Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH

TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 278/2024/HSST

Ngày: 11-12-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị Kim Huế

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Văn Thắng

Bà Trịnh Thị Lan

- Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Hải Anh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ích Sáng - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 271/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 271/2024/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Trần Văn D, sinh ngày 22 tháng 9 năm 2006; nơi sinh tại tỉnh Nam Định; số căn cước công dân: [...]; nơi cư trú: Số A đường T, phường N, thành phố N, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Q và bà Đặng Thị T; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; tiền án; tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 13-7-2024 đến ngày 22-7-2024 chuyển tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố N; bị cáo có mặt tại phiên toà.

2. Họ và tên: Trần Quang A, sinh ngày 26 tháng 5 năm 2006; nơi sinh tại tỉnh Nam Định; số căn cước công dân: [...]; nơi đăng ký thường trú: phố T, thị trấn M, huyện G, tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: Số C đường V, phường V, thành phố N, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Quốc H và bà Đoàn Thị T1; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; tiền án; tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 13-7-2024 đến ngày 22-7-2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; bị cáo có mặt tại phiên toà.

- Trợ giúp viên pháp lý cho bị cáo Trần Văn D: bà Trần Thị B, Trung tâm trợ giúp pháp lý, Sở tư pháp tỉnh Nam Định.

- Bị hại: Ông Phạm Văn N, sinh năm 1948; nơi cư trú: Số B N, phường V (nay là phường T), thành phố N, tỉnh Nam Định (đã chết).

Người đại diện theo pháp luật của bị hại:

- Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1946; nơi cư trú: Số B N, phường V (nay là phường T), thành phố N, tỉnh Nam Định;

- Chị Phạm Thị Thu T2, sinh năm 1976; Số B N, phường V (nay là phường T), thành phố N, tỉnh Nam Định;

- Chị Phạm Thị N1, sinh năm 1984; nơi cư trú: số A T, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định;

- Chị Phạm Thị T3, sinh năm 1981; nơi cư trú: Số B N, phường V (nay là phường T), thành phố N, tỉnh Nam Định;

Người đại diện theo uỷ quyền của bà Nguyễn Thị C, chị Phạm Thị Thu T2, chị Phạm Thị N1: chị Phạm Thị T3, sinh năm 1981; nơi cư trú: Số B N, phường V (nay là phường T), thành phố N, tỉnh Nam Định (Theo giấy uỷ quyền ngày 25-7-2024). Vắng mặt tại phiên toà (có đơn xin vắng mặt ngày 28-11-2024).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ ngày 12-7-2024, Trần Quang A điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vision biển kiểm soát 18B2-009.27 đến nhà Trần Văn D chơi, đến khoảng 16 giờ 45 phút cùng ngày, D rủ Quang A đến nhà bà của D ở phường N, thành phố N, Quang A đồng ý. Mặc dù biết D chưa có giấy phép lái xe mô tô theo quy định nhưng do buồn ngủ, Quang A vẫn giao xe mô tô BKS 18B2-009.27 cho D điều khiển.

Khoảng 16 giờ 55 phút cùng ngày, D điều khiển xe mô tô BKS 18B2-009.27 chở Quang A ngồi sau đi trên đường N theo hướng từ đường S đến đường T với tốc độ khoảng 40 km/h, trong điều kiện đường N là đường 02 chiều, mặt đường trải nhựa bằng phẳng, có vạch sơn đứt đoạn màu vàng phân chia thành 02 chiều đường riêng biệt, trời sáng, không mưa, tầm nhìn không bị hạn chế. D điều khiển xe đi tại chiều đường bên phải theo hướng đi. Khi đến cách khu vực giao nhau giữa đường N và đường C, phường T (nay là phường N), thành phố N, tỉnh Nam Định khoảng 20m, D quan sát thấy ông Phạm Văn N đang điều khiển xe đạp theo hướng ngược lại. Ông N điều khiển xe đạp đi tại chiều đường bên phải, cách mép đường bên phải theo hướng đi khoảng 01m, cách xe mô tô do D điều khiển khoảng 30m. D giữ nguyên tốc độ đi vào khu vực giao nhau và quay sang nói chuyện với Quang A. Khi đi gần hết khu vực giao nhau D quay lại nhìn phía trước thì phát hiện ông N đang điều khiển xe đạp rẽ trái sang đường C, cách xe D khoảng 1m. Thấy vậy, D phanh gấp và đánh lái sang phải để tránh nhưng khoảng cách hai xe gần nên phần đầu trái đầu xe mô tô do D điều khiển xô vào đầu xe bên phải xe đạp do ông N điều khiển, làm ông N ngã đập đầu xuống đường. Hậu quả: Ông N bị chấn thương vùng đầu tử vong sau đó.

Tại Biên bản khám nghiệm hiện trường do Đội cảnh sát giao thông trật tự Công an thành phố N lập ngày 12-7-2024 đã ghi nhận tại hiện trường xe đạp đổ ngã phải nằm trên mặt đường N, đầu xe quay hướng đường T, đuôi xe quay hướng Trần Nhân T4, đầu trục bánh trước bên phải cách mép đường chuẩn 0m65, cách mép đường cổng ngoại thương 04m60, đầu trục bên phải bánh sau xe cách mép đường chuẩn 0m20 và cách mép đường cổng ngoại thương 5m30. Xe mô tô BKS 18B2-009.27 đổ ngã trái nằm trên khu vực lề đường Nguyễn Văn T5, đầu xe quay hướng đường T, đuôi xe quay hướng đường T, đầu trục bên trái bánh trước cách mép đường chuẩn 1m20, đầu trục bên trái bánh sau xe cách mép đường chuẩn 0m65, cách mép đường cổng ngoại thương 7m20 và cách đầu trục bên phải bánh sau xe đạp 2m40. Vết cày đứt quãng trên mặt đường N, có chiều từ đường T đến đường T, vết có chiều dài 3m30, đầu vết cách mép đường chuẩn 0m20 và cách đầu trục bên phải bánh trước xe đạp 0m50 và cách mép đường cổng ngoại thương 4m60, cuối vết cày trùng với giá để chân người ngồi sau bên trái xe mô tô BKS 18B2-009.27.

Kết quả khám nghiệm xe mô tô: Mặt ngoài ốp nhựa càng xe và chắn bùn, khoá càng phía trước bên trái đầu xe có vết trượt làm xước vỡ ốp nhựa càng xe làm xước ốp nhựa chắn bùn bánh trước ở phía sau gãy vỡ rời. Mặt ngoài ốp nhựa mặt nạ cánh yếm chắn gió phía trước bên trái đầu xe có vết trượt làm xước vỡ kính cụm đèn và ốp nhựa đèn. Tại mặt ngoài kính và nhựa cụm đèn chiếu sáng phía trước có vết trượt làm xước vỡ kính và ốp nhựa. Các vết trượt, xước trên đều có chiều từ trước về sau, từ trái sang phải.

Kết quả khám nghiệm xe đạp: Tại mặt ngoài gọng tanh phía bên phải bắt giữ trục bánh xe và chắn bùn phía sau của bánh trước có vết trượt làm xước mặt gọng tanh, vết có chiều từ sau về trước. Mặt ngoài nan hoa, vành xe phía bên phải bánh xe phía trước có vết trượt va chạm làm xước mặt vành xe, xước cong nan hoa, vết có chiều từ phải qua trái, từ ngoài vào trong.

2

Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an thành phố N đã tiến hành trưng cầu giám định về nguyên nhân chết của ông Phạm Văn N2, tại Bản kết luận giám định tử thi số 1298/KLGĐTT-KTHS ngày 19-7-2024 của Phòng K Công an tỉnh N: Nạn nhân Phạm Văn N chết do chấn thương vỡ xương hộp sọ, chảy máu nội sọ. Cơ chế hình thành vết thương: Do va đập và trà sát.

Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an thành phố N đã trưng cầu giám định đối với 02 đoạn Video clip ghi lại nội dung sự việc đã thu giữ. Bản kết luận giám định số 1398 ngày 31-8-2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận:

- Không phát hiện thấy dấu vết bị cắt ghép, chỉnh sửa nội dung trong toàn bộ mẫu cần giám định ký hiệu A1, A2.

- Xe đạp do ông Phạm Văn N điều khiển đi tại phần làn đường bên phải theo chiều chuyển động của xe đạp với tốc độ 9,94 km/h (+/-0,4 km/h) tại thời điểm 00h02’32” trong mẫu cần giám định ký hiệu A1.

- Tốc độ của xe mô tô BKS 18B2009.27 tại thời điểm 16h54’43” là 41,9km/h (+/- 1,4km/h) trong mẫu cần giám định ký hiệu A2.

- Tốc độ của xe mô tô BKS 18B2-009.27 tại thời điểm 16h54’42” và thời điểm 16h54’43” là 41,9km/h (+/- 1,4km/h), tốc độ của xe mô tô BKS 18B2-009.27 tại thời điểm 16h54’44” là 34,92 km/h (+/-1,164 km/h) do đi khi vào khu vực đường giao nhau, hình ảnh xe mô tô BKS 18B2-009.27 do D điều khiển xuất hiện trong mẫu cần giám định ký hiệu A2 có giảm tốc độ.

Sau khi xảy ra vụ việc, Trần Văn D và Trần Quang A đã đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội. Quá trình điều tra xác định, tại thời điểm xảy ra vụ việc, trong hơi thở của Trần Văn D không có nồng độ cồn; trong máu nước tiểu của D âm tính với các chất ma tuý.

Về vấn đề dân sự: Trần Văn D, Trần Quang A đã tác động để gia đình bồi thường cho gia đình ông Phạm Văn N số tiền 140.000.000 đồng. Gia đình ông N đã nhận số tiền trên và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe mô tô BKS 18B2-009.27 cho Trần Quang A, trả lại chiếc xe đạp cho đại diện gia đình bị hại là chị Phạm Thị T3, sinh năm 1981, trú tại 2 N, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định.

Bản Cáo trạng số 277/CT-VKSTPNĐ ngày 18 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định truy tố bị cáo Trần Văn D về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) với tình tiết định khung tăng nặng “không có giấy phép lái xe theo qui định” và truy tố bị cáo Trần Quang A về tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 264 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

4

Tại phiên tòa: Bị cáo Trần Văn D và Trần Quang A đã khai nhận hành vi vi phạm Luật giao thông đường bộ dẫn đến hậu quả làm ông Phạm Văn N bị thương tích như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo Trần Văn D và Trần Quang A theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 90, Điều 91, Điều 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Tuyên bố bị cáo Trần Văn D phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”;

Xử phạt bị cáo Trần Văn D từ 36 tháng đến 42 tháng tù;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 264; Điều 36; điểm b, điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Tuyên bố bị cáo Trần Quang A phạm tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ”;

Xử phạt bị cáo Trần Quang A từ 18 tháng đến 24 tháng cải tạo không giam giữ. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Trần Quang A.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo Trần Quang A không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận.

Trợ giúp viên pháp lý cho bị cáo trình bày quan điểm bào chữa cho bị cáo Trần Văn D: Nhận xét, đánh giá về nhân thân bị cáo Trần Văn D là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Sau khi phạm tội, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho người đại diện hợp pháp của bị hại và đại diện gia đình bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo D được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội qui định tại Điều 90 và Điều 91 Bộ luật Hình sự và cho bị cáo Trần Văn D được hưởng dưới mức thấp theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

5

Các bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Trần Văn D, Trần Quang A và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

[2] Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ lời khai của các bị cáo Trần Văn D, Trần Quang A và người làm chứng, bản Kết luận giám định tử thi số 1298/KL-KTHS ngày 19-7-2024, bản kết luận giám định số 1398/KL-KTHS ngày 31-8-2024 của Phòng K Công an tỉnh N; sơ đồ hiện trường, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án; đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 16 giờ 45 phút ngày 12-7-2024, Trần Quang A biết rõ Trần Văn D chưa có giấy phép lái xe máy loại A1 đối với loại xe 125cm³ theo quy định nhưng vẫn giao xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vision BKS 18B2-009.27 dung tích xi lanh 125cm³ cho Trần Văn D điều khiển tham gia giao thông. Đến khoảng 16 giờ 55 phút cùng ngày, Trần Văn D điều khiển xe mô tô BKS 18B2-009.27 chở Trần Quang A đi trên đường N theo hướng từ đường S đến đường T. Khi đến khu vực giao nhau giữa đường N và đường C, phường T (nay là phường N), thành phố N, D không chú ý quan sát, không giảm tốc độ đến mức an toàn khi đi qua nơi đường bộ giao nhau vi phạm khoản 23 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ và Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29-8-2019 của Bộ G nên đã để phần bên trái đầu xe mô tô va chạm với đầu xe bên phải xe đạp do ông Phạm Văn N điều khiển theo chiều ngược lại đang chuyển hướng rẽ trái sang đường, làm ông N3 ngã đập đầu xuống đường, sau đó tử vong. Hành vi của bị cáo Trần Văn D đã phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) với tình tiết định khung tăng nặng “không có giấy phép lái xe theo qui định”. Hành vi của bị cáo Trần Quang A đã phạm tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 264 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

6

Vì vậy, quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định là có căn cứ.

[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm đến an toàn giao thông, gây hậu quả nghiêm trọng.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho người đại diện hợp pháp của bị hại; trong gia đoạn điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình; sau khi phạm tội đã ra đầu thú và đại diện gia đình bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo. Do đó các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Bị cáo Trần Văn D khi phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi nên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử áp dụng nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội qui định tại Điều 90 và Điều 91 Bộ luật Hình sự; bị cáo Trần Quang A phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i khoản 1 Đều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[4] Về hình phạt chính:

Đối với bị cáo Trần Văn D, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn trong khung đã truy tố, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.

Đối với bị cáo Trần Quang A: Hội đồng xét xử xét thấy xét thấy cần phải áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.

[5] Về hình phạt bổ sung và khấu trừ thu nhập: Bị cáo Trần Quang A không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo và miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Gia đình các bị cáo đã bồi thường số tiền 140.000.000 đồng cho gia đình bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận đủ số tiền bồi thường và không yêu cầu các bị cáo bồi thường thêm. Do đó Hội đồng xét xử không giải quyết vấn đề dân sự.

[6] Về các vấn đề khác:

7

Đối với chiếc xe máy Honda Vision mà bị cáo Trần Văn D đã sử dụng Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sử hữu là bị cáo Trần Quang A là đúng quy định của pháp luật.

[7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 90 và Điều 91, Điều 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Trần Văn D.

Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn D phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Trần Văn D 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 13-7-2024.

2. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 264; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Trần Quang A.

Tuyên bố: Bị cáo Trần Quang A phạm tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện giao thông tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Trần Quang A 02 (hai) năm cải tạo không giam giữ; thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện G, tỉnh Ninh Bình nhận được quyết định thi hành án. (bị cáo được trừ 30 ngày cải tạo không giam giữ tương ứng với thời gian đã bị tạm giữ từ ngày 13-7-2024 đến ngày 22-7-2024). Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 100 của Luật Thi hành án hình sự.

Miễn hình phạt bổ sung là hình thức phạt tiền và miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Trần Quang A trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

Bị cáo Trần Văn D phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Trần Quang A phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

8

4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo Trần Văn D và Trần Quang A được quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện theo pháp luật của bị hại được quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Người TGTT;
  • - VKSND tp. Nam Định (02 bản);
  • - TAND tỉnh Nam Định;
  • - Công an tp. Nam Định;
  • - Chi cục THADS tp. Nam Định ;
  • - Lưu hồ sơ vụ án + VT.

9

CÁC THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
HỘI THẨM NHÂN DÂN
Lương Thị Kim Huế

10

11

12

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 278/2024/HSST ngày 11/12/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (criminal case)

  • Số bản án: 278/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Criminal Case)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Văn Dũng và Trần Quang Anh (vi phạm qui định về điều khiển phương tiện)
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger