TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 278/2024/DS-ST
Ngày 21-8-2024
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Thi.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Hữu Tấn - bà Phan Thị Yến.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Ngọc Ký – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tham gia phiên tòa: Bà Trần Yến Thương – Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 348/2024/TLST-DS ngày 12 tháng 6 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 498/2024/QĐXXST-DS, ngày 15 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Hồng D, sinh năm 1982 (có mặt).
Địa chỉ: Số A Y, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
Đại diện theo ủy quyền ông Nguyễn Tín E, sinh năm 1992. Địa chỉ: Ấp B, xã H, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt).
- Bị đơn:
+ Bà Trần Thị Nầy Y, sinh năm 1960 (vắng mặt).
+ Ông Nguyễn Ngọc S, sinh năm 1963 (vắng mặt).
Địa chỉ: Khóm B, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung vụ án nguyên đơn bà Trần Thị Hồng D trình bày:
Vào ngày 28/5/2024, bà có ký hợp đồng vay với bà Trần Thị Nầy Y và ông Nguyễn Ngọc S, theo đó bà Y, ông S có vay của bà số tiền 1.750.000.000 đồng, mục đích vay đáo hạn cho Quỹ tín dụng M, thời hạn 02 ngày, kể từ ngày 28/5/2024 đến ngày 29/5/2024, với phương thức trả vay 01 lần sau khi hết hạn hợp đồng và trả lãi sau khi được giải ngân.
Đến nay đã quá thời hạn trả vốn, lãi nhưng bà Trần Thị Nầy Y và ông Nguyễn Ngọc S vẫn chưa thanh toán cho bà, bà nhiều lần nhắc nhở nhưng vẫn không thực hiện.
Nay khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên buộc bà Trần Thị Nầy Y và ông Nguyễn Ngọc S phải trả cho bà số tiền vốn gốc là 1.750.000.000 đồng và lãi theo quy định từ ngày 28/5/2024 cho đến ngày xét xử vụ án. Và tiếp tục tính lãi sau ngày xét xử sơ thẩm đến ngày thi hành án xong.
Bà D thừa nhận có nhận của bà Y, ông S lãi 04 lần là 31.000.000 đồng. Tuy thỏa thuận thời hạn 02 ngày, lãi suất 0,5%/ngày, nhưng hết thời hạn 02 ngày bị đơn không trả vốn gốc mà cứ tự động chuyển lãi cho bà hoài, bà thường liên hệ đòi trả vốn thì cố tình né tránh.
Nay yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Y, ông S phải trả vốn 1.750.000.000 đồng, tiền lãi theo mức lãi suất quy định là 20%/năm từ 28/5/2024 cho đến này ngày xét xử sơ thẩm và tiếp tục tính lãi sau ngày xét xử sơ thẩm cho đến ngày thi hành án xong theo mức lãi suất 20%/năm. Đồng ý khấu trừ lãi nộp vượt vào vốn. Bà thừa nhận có nhận Bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS04959, ngày 18/7/2022 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp cho Nguyễn Ngọc S, bà Trần Thị Nầy Y, không có trang bổ sung Giấy chứng nhận.
Bị đơn bà Trần Thị Nầy Y, ông Nguyễn Ngọc S trình bày tại đơn xin tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải vắng mặt như sau: Ông bà xác nhận có hỏi vay tiền của bà Trần Thị Hồng D với số tiền 1.750.000.000 đồng để đáo hạn Quỹ tín dụng M. Cán bộ tín dụng cũng đảm bảo với ông bà và bà D sẽ cho vay lại, lãi suất 0,5%/ngày, thời hạn là 02 ngày. Sau đó, Quỹ tín dụng Mỹ P không cho vay lại. D đã giữ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông bà từ đó cho đến nay. Ông bà đóng lãi cho bà D từ ngày 28/5/2024 đến ngày 31/5/2024 được 31.000.000 đồng. Do bà D giữ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên ông bà không thể vay tiền để trả cho bà D. Lãi suất thỏa thuận là 0,5%/ngày là 15%/tháng là 180%/năm, cao gấp 05 lần lãi suất quy định, ông bà đóng lãi cho D được 31.000.000 đồng. Đây là hành vi có dấu hiệu vi phạm tội “Cho vay năng lãi trong giao dịch dân sự”. Do đó, đề nghị xét khấu trừ lãi ông bà đã đóng và xin cho trả chậm.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Và đồng ý khấu trừ số tiền lãi nộp vượt vào vốn. Tự nguyện trả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lại cho bà Y, ông S.
Bị đơn bà Trần Thị Nầy Y và ông Nguyễn Ngọc S vắng mặt không lý do.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo luật định. Nguyên đơn chấp hành đúng quy định pháp luật tại Điều 70 và Điều 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; bị đơn bà Trần Thị Nầy Y và ông Nguyễn Ngọc S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt là không chấp hành đúng quy định pháp luật tại Điều 70 và Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, nên Tòa án tiến hành xét xử vụ án là phù hợp quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án:
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP, ngày 11/01/2019.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Hồng D.
- Buộc bà Trần Thị Nầy Y và ông Nguyễn Ngọc S phải có nghĩa vụ trả cho bà Trần Thị Hồng D số tiền vốn gốc là 1.750.000.000 đồng và tiền lãi từ ngày 28/5/2024 cho đến ngày xét xử sơ thẩm theo mức lãi suất 20%/năm và tiếp tục tính sau ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong.
- Đề nghị đương sự chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án: Biên nhận nợ; các giấy báo nợ; chứng từ chuyển khoản....
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự là về hợp đồng vay tài sản; bị đơn có địa chỉ thường trú tại địa bàn thành phố L, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.2] Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần và tống đạt thông báo thụ lý, quyết định đưa vụ án ra xét xử và các văn bản tố tụng khác đúng quy định nhưng bị đơn vắng mặt không lý do không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án là phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung vụ án: Theo nội dụng vụ án thể hiện bà Y, ông S có vay bà D số tiền 1.750.000.000 đồng, lãi suất 0.5%/ngày, thời hạn 02 ngày. Để đảm bảo cho khoản tiền vay bà Y, ông S đã giao cho bà D Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS04959, ngày 18/7/2022 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp cho bà Y, ông S. Quá trình thực hiện hợp đồng bà Y, ông S đã đóng lãi được 31.000.000 đồng.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Hội đồng xét xử nhận định: Tại Hợp đồng cho vay tiền ghi số tiền vay 1.750.000.000 đồng, lãi suất 0.5%/ngày, thời hạn 02 ngày (từ ngày 28/5/2024 đến ngày 29/5/2024 và không ghi có tài sản thế chấp, nhưng các bên đều thừa nhận bà D có giữ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Y, ông S. Đây là tình tiết sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Do đó, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định hợp đồng vay tài sản giữa bà D với bà Y, ông S là hợp đồng vay có thời hạn và có lãi và có thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Hợp đồng vay tài sản giữa các bên được xác lập trên cơ sở tự do, tự nguyện thỏa thuận, không bị ép buộc, không bị lừa dối, có nội dung và hình thức không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, phù hợp với quy định của pháp luật tại Điều 116, Điều 117, Điều 118, Điều 119, Điều 275, Điều 463 của Bộ luật Dân sự năm 2015, nên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự giữa các bên. Do các bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu các bị đơn trả số tiền vốn 1.750.000.000 đồng là có căn cứ phù hợp quy định pháp luật tại khoản 1 Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Mặc dù các bên thỏa thuận lãi suất 0,5%/ngày, nhưng khi khởi kiện tại Tòa án thì bà D yêu cầu tính lãi theo mức lãi suất 20%/năm và yêu cầu tính tiếp tục tính lãi kể từ ngày 22/8/2024 cho đến khi thi hành án xong là phù hợp quy định tại khoản 1 và điểm a khoản 5 Điều 466, khoản 1 Điều 468 và Điều 470 của Bộ luật Dân sự 2015; điểm a khoản 1 Điều 13 của Nghị quyết số: 01/2019/NQ-HĐTP, ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, nên Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
Bản tự khai ngày 25/6/2024 của bà Trần Thị Nầy Y, ông Nguyễn Ngọc S trình bày đóng lãi được 04 ngày (ngày 28/5/2024, ngày 29/5/2024, ngày 30/5/2024 và ngày 31/5/2024) với số tiền 31.000.000 đồng. Bà D thừa nhận có nhận số tiền lãi 04 ngày với số tiền 31.000.000 đồng, đồng ý khấu trừ số tiền lãi nộp vượt vào vốn.
Số tiền tính cụ thể như sau:
* Số tiền lãi theo quy định pháp luật từ ngày 28/5/2024 - 31/5/2024 là 04 ngày với mức lãi suất 20%/năm:
1.750.000.000 đồng x 20%/năm x 4 ngày = 3.835.616 đồng.
Số tiền lãi đóng vượt: 31.000.000 đồng - 3.835.616 đồng = 27.164.384₫.
Số tiền lãi đóng vượt khấu trừ vào vốn: 1.750.000.000 đồng - 27.164.384 đồng = 1.722.835.616 đồng. Vậy vốn còn 1.722.835.000 đồng (làm tròn).
* Số tiền lãi theo quy định pháp luật từ ngày 01/6/2024 đến 21/8/2024 là 82 ngày với mức lãi suất 20%/năm:
1.722.835.000 đồng x 20%/năm x 82 ngày = 77.409.000 đồng.
Tộng cộng vốn, lãi là 1.722.835.000 đồng + 77.409.000 đồng = 1.800.244.000 đồng.
Bà Y, ông S có nghĩa vụ trả cho bà D số tiền này và lãi phát sinh từ ngày 22/8/2024 cho đến khi thi hành án xong.
Việc bà D giữ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Y, ông S thì bản chất là hình thức thế chấp tài sản để đảm bảo cho hợp đồng vay nêu trên, nhưng các bên không ký kết hợp đồng thế chấp, không công chứng hợp đồng, không đăng ký giao dịch bảo đảm nên giao dịch này không phù hợp pháp luật. Bà D đồng ý giao trả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lại cho bà Y, ông S. Xét thấy đây là sự tự nguyện của đương sự, phù hợp quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm
Do vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên bà Trần Thị Nầy Y, ông Nguyễn Ngọc S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định trên số tiền bị buộc trả (1.800.244.000 đồng) là 66.007.000 đồng.
Với yêu cầu được chấp nhận bà D được nhận lại toàn bộ tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 116, Điều 117, Điều 118, Điều 119, Điều 275, Điều 288, Điều 463, khoản 1 và điểm a khoản 5 Điều 466, khoản 1 Điều 468 và Điều 470 Bộ luật Dân sự 2015;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 13 của Nghị quyết số: 01/2019/NQ-HĐTP, ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Căn cứ khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện bà Trần Thị Hồng D đối với bà Trần Thị Nầy Y, ông Nguyễn Ngọc S:
Buộc bà Trần Thị Nầy Y, ông Nguyễn Ngọc S có nghĩa vụ trả cho bà Trần Thị Hồng D số tiền 1.800.244.000 đồng.
Kể từ ngày 22/8/2024 cho đến khi thi hành án xong bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất 20%/năm.
2. Bà Trần Thị Hồng D có nghĩa vụ trả cho bà Trần Thị Nầy Y, ông Nguyễn Ngọc S bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS04959, ngày 18/7/2022 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp cho ông Nguyễn Ngọc S và bà Trần Thị Nầy Y (không có trang bổ sung giấy chứng nhận).
3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Bà Trần Thị Nầy Y, ông Nguyễn Ngọc S phải chịu 66.007.000 đồng án phí.
- Bà Trần Thị Hồng D được nhận lại 32.250.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số: 0002192 ngày 11 tháng 6 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên.
4. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đối với đương sự vắng mặt thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Phan Thị Yến Đặng Hữu Tấn | Lê Thị Hồng Thi |
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Lê Thị Hồng Thi |
Bản án số 278/2024/DS-ST ngày 21/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 278/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà D kiện bà Y, ông S
