Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NHƠN TRẠCH

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 278/2023/HS-ST.

Ngày: 17-11-2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH, TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hường.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Dương Thị Thúy Hằng.

2. Bà Trần Thanh Phương.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn tham gia phiên tòa: Ông Vũ Đình Tứ – Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 280/2023/HSST ngày 27 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 396/2023/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2023 đối với các bị cáo:

1. Trần Phi H. Giới tính: Nam.

Sinh ngày 04/10/2000. Tại Đồng Nai.

Nơi cư trú: ấp G, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai.

Nghề nghiệp: Không.

Trình độ học vấn: 08/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn D, sinh năm 1979 và bà Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1979; Bị cáo là con thứ nhất trong gia đình có 02 anh em và chưa có vợ, con.

Tiền sự, tiền án: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/6/2023 và chuyển tạm giam đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện N.

2. Hoàng Ngọc T1. Giới tính: Nam.

Sinh ngày 04/8/1998. Tại Đồng Nai.

Nơi cư trú: ấp V, xã V, huyện N, tỉnh Đồng Nai.

Nghề nghiệp: Không.

Trình độ học vấn: 05/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hoàng Ngọc M, sinh năm 1960 và bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1967; Bị cáo là con út trong gia đình có 04 anh chị em và chưa có vợ, con.

Tiền sự, tiền án: Không có.

Nhân thân: Ngày 14/8/2017, bị Tòa án nhân dân huyện thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 05 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, buộc

nộp 200.000 đồng án phí HSST theo Bản án hình sự sơ thẩm số 62/2017/HSST, T1 chấp hành án xong hình phạt tù vào ngày 01/01/2021 và đã đóng 200.000 đồng án phí HSST vào ngày 25/9/2017.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/6/2023 và chuyển tạm giam đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện N.

3. Lê Hải L. Giới tính: Nam.

Sinh ngày 20/6/2000. Tại Kiên Giang.

Nơi cư trú: ấp C, xã N, huyện G, tỉnh Kiên Giang.

Chỗ ở hiện nay: ấp T, xã V, huyện N, tỉnh Đồng Nai.

Nghề nghiệp: Không.

Trình độ học vấn: 06/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Quốc V, sinh năm 1964 và bà Lý Thị Cẩm H1, sinh năm 1968; Bị cáo là con út trong gia đình có 04 chị em.

Bị cáo có vợ tên Lê Thị Mai P, sinh năm 1996 và có 01 con sinh năm 2021.

Tiền sự: Không.

Tiền án: Ngày 22/9/2020, bị Tòa án nhân dân Quận 2, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”, buộc bồi thường cho anh Nguyễn Văn H2 số tiền 7.110.841 đồng; nộp 200.000 đồng án phí HSST và 355.500 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo Bản án hình sự sơ thẩm số 66/2020/HSST, L chấp hành án xong hình phạt tù vào ngày 31/3/2022.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/6/2023 và chuyển tạm giam đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện N.

4. Trần Minh H3 (tên gọi khác: Hải Nghị). Giới tính: Nam.

Sinh ngày 26/9/1979. Tại Đồng Nai.

Nơi cư trú: ấp V, xã V, huyện N, tỉnh Đồng Nai.

Nghề nghiệp: Không.

Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn T3, sinh năm 1958 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1960; Bị cáo là con thứ nhất trong gia đình có 05 anh em. Bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị Bảo X, sinh năm 1979 và có 03 con, lớn nhất sinh năm 2003, nhỏ nhất sinh năm 2013.

Tiền sự, tiền án: Không có.

Nhân thân: Ngày 11/4/2013, bị bắt đưa đi cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm C. Đến năm 2015, chấp hành xong.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/6/2023 và chuyển tạm giam đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện N.

(Các bị cáo có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Phi H, Hoàng Ngọc T1, Lê Hải LTrần Minh H3 là những đối tượng sử dụng trái phép ma túy. Để có tiền tiêu xài và sử dụng ma túy, H nảy sinh ý định

mua ma túy của một người phụ nữ tên V1 (không rõ nhân thân, lai lịch) về bán kiếm lời. H rủ T1, LH3 phụ giúp bán ma túy cho H và hứa trả công T1L mỗi người 200.000 đồng/ngày và hứa cho H3 ma túy để sử dụng, tất cả đồng ý. Để thực hiện việc mua bán ma túy, H sử dụng 01 ki ốt đặt ở ấp T, xã P, huyện N làm nơi cất giấu và bán ma túy cho các con nghiện và phân công nhiệm vụ cho T1L trực tiếp giao dịch thỏa thuận giá cả bán ma túy cho các con nghiện còn H3 thì có nhiệm vụ đứng ngoài cảnh giới và hướng dẫn các con nghiện vào trong ki ốt gặp H, T1L để mua ma túy.

Vào khoảng 06 giờ ngày 19/6/2023, H mang theo 18 đoạn ống hút nhựa và 06 gói túi zip bằng nylon bên trong có chứa ma túy đến ki ốt gặp T1, LH3 để cùng nhau bán ma túy cho các con nghiện. Đến khoảng 06 giờ 10 phút cùng ngày, Trần Minh Đ (sinh năm 1989) vào trong ki ốt gặp T1 hỏi mua ma túy, T1 nói giá 100.000 đồng 01 tép nhưng Đáng chỉ có 85.000 đồng nên T1 không đồng ý bán cho Đ. H3 nói với Đ “tình hình đang khó khăn mà đưa thiếu tiền thì sao mà bán được”. Đáng năn nỉ T1, nên T1 đồng ý bán cho Đ 01 gói ma túy với giá 85.000 đồng. T1 lấy tiền của Đ đưa cho H, H lấy tiền và ném 01 gói túi zip bằng nylon bên trong có chứa ma túy ra ngoài cho Đ.

Đến khoảng 06 giờ 20 phút cùng ngày, Phạm Duy T4 (sinh năm 1982) và Cao Văn M1 (sinh năm 1987) đến ki ốt gặp L để mua ma túy. T4 đưa cho L 200.000 đồng, L cầm tiền đưa cho H, H đưa 02 đoạn ống hút nhựa bên trong có chứa ma túy đưa cho T4. Khi T4M1 vừa đi ra khỏi ki ốt thì bị Công an xã P phối hợp với Đ1 Công an huyện N bắt quả tang.

Tại Bản kết luận giám định ma túy số: 1284/KLGĐ-PC09 ngày 26/9/2023 của phòng K Công an tỉnh Đ kết luận:

+ Mẫu chất bột màu trắng được niêm phong có chữ kí của Trần Phi H, Hoàng Ngọc T1, Trần Minh H3, Lê Hải L, Lê Văn H4 và hình dấu tròn màu đỏ Công an xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai (ký hiệu M) gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 1,1909 gam loại: Heroin (Heroine).

+ Mẫu chất bột màu trắng được niêm phong có chữ kí của Lê Văn H4, 02 (hai) hình dấu vân tay màu đỏ ghi trỏ trái trỏ phải của Cao Văn M1 và hình dấu tròn màu đỏ Công an xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai (ký hiệu M) gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 0,0841 gam loại: Heroin (Heroine).

* Vật chứng vụ án:

- Thu giữ trên tay Phạm Duy T4 02 (hai) đoạn ống hút có kích thước khoảng 1cm, được hàn kín hai đầu, bên trong chứa chất bột màu trắng thu giữ trên tay của Phạm Duy T4, T4 khai nhận đó là ma túy (heroin) T4M1 hùn tiền mua để sử dụng (có biên bản niêm phong kèm theo).

- Thu giữ trong ki ốt 16 (mười sáu) đoạn ống hút nhựa được hàn kín hai đầu, có kích thước khoảng 1cm, bên trong có chứa các chất bột màu trắng và 05 (năm)

gói nylon dạng túi díp có kích thước khoảng 01x1,5cm, bên trong có chứa chất bột màu trắng (các đối tượng Trần Phi H, Hoàng Ngọc T1, Lê Hải L, Trần Minh H3 khai nhận đó là ma túy (heroin) của các đối tượng để bán cho các con nghiện).

- Số tiền 924.000 (chín trăm hai mươi bốn nghìn đồng).

Vật chứng không liên quan đến việc phạm tội: Cơ quan CSĐT đã trả 01 (một) xe môtô biển số: 60Y7-3806 cho bà Nguyễn Thị Ngọc H5.

Trước Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với biên bản bắt người có hành vi phạm tội cùng các tình tiết, vật chứng, chứng cứ, tài liệu đã được thu thập tại hồ sơ vụ án.

Tại bản cáo trạng số 267/CT-VKS-NT ngày 25/10/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch đã truy tố các bị cáo: Trần Phi H, Hoàng Ngọc T1, Lê Hải L, Trần Minh H3 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đối với các bị cáo về tội danh nêu trên; Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Riêng bị cáo Trần Phi H tuổi đời còn trẻ hạn chế nhận thức pháp luật, phạm tội lần đầu nên đề nghị xem xét khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo Lê Hải L thuộc trường hợp tái phạm nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng quy định theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt các bị cáo Trần Phi H mức án từ 08 năm tù đến 09 năm tù, Lê Hải L mức án từ 08 năm tù đến 09 năm tù, Hoàng Ngọc T1 mức án từ 07 năm 06 tháng tù đến 08 năm tù, Trần Minh H3 mức án từ 07 năm tù đến 07 năm 06 tháng tù.

Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Tòa tuyên:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) gói ma túy được niêm phong số: 1284/KL-KTHS ngày 28/6/2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ.

- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 924.000 (Chín trăm hai mươi bốn nghìn đồng) của Trần Phi H là tiền thu lợi bất chính từ việc phạm tội.

Đối với người phụ nữ tên V1 có hành vi bán ma túy cho H, do chưa rõ nhân thân nên Cơ quan CSĐT tách ra tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.

Đối với đối tượng Phạm Duy T4, Cao Văn M1 có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Qua giám định có khối lượng: 0,0841 gam loại: Heroin (Heroine) chưa đủ định lượng để khởi tố về tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. T4M1 chưa bị xử phạt hành chính về hành vi quy định tại Điều này, chưa bị kết án về tội này hoặc một trong các tội quy định tại các điều 248, 250, 251 và 252 của Bộ luật hình sự. Do đó, Cơ quan CSĐT tiến hành xử phạt hành chính đối với T4M1 về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là phù hợp với quy định của pháp luật.

Đối với đối tượng Trần Minh Đ có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Cơ quan CSĐT tiến hành xử phạt hành chính đối với Đ là phù hợp với quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản Cáo trạng; các bị cáo không tranh luận, bào chữa về hành vi của mình; các bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp biên bản bắt người có hành vi phạm tội cùng các tình tiết, vật chứng, chứng cứ, tài liệu đã được thu thập tại hồ sơ vụ án.

Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận: Các bị cáo đều là những đối tượng nghiện ma tuý. Từ 06 giờ 10 phút đến 06 giờ 20 phút ngày 19/6/2023 tại ấp T, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai, Trần Phi H, Hoàng Ngọc T1, Lê Hải LTrần Minh H3 đã thực hiện hành vi 02 lần bán ma túy. Trong đó bán 01 gói ma túy cho Trần Minh Đ với giá 85.000 đồng và 02 gói ma túy có khối lượng: 0,0841 gam loại: Heroin (H) cho Phạm Duy T4Cao Văn M1. Ngoài ra, H, T1, LH3 còn tang trữ 1,1909 gam loại: Heroin (Heroine) để bán nhưng chưa bán được thì bị bắt.

Bản thân các bị cáo nhận thức được việc mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện và tội phạm đã hoàn thành. Do đó, đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của các bị cáo về tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự, nên Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch đã truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

[2] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:

Xét hành vi của các bị cáo: Hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự an toàn xã hội ở địa phương, gây thiệt hại đến sức khỏe, sự phát triển bình thường của con người do tác hại, mặt trái của ma túy mà các bị cáo đều nhận thức được.

Đây là vụ án đồng phạm, cụ thể như sau:

- Trần Phi H là người thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy với vai trò chủ mưu, cầm đầu.

- Hoàng Ngọc T1Lê Hải L là người giúp sức cho H thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy.

- Trần Minh H3 là người cảnh giới và hướng dẫn các con nghiện vào trong ki ốt gặp H, T1L mua ma túy, đóng vai trò đồng phạm giúp sức cho H.

Bị cáo Lê Hải L có 01 tiền án chưa được xóa án tích là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo Hoàng Ngọc T1 còn có 01 nhân thân xấu. Do đó, cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo nêu trên mới có tác dụng răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.

Đồng thời, Hội đồng xét xử có xem xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo đã thành khẩn khai báo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đủ để các bị cáo nhận thức, cải tạo, giáo dục trở thành công dân lương thiện, có ích cho xã hội, bên cạnh sự răn đe và phòng ngừa chung của chính sách pháp luật hình sự và sự khoan hồng của Nhà nước.

[3] Về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng vụ án:

Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) gói ma túy được niêm phong số: 1284/KL-KTHS ngày 28/6/2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ.

- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 924.000 (Chín trăm hai mươi bốn nghìn đồng) của Trần Phi H là tiền thu lợi bất chính từ việc phạm tội.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản và biên lai thu tiền số 0002612 ngày 30/10/2023 giữa Cơ quan điều tra Công an huyện N và Cơ quan Thi hành án dân sự huyện N).

[4] Về án phí: Các bị cáo Trần Phi H, Hoàng Ngọc T1, Lê Hải L, Trần Minh H3 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[5] Vấn đề khác:

Đối với người phụ nữ tên V1 có hành vi bán ma túy cho H, do chưa rõ nhân thân nên Cơ quan CSĐT tách ra tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.

Đối với đối tượng Phạm Duy T4, Cao Văn M1 có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Qua giám định có khối lượng: 0,0841 gam loại: Heroin (Heroine) chưa đủ định lượng để khởi tố về tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. T4M1 chưa bị xử phạt hành chính về hành vi quy định tại Điều này, chưa bị kết án về tội này hoặc một trong các tội quy định tại các điều 248, 250, 251 và 252 của Bộ luật hình sự. Do đó, Cơ quan CSĐT tiến hành xử phạt hành chính đối với T4M1 về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là phù hợp với quy định của pháp luật.

Đối với đối tượng Trần Minh Đ có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Cơ quan CSĐT tiến hành xử phạt hành chính đối với Đ là phù hợp với quy định của pháp luật.

[6] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực

hiện đều hợp pháp, đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51; các điều 17, 58 và Điều 38, riêng bị cáo Lê Hải L áp dụng thêm điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

* Tuyên bố các bị cáo Trần Phi H, Hoàng Ngọc T1, Lê Hải L, Trần Minh H3 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Trần Phi H 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 19/6/2023.

Xử phạt bị cáo Lê Hải L 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 19/6/2023.

Xử phạt bị cáo Hoàng Ngọc T1 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 19/6/2023.

Xử phạt bị cáo Trần Minh H3 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 19/6/2023.

Về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng vụ án:

Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) gói ma túy được niêm phong số: 1284/KL-KTHS ngày 28/6/2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ.

- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 924.000 (Chín trăm hai mươi bốn nghìn đồng) của Trần Phi H là tiền thu lợi bất chính từ việc phạm tội.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản và biên lai thu tiền số 0002612 ngày 30/10/2023 giữa Cơ quan điều tra Công an huyện N và Cơ quan Thi hành án dân sự huyện N).

Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo Trần Phi H, Lê Hải L, Hoàng Ngọc T1Trần Minh H3 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND H. Nhơn Trạch;
  • - Công an H. Nhơn Trạch;
  • - Chi cục THADS H. Nhơn Trạch;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 278/2023/HS-ST ngày 17/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH, TỈNH ĐỒNG NAI về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 278/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: TRẦN PHI H VÀ ĐỒNG PHẠM mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger