Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 278/2025/HS-PT

Ngày 13 - 6 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Lê Bửu Thiện;

Các Thẩm phán: Ông Trần Vĩnh Yên;

Bà Hà Thị Thanh Nữ.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Hoàn - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Thùy Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 124/2025/TLPT-HS ngày 24 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo Nguyễn Thị P (và đồng phạm); do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị P (và đồng phạm) đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 198/2024/HS-ST ngày 28 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.

- Bị cáo có kháng cáo:

  1. Nguyễn Thị P, sinh năm 1975, tại tỉnh Đồng Nai.

    Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: ấp H, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

    Nghề nghiệp: Buôn bán. Trình độ học vấn: 7/12.

    Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Q: Việt Nam. Giới tính: Nữ.

    Con ông: Nguyễn Văn V và bà Lê Ngọc V1.

    Gia đình có 04 chị em, bị cáo là con thứ 01.

    Chồng Vũ Khắc K. Có 02 người con, lớn nhất sinh năm 1997, nhỏ nhất sinh năm 2001.

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị bắt tạm giữ ngày 29/02/2024 đến ngày 09/3/2024 được hủy bỏ biện pháp tạm giữ. Ngày 12/3/2024 bị bắt tạm giam đến ngày 11/4/2024 được hủy bỏ biện pháp tạm giam. Bị cáo tại ngoại.

  2. Nguyễn Thanh T (tên gọi khác Đ), sinh năm 1993, tại tỉnh Đồng Nai.

    Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Khu phố G, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

    Nghề nghiệp: Nội trợ. Trình độ học vấn: 9/12.

    Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Q: Việt Nam. Giới tính: Nữ.

    Con ông: Nguyễn Thanh T1 và bà Nguyễn Thị T2.

    Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ 01.

    Chồng Giang P1, có 02 con, lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2012.

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Tạm giữ từ ngày 29/02/2024 đến ngày 09/3/2024, được huỷ bỏ biện pháp tạm giữ. Bị cáo tại ngoại.

  3. Nguyễn Quốc T3 (tên gọi khác Toàn B), sinh năm 1994, tại tỉnh Đồng Nai.

    Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: ấp E, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

    Nghề nghiệp: Công nhân. Trình độ học vấn: 9/12.

    Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Q: Việt Nam. Giới tính: Nam.

    Con ông: Nguyễn Trịnh Q và bà Nguyễn Bích P2.

    Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ 01.

    Chưa có vợ con.

    Tiền án: Không.

    Tiền sự: Ngày 03/8/2023, bị Công an huyện L xử phạt 3.500.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

    Nhân thân: Ngày 30/9/2016, bị Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai xử phạt 06 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Bản án số 130/2016/HSST.

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 29/02/2024 đến ngày 09/3/2024 được hủy bỏ biện pháp tạm giữ. Ngày 12/3/2024 bị bắt tạm giam đến ngày 11/4/2024 được hủy bỏ biện pháp tạm giam. Bị cáo tại ngoại.

  4. Bùi Thị Tuyết N, sinh năm 1993, tại tỉnh Đồng Nai.

    Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: tổ E, ấp H, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

    Nghề nghiệp: Làm thuê. Trình độ học vấn: 09/12.

    Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Q: Việt Nam. Giới tính: Nữ.

    Con ông: Bùi Văn H và bà Nguyễn Thị M.

    Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ 02.

    Sống như vợ chồng với Bùi Tiến L.

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo tại ngoại.

(Bị cáo P, T, T3, N có mặt).

Trong vụ án còn có bị cáo khác, nhưng không có kháng cáo và không bị kháng nghị; Toà án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

  1. Nội dung chính của vụ án:
  2. Vào khoảng 21 giờ 45 phút ngày 28/02/2024, tại nhà của Nguyễn Thị P ở ấp H, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai, Công an huyện L phối hợp cùng Công an xã P bắt quả tang Phan Thị Hồng L1, Bùi Thị Tuyết N, Bùi Tiến L, Nguyễn Quốc T3, Lương Tấn T4, Nguyễn Thanh T, Nguyễn Hữu T5, Nguyễn Thị C, Nguyễn Thị Ngọc H1, Bạch Thị Thúy H2, Nguyễn Hoàng V2 và Nguyễn Văn T6 đang có hành vi đánh bạc được thua bằng tiền bằng hình thức đánh bài Xì dách (Xì lát). Thu giữ trên chiếu bạc 18.800.0000 đồng, 02 bộ bài dùng để đánh bạc đã qua sử dụng, 03 bộ bài loại bài tây 52 lá chưa qua sử dụng, 01 cái đĩa màu xanh, 01 cái chăn màu vàng, 01 cái lon nhựa bên trong có 300.000 đồng (tiền xâu) và 28.300.000 đồng thu giữ trên người các đối tượng sử dụng vào việc đánh bạc, 01 xe mô tô biển số 47M1-985.87; 01 xe mô tô biển số 60G1-566.30 và 01 xe mô tô biển số 72C1-231.65.

    Quá trình điều tra xác định như sau:

    Nguyễn Thị P mở quán bán quán nước tại nhà của P ở ấp H, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai. Quá trình buôn bán thấy có một số người đến uống nước có nhu cầu đánh bạc thắng thua bằng tiền, hình thức đánh bài Xì dách nên P đã sử dụng căn nhà của P làm địa điểm và cung cấp Bài cho các đối tượng đánh bạc mục đích thu tiền xâu của người làm cái mỗi lần (từ 05 đến 06 ván) thu số tiền từ 50.000 đồng đến 100.000 đồng.

    Số người tham gia đánh bạc và số tiền dùng đánh bạc tại nhà của P ngày 28/02/2024 được xác định: Bùi Thị Tuyết N đem theo và sử dụng 6.000.000 đồng để đánh bạc, N làm cái thắng thua với các người chơi bạc. Trong khi làm cái N có nhờ Bùi Tiến L cùng làm cái chia bài cho N còn N trực tiếp chi trả tiền thắng thua. Những người chơi bạc cùng N và L gồm có Phan Thị Hồng L1 đem theo sử dụng 10.500.000 đồng để đánh bạc, L1 không thắng không thua, khi bị bắt thu giữ trong người Liên 10.500.000 đồng là tiền sử dụng vào việc đánh bạc; Nguyễn Thanh T đem theo sử dụng 8.100.000 đồng để đánh bạc, Trà thua 300.000 đồng, thu của giữ của T 7.800.000 đồng là tiền sử dụng vào việc đánh bạc; Nguyễn Quốc T3 đem theo sử dụng 8.000.000 đồng đánh bạc, T3 đánh bạc chung tụ với Lương Tấn T4, T3 thua 1.300.000 đồng, bị thu giữ 6.700.000 đồng là tiền sử dụng vào việc đánh bạc; Nguyễn Hoàng V2 đem theo sử dụng 400.000 đồng để đánh bạc và thua 200.000 đồng thu giữ của V2 200.000 đồng là tiền sử dụng vào việc đánh bạc; Nguyễn Hữu T5 đem theo sử dụng 2.000.000 đồng để đánh bạc, thua 1.000.000 đồng, thu giữ của T5 1.000.000 đồng là tiền sử dụng vào việc đánh bạc; Bạch Thị Thúy H2 đem theo sử dụng 600.000 đồng để đánh bạc và thua hết; Nguyễn Thị C đem theo sử dụng 1.200.000 đồng đánh bạc, thắng 100.000 đồng, thu giữ của Chúc 1.300.000 đồng tiền sử dụng vào việc đánh bạc; Nguyễn Văn T6 đem theo sử dụng 400.000 đồng đánh bạc và thua hết; Nguyễn Thị Ngọc H1 đem theo sử dụng 800.000 đồng đánh bạc, thua 600.000 đồng, thu giữ của H1 200.000 đồng tiền sử dụng vào việc đánh bạc.

    Hình thức đánh bạc và tỷ lệ thắng thua như sau: Mỗi người tham gia đánh bạc được người làm cái chia 02 lá bài (loại bài tây 52 lá) sau đó mỗi người tùy vào điểm số 02 lá bài của mình để tùy ý rút thêm lá bài tiếp theo hay không, cách tính điểm như sau: Các lá bài 2,3,4,5,6,7,8,9,10 thì có điểm số tương ứng với số trên lá bài, các lá bài J,Q,K thì mỗi lá bài được tính 10 điểm, ai có lá bài Xì (A) có thể tính điểm 01, 10 hoặc 11. Nếu 02 lá bài AA là gọi là Xì bàng, nếu 01 lá bài là A và kèm theo một trong các lá bài số 10, j, Q, K thì được gọi là Xì D, nếu người làm cái rút được các lá bài như trên thì sẽ thắng những người chơi còn lại, trường hợp người chơi nào có bài giống hoặc cao hơn người làm cái thì hòa hoặc thắng. Sau khi rút 02 lá bài người chơi có thể rút thêm hoặc dừng lại làm sao số điểm nằm trong khoảng 16 điểm đến 21 điểm. Bài dưới 16 điểm gọi là bài non, bài từ 16 điểm đến 21 điểm là bài đủ điểm, bài trên 21 điểm là quắc (cháy). Người chơi phải có số điểm từ 16 điểm trở lên trước khi nhà cái kiểm bài tính điểm thắng thua ai cao hơn thì thắng. Mỗi ván người tham gia đặt số tiền đánh bạc mức thấp nhất là 50.000 đồng và cao nhất là 100.000 đồng.

    Trong quá trình tổ chức đánh bạc, P thỏa thuận thu tiền xâu của người làm cái mỗi đợt làm cái 06 ván bài là 50.000 đồng và nếu cái thắng thu 100.000 đồng. Ngày 28/02/2024 P đã thu được 700.000 đồng tiền xâu.

    Ngoài ra, quá trình điều tra Nguyễn Thị P khai trước đó vào ngày 27/02/2024 P có hành vi Tổ chức đánh bạc tương tự như trên. Tuy nhiên không xác định cụ thể những ai tham gia đánh bạc, số tiền đánh bạc bao nhiêu nên không đủ căn cứ xác định truy cứu trách nhiệm hình sự đối với lần này. P khai đã thu lợi 800.000 đồng tiền xâu từ việc tổ chức đánh bạc vào ngày 27/02/2024.

    Vật chứng vụ án:

    • 02 bộ bài dùng để đánh bạc đã qua sử dụng, 03 bộ bài loại bài tây 52 lá chưa qua sử dụng, 01 cái đĩa màu xanh, 01 cái chăn vải màu vàng nhạt, 01 cái lon bằng nhựa.
    • Số tiền 47.400.000 đồng (trong đó 18.800.000 đồng thu trên chiếu bạc, 300.000 đồng tiền xâu thu trong hộp nhựa, 400.000 đồng tiền xâu thu trên người của Nguyễn Thị P, 1.000.000 đồng của Nguyễn Hữu T5, 6.7000.000 đồng của Nguyễn Quốc T3, 10.500.000 đồng của Phan Thị Hồng L1, 200.000 đồng của Nguyễn Hồng V3, 1.300.000 đồng của Nguyễn Thị C1, 400.000 đồng của Nguyễn Văn T6, 7.800.000 đồng của Nguyễn Thanh T).
      • - 01 xe mô tô biển số 47M1-985.87.
      • - 01 xe mô tô biển số 60G1-566.30.
      • - 01 xe mô tô biển số 72C1-231.65.

    Tại Bản Cáo trạng số: 146/CT-VKSLT ngày 24/5/2024 và Quyết định thay đổi, bổ sung Cáo trạng số 201/QĐ/VKSLT ngày 06/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị P về tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm a,c khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Các bị cáo Bùi Thị Tuyết N, Phan Thị Hồng L1, Bùi Tiến L, Nguyễn Quốc T3, Lương Tấn T4, Nguyễn Thanh T, Nguyễn Hữu T5, Nguyễn Thị C, Nguyễn Thị Ngọc H1, Bạch Thị Thúy H2, Nguyễn Hoàng V2 và Nguyễn Văn T6 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

  3. Quyết định của cấp sơ thẩm:
  4. Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 198/2024/HS-ST ngày 28 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai, đã Quyết định:

    Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị P phạm tội “Tổ chức đánh bạc”.

    Xử phạt: Nguyễn Thị P 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào cơ sở giam giữ thi hành án. Nhưng được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam trước từ ngày 29/02/2024 đến ngày 09/3/2024 và từ ngày 12/3/2024 đến ngày 11/4/2024.

    Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s, i, n khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    Tuyên bố bị cáo Bùi Thị Tuyết N phạm tội “Đánh bạc”.

    Xử phạt: Bùi Thị Tuyết N 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào cơ sở giam giữ thi hành án.

    Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Đánh bạc”.

    Xử phạt: Nguyễn Thanh T 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày vào cơ sở giam giữ thi hành án. Nhưng được trừ thời gian bị cáo bị tạm giữ từ ngày 29/02/2024 đến ngày 09/3/2024.

    Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc T3 phạm tội “Đánh bạc”.

    Xử phạt: Nguyễn Quốc T3 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày vào cơ sở giam giữ thi hành án. Nhưng được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam trước từ ngày 29/02/2024 đến ngày 09/3/2024 và từ ngày 12/3/2024 đến ngày 11/4/2024.

    Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về hình phạt đối với các bị cáo khác, vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

  5. Kháng cáo:
    • Ngày 29 tháng 8 năm 2024, bị cáo Nguyễn Thị P kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo.
    • Ngày 29 tháng 8 năm 2024, bị cáo Nguyễn Thanh T kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo.
    • Ngày 29 tháng 8 năm 2024, bị cáo Bùi Thị Tuyết N kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo.
    • Ngày 11 tháng 9 năm 2024, bị cáo Nguyễn Quốc T3 kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu giảm nhẹ hình phạt.
  6. Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phúc thẩm:
  7. Kiểm sát viên đã đánh giá, phát biểu quan điểm xử lý vụ án; Cấp sơ thẩm đã xem xét toàn diện vụ án và áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo, đã xét xử bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng quy định pháp luật; tại cấp phúc thẩm, các bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, các bị cáo chưa bổ sung thêm tài liệu gì mới để xem xét; đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về tố tụng: Đơn kháng cáo của các bị cáo làm trong hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
  2. Về tội danh:
  3. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã nêu. Hồ sơ thể hiện:

    Ngày 28/02/2024, tại quán nước nhà của Nguyễn Thị P ở ấp H, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai. Nguyễn Thị P có hành vi tổ chức cho các người tham gia đánh bạc thắng, thu bằng tiền, P trực tiếp thu tiền xâu của người tham gia đánh bạc. Những người tham gia đánh bạc ngày 28/02/2024 gồm: Bùi Thị Tuyết N đem theo và sử dụng 6.000.000 đồng để đánh bạc, N làm cái thắng thua với các người chơi bạc. Trong khi làm cái N nhờ Bùi Tiến L chia bài giúp cho N khoảng 4-5 ván bài, còn N trực tiếp chi trả tiền thắng thua cho người tham gia đặt tụ. Những người chơi bạc cùng N và L gồm có Phan Thị Hồng L1 đem theo sử dụng 10.500.000 đồng để đánh bạc, L1 không thắng không thua, khi bị bắt thu giữ trong người Liên 10.500.000 đồng là tiền sử dụng vào việc đánh bạc; Nguyễn Thanh T đem theo sử dụng 8.100.000 đồng để đánh bạc, Trà thua 300.000 đồng, thu giữ của T 7.800.000 đồng là tiền sử dụng vào việc đánh bạc; Nguyễn Quốc T3 đem theo sử dụng 8.000.000 đồng đánh bạc, T3 đánh bạc chung tụ với Lương Tấn T4, T3 thua 1.300.000 đồng, bị thu giữ 6.700.000 đồng là tiền sử dụng vào việc đánh bạc; Nguyễn Hoàng V2 đem theo sử dụng 400.000 đồng để đánh bạc và thua 200.000 đồng thu giữ của V2 200.000 đồng là tiền sử dụng vào việc đánh bạc; Nguyễn Hữu T5 đem theo sử dụng 2.000.000 đồng để đánh bạc, thua 1.000.000 đồng, thu giữ của T5 1.000.000 đồng là tiền sử dụng vào việc đánh bạc; Bạch Thị Thúy H2 đem theo sử dụng 600.000 đồng để đánh bạc và thua hết; Nguyễn Thị C đem theo sử dụng 1.200.000 đồng đánh bạc, thắng 100.000 đồng, thu giữ của Chúc 1.300.000 đồng tiền sử dụng vào việc đánh bạc; Nguyễn Văn T6 đem theo sử dụng 400.000 đồng đánh bạc và thua hết; Nguyễn Thị Ngọc H1 đem theo sử dụng 800.000 đồng đánh bạc, thua 600.000 đồng, thu giữ của H1 200.000 đồng tiền sử dụng vào việc đánh bạc.

    Trong quá trình tổ chức đánh bạc, P thỏa thuận thu tiền xâu của nhà cái mỗi đợt làm cái 06 ván là 50.000 đồng và nếu cái thắng thu 100.000 đồng. Ngày 27/02/2024, P thu lợi số tiền 800.000 đồng; ngày 28/02/2024, P đã thu được 700.000 đồng tiền xâu.

    Hành vi trên của bị cáo Nguyễn Thị P đã phạm tội Tổ chức đánh bạc. Hành vi các bị cáo Bùi Thị Tuyết N, Phan Thị Hồng L1, Bùi Tiến L, Nguyễn Quốc T3, Lương Tấn T4, Nguyễn Thanh T, Nguyễn Hữu T5, Nguyễn Thị C, Nguyễn Thị Ngọc H1, Bạch Thị Thúy H2, Nguyễn Hoàng V2 và Nguyễn Văn T6 đã phạm tội “Đánh bạc".

  4. Về kháng cáo:
    1. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
    2. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
      • Cấp sơ thẩm xác định: Bị cáo Nguyễn Thị P, Bùi Thị Tuyết N, Nguyễn Quốc T3, Nguyễn Thanh T thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải nên xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
      • Các bị cáo cáo Bùi Thị Tuyết N, Nguyễn Thanh T phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng theo điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
      • Bị cáo Bùi Thị Tuyết N khi phạm tội là phụ nữ có thai hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm n khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
      • Bị cáo Nguyễn Quốc T3 có tiền sự chưa hết thời gian được xem xét thi hành xong về thời gian không còn là tiền sự, bị cáo lại tiếp tục phạm tội.

      * Sau khi xét xử, Tòa án cấp sơ thẩm đã nhận được đơn kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thị P, Bùi Thị Tuyết N, Nguyễn Quốc T3, Nguyễn Thanh T, xin được giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo;

      + Bị cáo Nguyễn Thị P cung cấp cho Tòa án cấp phúc thẩm, giấy khen mẹ bị cáo được Bộ Y tặng kỷ niệm chương vì sức khỏe nhân dân, giấy khen tặng huy hiệu Đảng của ba bị cáo; bị cáo Bùi Thị Tuyết N cung cấp giấy chứng sinh, giấy khai sinh và giấy ra viện, thể hiện bị cáo sinh con vào ngày 18/7/2024.

    3. Về hình phạt:
    4. Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét đặc điểm về nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ nêu trên; bị cáo Bùi Thị Tuyết N có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ; bị cáo vừa mới sinh con; bị cáo Bùi Thị Tuyết N cung cấp được tình tiết giảm nhẹ mới theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hiện nay, bị cáo Bùi Thị Tuyết N có nghề nghiệp ổn định và có nơi cư trú rõ ràng. Do đó, để thể hiện chính sách khoan hồng và nhân đạo của pháp luật. Căn cứ Điều 65 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/VBHN-TANDTC ngày 07 tháng 9 năm 2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Thị Tuyết N sửa bản án sơ thẩm do có tình tiết mới theo hướng xem xét chuyển sang hình phạt tù cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách, buộc bị cáo chấp hành theo quy định pháp luật.

      Đối với bị cáo Nguyễn Thị P là người đứng ra tổ chức đánh bạc, bị cáo có 02 tình tiết định khung theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự. Bị cáo Nguyễn Quốc T3 là người có tiền sự lại tiếp tục phạm tội mới. Cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt, xét xử mức hình phạt đối với các bị cáo P, T3 như đã nêu trên là phù hợp, nên không có cơ sở xem xét giảm nhẹ hình phạt;

      Bị cáo Nguyễn Thanh T kháng cáo nhưng không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ gì mới. Do vậy, không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thị P, Nguyễn Quốc T3, Nguyễn Thanh T.

  5. Về án phí:
  6. Bị cáo Bùi Thị Tuyết N không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

    Các bị cáo Nguyễn Thị P, Nguyễn Quốc T3, Nguyễn Thanh T mỗi người phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

  7. Đối với phần trình bày của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm b, khoản 1, Điều 355; điểm e, khoản 1, Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
  2. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Thị Tuyết N; sửa về hình phạt do khách quan đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 198/2024/HS-ST ngày 28 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.

  3. Căn cứ điểm a, khoản 1, Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015;
  4. Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thị P, Nguyễn Quốc T3, Nguyễn Thanh T, giữ nguyên về hình phạt đối với bản án sơ thẩm số: 198/2024/HS-ST ngày 28 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.

  5. Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
  6. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị P phạm tội “Tổ chức đánh bạc”.

    Xử phạt: Nguyễn Thị P 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào cơ sở giam giữ thi hành án. Nhưng được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam trước từ ngày 29/02/2024 đến ngày 09/3/2024 và từ ngày 12/3/2024 đến ngày 11/4/2024.

  7. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
  8. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc T3 phạm tội “Đánh bạc”.

    Xử phạt: Nguyễn Quốc T3 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày vào cơ sở giam giữ thi hành án. Nhưng được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam trước từ ngày 29/02/2024 đến ngày 09/3/2024 và từ ngày 12/3/2024 đến ngày 11/4/2024.

  9. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
  10. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Đánh bạc”.

    Xử phạt: Nguyễn Thanh T 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày vào cơ sở giam giữ thi hành án. Nhưng được trừ thời gian bị cáo bị tạm giữ từ ngày 29/02/2024 đến ngày 09/3/2024.

  11. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 58 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
  12. Tuyên bố bị cáo Bùi Thị Tuyết N phạm tội “Đánh bạc”.

    Xử phạt: Bùi Thị Tuyết N 08 (tám) tháng tù, cho bị cáo được hưởng án treo; thời gian thử thách là 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm 13 tháng 6 năm 2025.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

    Giao bị cáo Bùi Thị Tuyết N cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai nơi bị cáo cư trú để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình của bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát và giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

  13. Về án phí: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  14. Bị cáo Bùi Thị Tuyết N không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

    Các bị cáo Nguyễn Thị P, Nguyễn Quốc T3, Nguyễn Thanh T mỗi người phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

  15. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  16. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Tòa án nhân dân huyện Long Thành;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân huyện Long Thành;
  • - Công an phường, xã nơi bị cáo cư trú;
  • - Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đồng Nai;
  • - Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Long Thành;
  • - Phòng Hồ sơ nghiệp vụ - Công an tỉnh Đồng Nai;
  • - Ủy ban nhân dân xã Phước Thái, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, Tòa Hình sự, Văn phòng và Thẩm phán (4).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Dương Lê Bửu Thiện

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Các Thẩm phán

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Trần Tiến Nghĩa

Hà Thị Thanh Nữ

Dương Lê Bửu Thiện

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ;
  • - Công an phường, xã nơi bị cáo cư trú;
  • - Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đồng Nai;
  • - Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Cẩm Mỹ;
  • - Phòng Hồ sơ nghiệp vụ - Công an tỉnh Đồng Nai;
  • - Ủy ban nhân dân xã Xuân Tây (và xã Bảo Bình), huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, Tòa Hình sự, Văn phòng và Thẩm phán (4).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Dương Lê Bửu Thiện

Các Thẩm phán

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Trần Vĩnh Yên

Trần Nam Phương

Dương Lê Bửu Thiện

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự - Công an thành phố Biên Hòa;
  • - Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Biên Hòa;
  • - Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Biên Hòa;
  • - Phòng Hồ sơ nghiệp vụ - Công an tỉnh Đồng Nai;
  • - Ủy ban nhân dân phường Long Bình, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, Tòa Hình sự, Văn phòng và Thẩm phán (4).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Dương Lê Bửu Thiện

Các Thẩm phán

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Trần Vĩnh Yên

Trần Nam Phương

Dương Lê Bửu Thiện

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự - Công an huyện Xuân Lộc;
  • - Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Xuân Lộc;
  • - Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Xuân Lộc;
  • - Phòng Hồ sơ nghiệp vụ - Công an tỉnh Đồng Nai;
  • - Ủy ban nhân dân xã Xuân Tâm, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Dương Lê Bửu Thiện

- Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai;

- Lưu: Hồ sơ vụ án, Tòa Hình sự, Văn phòng và Thẩm phán (4).

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Các Thẩm phán

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Trần Nam Phương

Bùi Lan Hương

Dương Lê Bửu Thiện

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự - Công an huyện Xuân Lộc;
  • - Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Xuân Lộc;
  • - Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Xuân Lộc;
  • - Phòng Hồ sơ nghiệp vụ - Công an tỉnh Đồng Nai;
  • - Ủy ban nhân dân xã Xuân Tâm, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, Tòa Hình sự, Văn phòng và Thẩm phán (4).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Dương Lê Bửu Thiện

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 278/2025/HS-PT ngày 13/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về vụ án hình sự (tổ chức đánh bạc và đánh bạc)

  • Số bản án: 278/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự (Tổ chức đánh bạc và Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 13/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Các bị cáo phạm tội đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger