Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRẦN VĂN THỜI

TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 278/2024/DS-ST
Ngày 10-9 - 2024
V/v Tranh chấp hợp đồng góp hụi.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Văn Đen

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Văn Công Trọn

2. Bà Nguyễn Kim Lên

Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Nga Muội - Thư ký Tòa án, Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

Ngày 10 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 694/2023/TLST-DS ngày 17 tháng 8 năm 2023 về việc tranh chấp hợp đồng góp hụi, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 599/2024/QĐXXST-DS ngày 01 tháng 08 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1960 (có mặt).

Địa chỉ: Ấp F, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Bà Nguyễn Hoa M, sinh năm 1976 (vắng mặt).

Ông Trương Hoàng G, sinh năm 1969 (vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Ấp E, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện cùng các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị T trình bày: Bà làm chủ hụi nhiều năm ở địa phương. Bà Nguyễn Hoa M có tham gia các dây hụi của bà cụ thể:

  1. Vào ngày 06/6/2018 âl bà có mở dây hụi loại hụi 2.000.000 đồng, hụi này có 30 chưng (danh sách ghi 31 chưng), mỗi tháng khui 01 kỳ. Bà Nguyễn Hoa M tham gia 03 chưng. Bà M lần lượt hốt hết 03 chưng. Hốt chưng thứ 01 vào ngày 06/7/2018âl, hốt chưng thứ 2 vào ngày 06/9/2018âl, hốt chưng thứ 3 vào ngày 06/11/2018 âl, tính đến ngày 06/12/2020âl hụi mãn. Bà M còn nợ lại bà 1 kỳ hụi chết của 3 chưng, số tiền 78.000.000 đồng. (trong đó bà M hốt một chưng vào ngày 06/7/2018 âl của bà C, số tiền 30.640.000 đồng.

Các chưng hụi trên đã được giải quyết một phần tại quyết định công nhận số 71/2020 ngày 06/3/2020 đã giải quyết đến ngày 08/01/2020 và Bản án số 39/2021/DS-ST ngày 16/3/2021 của Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời rồi. Đối với chưng hụi bà M hốt ngày 06/7/2018 bà M cho rằng hốt cho bà Phạm Thị C nên bà đồng ý tách ra nếu có căn cứ bà kiện bà C thành vụ kiện dân sự khác.

  1. Vào ngày 22/02/2019 al bà có mở dây hụi loại hụi 5.000.000 đồng, hụi này có 26 (danh sách hụi ghi 27 chưng), 02 tháng khui 01 kỳ. Bà Nguyễn Hoa M tham gia 01 chưng. Bà M hốt hết vào ngày 22/4/2019 âl. Trong dây hụi này cũng đã được giải quyết một phần tại Quyết định số 71/2020 ngày 06/3/2020, 06 kỳ hốt chết, số tiền 30.000.000 đồng đã được giải quyết tại Bản án số 39/2021/DS-ST ngày 16/3/2021 của Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời. Nghĩa vụ tiếp theo còn lại 14 kỳ x 5.000.000 đồng = 70.000.000 đồng.
  2. Vào ngày 20/6/2017 al bà có mở dây hụi loại hụi 5.000.000 đồng, hụi này có 19 chưng, 03 tháng khui 01 kỳ. Bà Nguyễn Hoa M tham gia 01 chưng. Bà M hốt hết vào ngày 20/12/2017 âl. Trong dây hụi này cũng đã được giải quyết một phần tại Quyết định số 71/2020 ngày 06/3/2020, 04 kỳ hốt chết, số tiền 20.000.000 đồng đã được giải quyết tại Bản án số 39/2021/DS-ST ngày 16/3/2021 của Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời. Nghĩa vụ tiếp theo còn lại 04 kỳ x 5.000.000 đồng = 20.000.000 đồng.
  3. Vào ngày 20/6/2017 al bà có mở dây hụi loại hụi 5.000.000 đồng, hụi này có 17 chưng, 03 tháng khui 01 kỳ. Bà Nguyễn Hoa M tham gia 01 chưng. Bà M hốt hết vào ngày 20/6/2017 âl. Trong dây hụi này cũng đã được giải quyết một phần tại Quyết định số 71/2020 ngày 06/3/2020, 04 kỳ hốt chết, số tiền 20.000.000 đồng đã được giải quyết tại Bản án số 39/2021/DS-ST ngày 16/3/2021 của Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời. Nghĩa vụ tiếp theo còn lại 02 kỳ x 5.000.000 đồng = 10.000.000 đồng.
  4. Vào ngày 12/10/2017 al bà có mở dây hụi loại hụi 5.000.000 đồng, hụi này có 21 chưng, 03 tháng khui 01 kỳ. Bà Nguyễn Hoa M tham gia 01 chưng. Bà M hốt hết vào ngày 20/7/2018 âl. Trong dây hụi này cũng đã được giải quyết một phần tại Quyết định số 71/2020 ngày 06/3/2020, 04 kỳ hốt chết, số tiền 20.000.000 đồng đã được giải quyết tại Bản án số 39/2021/DS-ST ngày 16/3/2021 của Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời. Nghĩa vụ tiếp theo còn lại 07 kỳ x 5.000.000 đồng = 35.000.000 đồng.
  5. Vào ngày 29/02/2017 al bà có mở dây hụi loại hụi 5.000.000 đồng, hụi này có 17 chưng, 04 tháng khui 01 kỳ. Bà Nguyễn Hoa M tham gia 01 chưng. Bà M hốt vào ngày 29/02/2017 âl. Trong dây hụi này cũng đã được giải quyết một phần tại Quyết định số 71/2020 ngày 06/3/2020, 03 kỳ hốt chết, số tiền 15.000.000 đồng đã được giải quyết tại Bản án dân sự sơ thẩm số 39/2021/DS-ST ngày 16/3/2021 của Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời. Nghĩa vụ tiếp theo còn lại 04 kỳ x 5.000.000 = 20.000.000 đồng.

Tổng cộng số tiền của các dây hụi nêu trên là 155.000.000 đồng.

Tại phiên hòa giải bà Thanh T đổi một phần yêu cầu khởi kiện. Bà Yêu cầu bà Nguyễn Hoa M và ông Trương Hoàng G trả cho bà tổng cộng 155.000.000 đồng, lý do đơn kiện ghi số tiền nhiều hơn là do có sự nhầm lẫn.

Tại biên bản hòa giải ngày 19/01/2021 của hồ sơ dân sự sơ thẩm thụ lý số 711/2020/TLST-DS ngày 15/12/2020, bà Nguyễn Hoa M trình bày: Bà thống nhất như trình bày của bà T về thời gian chơi hụi, hốt hụi, đóng hụi chết của bà T đúng như bà T trình bày. Nay bà đồng ý trả số tiền trên và cam kết thực hiện nghĩa vụ tiếp theo của những dây hụi còn lại chưa mãn.

Bà xác định việc giao dịch chơi hụi với bà T là do một mình bà tham gia và đồng ý trả. Không liên quan gì đối với ông Trương Hoàng G.

Bà xác định hiện nay bà với ông G là vợ chồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

- Về thẩm quyền: Do bị đơn bà Nguyễn Hoa M và ông Trương Hoàng G có nơi cư trú tại ấp E, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau; nội dung tranh chấp: Nợ tiền hụi, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau theo khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời đã ban hành Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải (02 lần), Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và tống đạt hợp lệ cho ông Trương Hoàng G, bà Nguyễn Hoa M nhưng ông G, bà M đều vắng mặt không rõ lý do. do đó, Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228; Bộ luật tố tụng dân sự; xét xử vắng mặt ông G, bà M theo quy định. Ông G, bà M không xuất trình bất kỳ tài liệu, chứng cứ để bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của mình nên phải chịu hậu quả về việc không đưa ra chứng cứ để chứng minh theo khoản 4 Điều 91 Bộ luật dân sự.

[2] Về nội dung tranh chấp: Theo bà T trình bày, bà có mở tổng cộng 06 dây hụi do bà làm chủ. Tính đến ngày khởi kiện thì dây hụi loại 5.000.000 đồng đã mãn. Do bà M vi phạm nghĩa vụ trong giao dịch hụi nên bà khởi kiện yêu cầu bà M trả. Trong thời gian bà M tham giao dịch hụi thì ông Trương Hoàng G với bà Nguyễn Hoa M là vợ chồng và hiện nay vẫn còn tồn tại mối quan hệ hôn nhân nên buộc bà M với ông G có nghĩa vụ trả.

[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Tại phiên tòa, bà T thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện. Bà chỉ yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà M và ông G trả cho bà số tiền nợ hụi của 05 dây hụi. Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình; trong giai đoạn xét xử bà T có cung cấp cho Tòa án danh sách hụi viên của 06 dây hụi nêu trên; tại biên bản hòa giải ngày 19/01/2021, bà M thừa nhận có nợ số tiền hụi và đồng ý trả. Tuy nhiên, bà cho rằng việc tham gia chơi hụi là do một mình bà tham gia, ông G không liên quan trong vụ án.

Xét, các bên giao dịch chơi hụi là thực tế có xảy ra, bị đơn thừa nhận có tham gia chơi hụi do nguyên đơn làm chủ, các dây hụi này hiện nay đã mãn hụi nhưng bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ là đã hốt hết nhưng không đóng hụi chết, số tiền còn nợ 155.000.000 đồng. Ngoài ra các dây hụi trên đã được giải quyết một phần tại Quyết định số 71 ngày 06/3/2020, Bản án dân sự sơ thẩm số 39/2021/DS-ST ngày 16/3/2021 của Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời.

Tại biên bản hòa giải ngày 19/01/2021, bà M thừa nhận còn nợ lại bà T và đồng ý trả và cam kết tiếp tục thực hiện nghĩa vụ tiếp theo những dây hụi còn lại chưa mãn. Lời thừa nhận của bị đơn là phù hợp không cần phải chứng minh được quy định tại điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự nên khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ được chấp nhận.

Đối với việc bị đơn cho rằng ông G không liên quan trong vụ án là không đúng. Hiện nay ông G và bà M vẫn còn tồn tại mối quan hệ hôn nhân nên buộc ông G và bà M có trách nhiệm trả số nợ trên.

Đối với yêu cầu bà M trả chưng hụi hốt ngày 06/7/2018. Tại phiên toà bà M cho rằng hốt chưng hụi này cho bà Phạm Thị C nên bà đồng ý tách ra nếu có căn cứ bà kiện bà C thành vụ kiện dân sự khác.

[4] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bà Nguyễn Hoa M và ông Trương Hoàng G phải chịu án phí dân sự có giá ngạch đối với số tiền mà nguyên đơn được chấp nhận; nguyên đơn không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 1, khoản 2 và khoản 4 Điều 91, Điều 92, Điều 96, khoản 3 Điều 144, Điều 147, Điều 244, Điều 266, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 468, Điều 471 của Bộ luật dân sự 2015; Điều 37 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T.

Buộc bà Nguyễn Hoa M và ông Trương Hoàng G trả cho bà Nguyễn Thị T, số tiền 155.000.000 đồng (Một trăm năm mươi lăm triệu đồng).

Kể từ ngày bà Nguyễn Thị T có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà Nguyễn Hoa M và ông Trương Hoàng G không thi hành xong khoản tiền trên, bà Nguyễn Hoa M và ông Trương Hoàng G còn phải chịu thêm khoản tiền lãi phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả.

  1. Về án phí: Bà Nguyễn Hoa M và ông Trương Hoàng G phải nộp số tiền 7.750.000 đồng (Bảy triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng); bà Nguyễn Thị T được miễn toàn bộ án phí theo quy định của pháp luật.
  2. Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án này trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn được quyền kháng cáo bản án này trong hạn luật định là 15 ngày kể nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau;
  • - Viện kiểm sát nhân dân H. Trần Văn Thời;
  • - Chi cục thi hành án dân sự H. Trần Văn Thời;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Văn Đen

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 278/2024/DS-ST ngày 10/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hợp đồng góp hụi

  • Số bản án: 278/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng góp hụi
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị T khởi kiện hụi
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger