không thanh toán ít nhất số tiền tối thiểu của chủ thẻ cho đến kỳ phát sinh thông báo tiếp theo sẽ tạo nên sự vi phạm theo hợp đồng. Trong trường hợp này toàn bộ tổng dư nợ sẽ trở nên đến hạn ngay lập tức và chủ thẻ phải thanh toán. Ông Trần Văn T sử dụng thẻ từ ngày 18/9/2015 quá trình sử dụng thẻ ông T đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán, Ngân hàng đã nhắc nhở ông T, qua nhiều lần làm việc nhưng ông T không có thiện chí trả nợ. Do ông T vi phạm Điều 23 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng nên ngày 01/03/2019 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu của ông L sang nợ quá hạn là đúng quy định của hợp đồng và phù hợp với các quy định của pháp luật về lãi suất được quy định khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng được sửa đổi, bổ sung năm 2010, Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao hướng dẫn về áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm. Tạm tính đến ngày 24/09/2024, ông T còn nợ Ngân hàng số tiền nợ gốc là: 56.772.100 đồng (Năm mươi sáu triệu, bảy trăm bảy mươi hai nghìn, một trăm đồng), lãi suất quá hạn được tính bằng 150% lãi suất trong hạn, tính từ ngày 01/03/2019 đến ngày 24/9/2024 là: 124.196.050 đồng (Một trăm hai mươi tư triệu đồng, một trăm chín mươi sáu nghìn, không trăm năm mươi đồng). Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng TMCP S buộc ông Trần Văn T phải thanh toán số tiền nợ lãi quá hạn là: 124.196.050 đồng (Một trăm hai mươi tư triệu đồng, một trăm chín mươi sáu nghìn, không trăm năm mươi đồng).
Như vậy, số tiền nợ gốc và lãi ông Trần Văn T phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP S là: 180.968.150 đồng (Bằng chữ: Một trăm tám mươi triệu, chín trăm sáu mươi tám nghìn, một trăm năm mươi đồng).
Về án phí: Ngân hàng TMCP S được chấp nhận yêu cầu nên không phải chịu án dân sự sơ thẩm. Ông Trần Văn T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải thanh toán theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm về hướng giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.
Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 146, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- - Căn cứ vào Điều 91; Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.
- - Căn cứ các Điều 463, 466 và khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
- - Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao hướng dẫn về áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
- - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần S đối với ông Trần Văn T về việc thanh toán số tiền chậm trả theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Bản điều khoản Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng.
Xác nhận ông Trần Văn T còn nợ Ngân hàng TMCP S số tiền nợ gốc và lãi là 180.968.150 đồng (Bằng chữ: Một trăm tám mươi triệu, chín trăm sáu mươi tám nghìn, một trăm năm mươi đồng), trong đó nợ gốc: 56.772.100 đồng, lãi quá hạn 124.196.050 đồng.
Buộc ông Trần Văn T phải trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần S số tiền là 180.968.150 đồng (Bằng chữ: Một trăm tám mươi triệu, chín trăm sáu mươi tám nghìn, một trăm năm mươi đồng).
Về án phí: Ông Trần Văn T phải chịu 9.048.408 đồng (Chín triệu không trăm bốn mươi tám nghìn bốn trăm linh tám đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả Ngân hàng thương mại cổ phần S 4.104.623 đồng (Bốn triệu một trăm linh bốn nghìn sáu trăm hai mươi đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại Giấy thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số [...] ngày 17/5/2024 tại Công ty cổ phần T1, Đơn vị nhận tiền: Chi cục thi hành án dân sự quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội.
Kể từ ngày tiếp theo ngày xử án sơ thẩm, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc còn phải thi hành án theo mức lãi suất thỏa thuận trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Bản điều khoản Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm, Ngân hàng thương mại cổ phần S và ông Trần Văn T vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Công Hách |
Bản án số 278/2024/DS-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 278/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
