|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ BIÊN HOÀ TỈNH ĐỒNG NAI |
Độc lập - Tự do- Hạnh phúc |
Bản án số: 278/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 11- 8 - 2023
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HOÀ, TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Trần Trúc Thuỷ
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Trần Văn Tam.
- Bà Hoàng Thị Mai.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nhàn - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huỳnh Như - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 920/2023/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 4 năm 2023, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 238/2023/QĐXXST - HNGĐ, ngày 21 tháng 6 năm 2023, Quyết định hoãn phiên toà số 323/2023/QĐST-HNGĐ ngày 19 tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Võ Thị Kim P, sinh năm 1978.
Địa chỉ: K, khu phố C, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1973.
Địa chỉ: K, khu phố C, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
(Các đương sự vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Võ Thị Kim P trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông T tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật và được UBND phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 186 ngày 21 tháng 12 năm 2004. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng về quan điểm sống, vợ chồng không còn tôn trọng lẫn nhau. Bà và ông T đã nhiều lần tìm cách giải quyết mâu thuẫn nhưng không có kết quả. Nay bà nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà xin được ly hôn với ông T.
Về con chung: Bà P, ông T có 02 con chung là cháu Nguyễn Võ Ngọc N, sinh ngày 02/5/2005 và cháu Nguyễn Võ Hoàng P1, sinh ngày 07/10/2018. Ly hôn, bà P yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cháu P1, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung. Cháu N đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Bà xin xét xử vắng mặt do bận công việc.
* Bị đơn ông Nguyễn Ngọc T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không có ý kiến, không đến Tòa án tham gia tố tụng.
* Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai, có yêu cầu giải quyết vắng mặt nên nguyên đơn thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn vắng mặt suốt quá trình tố tụng không có lý do nên không thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà P.
Về con chung: Giao cháu Nguyễn Võ Hoàng P1 cho bà P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Tạm thời ông T không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Cháu N đã trưởng thành nên không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung: Bà P trình bày tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết, ông T chưa có ý kiến nên không xem xét giải quyết.
Về nợ chung: Bà P trình bày không có không yêu cầu Tòa án giải quyết, ông T chưa có ý kiến nên không xem xét giải quyết.
Về án phí: Bà P phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Bà Võ Thị Kim P khởi kiện về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” đối với bị đơn là ông Nguyễn Ngọc T. Ông T có nơi cư trú tại K, khu phố C, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.
Toà án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông T đến Tòa án để làm việc, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải, phiên toà xét xử nhưng ông T vẫn vắng mặt không có lý do; Nguyên đơn bà P có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 207, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với bà P, ông T.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà P và ông T kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được UBND phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 186 ngày 21 tháng 12 năm 2004, nên là hôn nhân hợp pháp theo Điều 9, Điều 11 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 nên được pháp luật công nhận, bảo vệ.
Theo trình bày của bà P thì quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc thời gian đầu. Sau đó phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng về quan điểm sống, thường xuyên xảy ra xung đột dẫn đến vợ chồng không còn tôn trọng lẫn nhau. Bà P và ông T đã nhiều lần tìm cách giải quyết mâu thuẫn nhưng không có kết quả, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà P xin được ly hôn với ông T.
Tại văn bản xác minh ngày 18/5/2023, địa phương cung cấp không nắm được thông tin mâu thuẫn giữa bà P, ông T. Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông T đến Tòa án để làm việc, tham gia phiên hòa giải, tham gia phiên tòa nhưng ông T vẫn vắng mặt không có lý do chứng tỏ ông T không có thiện chí trong việc hàn gắn, bảo vệ và duy trì hôn nhân với bà P. Trong khi đó, bà P kiên quyết ly hôn. Xét thấy, mâu thuẫn giữa bà P, ông T đã lâm vào tình trạng trầm trọng. Ông T không có thiện chí hoặc biện pháp để hàn gắn gia đình, mục đích hôn nhân không đạt. Vì vậy, nay bà P xin ly hôn với ông T là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 51, Điều 56, Điều 131 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 nên được chấp nhận.
[2.2] Về con chung: Quá trình chung sống bà P và ông T có 02 con chung là cháu Nguyễn Võ Ngọc N, sinh ngày 02/5/2005 và cháu Nguyễn Võ Hoàng P1, sinh ngày 07/10/2018. Ly hôn, bà P có nguyện vọng được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu P1, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung. Cháu N đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Hiện nay cháu P1 còn nhỏ, cần sự chăm sóc của người mẹ. Vì vậy, để đảm bảo cuộc sống ổn định không ảnh hưởng đến tâm lý của cháu thì tại thời điểm hiện nay việc giao cháu P1 cho bà P trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Vì vậy yêu cầu nuôi dưỡng cháu P1 của bà P là có cơ sở chấp nhận. Cháu N đã trưởng thành có khả năng lao động nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Do bà P không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung, nên tạm thời ông T không phải cấp dưỡng nuôi con. Ông T có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở ông T thực hiện quyền này. Vì quyền lợi của con chung, khi cần thiết các bên được quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
[2.3] Về tài sản chung: Bà P trình bày tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết, ông T chưa có ý kiến nên không xem xét giải quyết.
[2.4] Về nợ chung: Bà P trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, ông T chưa có ý kiến nên không xem xét giải quyết.
[3] Về án phí: Bà P phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
[4] Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hoà thì thấy phù hợp với tài liệu, chứng cứ, quy định pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- - Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147; Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Các Điều 9, 11 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000;
- - Các Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 và Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Kim P.
- - Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Thị Kim P được ly hôn với ông Nguyễn Ngọc T.
- - Về con chung: Giao cháu Nguyễn Võ Hoàng P1, sinh ngày 07/10/2018 cho bà Võ Thị Kim P được trực tiếp chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng. Tạm thời ông Nguyễn Ngọc T không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Cháu Nguyễn Võ Ngọc N, sinh ngày 02/5/2005 đã trưởng thành có khả năng lao động nên không xem xét giải quyết.
- Ông T có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở ông T thực hiện quyền này. Vì quyền lợi của con chung, khi cần thiết các bên được quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con chung và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.
- - Về tài sản chung: Không xem xét giải quyết.
- - Về nợ chung: Không xem xét giải quyết.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Võ Thị Kim P phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn, được khấu trừ vào 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí bà P đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hoà theo biên lai thu số 0007204 ngày 10 tháng 4 năm 2023 (đã nộp xong).
- Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Trần Trúc Thuỷ |
Bản án số 278/2023/HNGĐ-ST ngày 11/08/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HOÀ, TỈNH ĐỒNG NAI về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 278/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/08/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HOÀ, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Võ Thị Kim Phượng và Nguyễn Ngọc Tú ly hôn
