Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 278/2025/DS-PT

Ngày: 29-05-2025

V/v "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quyến

Các Thẩm phán: Ông Phạm Hoàng Dũng

Bà Phan Thị Tuyết Mai

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thảo Ngân - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân Thành phố Cần Thơ

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Lộc - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 05 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm vụ án thụ lý số: 66/2025/TLPT-DS ngày 18 tháng 03 năm 2025 về việc "Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 224/2024/DS-ST ngày 26 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thới Lai bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 240/2025/QĐ-PT ngày 08 tháng 04 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP K.

Địa chỉ: Số D P, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.

Người đại diện theo ủy quyền (theo Quyết định số 363/QĐ-NHKL ngày 03/02/2023): Ông Nguyễn Văn T; địa chỉ liên hệ: 3 Hòa Bình, phường A (nay là phường T), quận N, thành phố Cần Thơ. Có mặt

- Bị đơn:

  1. Ông Võ Sa L, sinh năm 1971;
  2. Bà Ngô Thị Kim T1, sinh năm 1969.

Cùng địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ. Xin xét xử vắng mặt

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông L, bà T1: Ông Nguyễn Châu Chí C, sinh năm 1982; Địa chỉ: khu V, phường C, quận Ô, thành phố Cần Thơ. Có mặt

1

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Nguyễn Thanh P, sinh năm 1974; địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ.
  2. Ông Nguyễn Anh H; địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ.
  3. Ông Lê Gia B; địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ.
  4. Bà Lê Thị Thúy H1, sinh năm 1982; địa chỉ: ấp T, thị trấn T, huyện T, thành phố Cần Thơ.
  5. Ông Trần Văn T2; địa chỉ: ấp Đ, xã Đ, huyện T, thành phố Cần Thơ
  6. Ông Trần Văn N; địa chỉ: ấp Đ, xã Đ, huyện T, thành phố Cần Thơ.
  7. Ông (bà) Trần Phương E, sinh năm 1984; địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ.
  8. Ông Hồ Văn L1; địa chỉ: khu V, phường P, quận Ô, thành phố Cần Thơ.
  9. Ông Trần Hoàng L2, sinh năm 1986; địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ.
  10. Ông Phạm Hồng T3; địa chỉ: ấp T, thị trấn T, huyện T, thành phố Cần Thơ.
  11. Ông Ngô Văn T4, sinh năm 1973; địa chỉ: ấp C, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ.
  12. Ông Phạm Ngọc Ú, sinh năm 1980; địa chỉ: ấp T, xã X, huyện T, thành phố Cần Thơ.
  13. Bà Nguyễn Thị Thu H2, sinh năm 1980; địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ. (Các người liên quan vắng mặt)

- Người kháng cáo: Bị đơn ông Võ Sa L, bà Ngô Thị Kim T1.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Ngân hàng TMCP K (gọi tắt là Ngân hàng) có người đại diện ủy quyền trình bày:

Vào ngày 30/3/2022, ông L và bà T1 đã vay vốn của Ngân hàng TMCP K số tiền 270.000.000 đồng theo Hợp đồng tín dụng số 016/22/HĐTD/0402-7799, mục đích bổ sung vốn vựa lúa, thời gian vay 12 tháng. Lãi suất 11,1%/tháng, lãi quá hạn bằng 150% lãi suất vay tại thời điểm chuyển nợ quá hạn. Để bảo đảm nợ vay, ông L và bà T1 đã thế chấp quyền sử dụng đất (Hợp đồng thế chấp số 016/22/HĐTC-BDS/0402-7799 ngày 30/3/2022) tại thừa 1163, tờ bản đồ số 09, loại đất trồng lúa, diện tích 5.075m², tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK439023 (số vào sổ H01828) do UBND huyện C cấp ngày 03/12/2007. Nay Ngân hàng TMCP K yêu cầu ông L, bà T1 trả số tiền tạm tính đến ngày 26/12/2024: 425.127.883 đồng, trong đó nợ gốc 270.000.000 đồng, lãi trong hạn 34.214.252 đồng, lãi quá hạn 113.796.123 đồng, lãi phạt chậm trả lãi 7.117.508 đồng. Nếu ông L và bà T1 không thực hiện trả nợ, chậm thực hiện hoặc trả

2

nợ không đầy đủ thì Ngân hàng TMCP K yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ.

* Bị đơn ông Võ Sa L trình bày:

Năm 2017, do mong muốn có công việc ổn định với thu nhập cao theo lời giới thiệu từ Ngân hàng TMCP K nên ông đăng ký vào làm cộng tác viên cho Ngân hàng TMCP K. Công việc chính của ông là tìm hách hàng có nhu cầu vay vốn tiêu dùng cá nhân hoặc buôn bán nhỏ, nếu có khách hàng thì ông phụ trách hướng dẫn làm hồ sơ vay và giao lại cho Phòng kinh doanh của Ngân hàng làm các thủ tục giải ngân, sau khi giải ngân thì ông có nhiệm vụ thu tiền thanh toán của khách hàng theo thỏa thuận tại hồ sơ duyệt vay, thu nhập của ông có được từ hưởng hoa hồng trên số tiền thu được của khách hàng.

Đến năm 2021, do tình hình dịch bệnh kéo dài, kinh tế khó khăn nên nhiều khách hàng do ông phụ trách thu nợ không thanh toán đúng hạn, phát sinh nhóm nợ xấu theo phân loại của Ngân hàng, giám đốc Ngân hàng khi đó là ông Nguyễn Văn V liên tục gây sức ép ông phải có nguồn thu nếu không có thể sẽ bị phía Ngân hàng yêu cầu truy tố hình sự. Do thiếu hiểu biết về quy định của Ngân hàng nên ông tin lời của ông V lập hồ sơ vay tiền của chính Ngân hàng K với tài sản thế chấp là toàn bộ quyền sử dụng đất tại thửa số 1163.

Căn cứ theo Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 016/22/KUNN đính kèm Hợp đồng tín dụng từng lần số 016/2022/HĐTD/0402-7799 ngày 30 tháng 03 năm 2022 của Ngân hàng K thì sẽ giải ngân toàn bộ số tiền vay là 270.000.000 đồng vào số tài khoản số 19760003 tên ông thụ hưởng vào thời điểm ngày 30/03/2022, nhưng ngay lập tức có phát sinh giao dịch rút toàn bộ tiền mặt từ tài khoản này số tiền 272.000.000 đồng. Ông không được nhận tiền mặt giải ngân từ hợp đồng vay, mà còn phải nộp thêm tiền mặt là 7.000.000 đồng (bảy triệu đồng) tại quầy thu ngân. Tại thời điểm bấy giờ, ông được ông V giải thích là dùng để nộp tiền mặt thanh toán cho các hợp đồng vay quá hạn mà ông đang có trách nhiệm thu nợ.

Đề nghị Tòa án yêu cầu phía Ngân hàng K giao nộp chứng từ rút tiền mặt ngày 30/3/2022 từ tài khoản Võ Sa L và hình ảnh camera tại quầy thu ngân tại thời điểm chi tiền mặt số tiền 272.000.000 đồng để làm rõ người nhận tiền mặt không phải là vợ chồng ông Võ Sa L.

Do thời gian đã quá lâu với lại trình độ hiểu biết nghiệp vụ ngân hàng kém nên ông không thu thập đủ hồ sơ chứng từ liên quan, chỉ liệt kê được 13 khách hàng có tên như trên với số tiền mà ông bị Ngân hàng buộc phải trả nợ thay là 174.668.000 đồng, chưa tính phần lãi phát sinh. Do các khoản thanh toán này mà ông bị Ngân hàng L3 phải làm Hợp đồng vay và thế chấp tài sản với trách nhiệm của một Công tác viên của Ngân hàng.

3

Ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, yêu cầu phản tố nội dung:

  1. Yêu cầu Tòa án tuyên bố vô hiệu đối với các Hợp đồng, văn bản sau đây:
    • Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 016/22/HĐTC-BDS/0402-7799 ngày 30 tháng 03 năm 2022 giữa ông Võ Sa L, bà Ngô Thị Kim T1 và Ngân hàng K.
    • Hợp đồng tín dụng từng lần số 016/22/HĐTD/0402-7799 ngày 30 tháng 03 năm 2022 giữa ông Võ Sa L, bà Ngô Thị Kim T1 và Ngân hàng K.
    • Hợp đồng hạn mức cấp tín dụng số 016/22/HĐHM/0402-7799 ngày 30 tháng 03 năm 2022 giữa ông Võ Sa L, bà Ngô Thị Kim T1 đã ký với Ngân hàng K.
  2. Yêu cầu Tòa buộc Ngân hàng phải trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK439023 do UBND huyện C (cũ) cấp ngày 03/12/2007 cho ông.
  3. Yêu cầu Tòa buộc Ngân hàng phải trả lại cho ông số tiền 195.208.000 đồng, là số tiền mà Ngân hàng đã dùng tiền vay nợ của ông để trả nợ thay cho các ông bà có tên theo danh sách chi tiết của từng cá nhân cụ thể như sau:
    1. Ông Nguyễn Anh H số tiền đã cấn trừ: 33.745.000 đồng.
    2. Phạm Hồng T3 số tiền đã cấn trừ: 35.772.000 đồng. (02 hợp đồng vay).
    3. Lê Gia B số tiền đã cấn trừ: 14.850.000 đồng.
    4. Lê Thị Thúy H1 số tiền đã cấn trừ: 14.910.000 đồng.
    5. Trần Văn T2 số tiền đã cấn trừ: 13.860.000 đồng.
    6. Trần Văn N số tiền đã cấn trừ: 7.980.000 đồng.
    7. Trần Phương E số tiền đã cấn trừ: 15.120.000 đồng.
    8. Hồ Văn L1 số tiền đã cấn trừ: 10.640.000 đồng.
    9. Trần Hoàng L2 số tiền đã cấn trừ: 3.391.500 đồng.
    10. Nguyễn Thanh P số tiền đã cấn trừ: 34.000.000 đồng.
    11. Nguyễn Thị Thu H2 số tiền đã cấn trừ: 3.500.000 đồng.
    12. Phạm Văn Ú1 số tiền đã cấn trừ: 2.400.000 đồng.
    13. Ngô Văn T4 số tiền đã cấn trừ: 5.040.000 đồng.

Đề nghị Ngân hàng tiếp tục cho ông đi thu hồi nợ vay của 13 khách hàng nêu trên.

Ngày 25 tháng 12 năm 2024, ông có đơn yêu cầu phản tố bổ sung, yêu cầu Tòa buộc Ngân hàng phải trả lại cho ông số tiền 273.840.867 đồng, là số tiền mà Ngân hàng đã dùng tiền vay nợ của ông để trả nợ thay cho khách hàng.

* Bị đơn bà Ngô Thị Kim T1 vắng mặt và không có ý kiến gửi cho Tòa án.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan (là khách hàng vay do bị đơn cung cấp) đều vắng mặt và không có ý kiến gửi cho Tòa án.

* Người làm chứng ông Huỳnh Lê Ngọc Đ, ông Nguyễn Văn V trình bày: Năm 2018, ông Võ Sa L làm cộng tác viên Ngân hàng và có dùng tài sản của mình để đảm

4

bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho các khoản vay trả góp ngày mà ông Võ Sa L đã cam kết theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 228/18/HĐTC-BDS/0402-1794 ngày 12/9/2018. Tuy nhiên, do ông Võ Sa L đã vi phạm nghĩa vụ về thực hiện góp tiền hàng ngày cho Ngân hàng theo dư nợ ông L bảo lãnh, thẩm định, đề xuất cho vay. Năm 2022, ông L được Ngân hàng xem xét miễn giảm lãi khoản nợ trả góp ngày mà ông L cam kết bảo lãnh, trả nợ thay, bằng tờ trình phê duyệt giảm lãi số 28/TTr-PGDOM ngày 14/3/2022. Ngày 29/3/2022, ông L đã mang tiền đến Ngân hàng để tất toán nợ trả góp ngày theo số tiền mà Ngân hàng đã giảm lãi và Ngân hàng đã xuất giải chấp tài sản là Quyền sử dụng đất của ông L đã thế chấp để đảm bảo trả nợ thay cho khoản vay trả góp ngày. Sau khi hoàn thành nghĩa vụ trả nợ thay khoản vay trả góp ngày thì ông L không còn là cộng tác viên của Ngân hàng, đồng thời giữa Ngân hàng với ông L không còn nghĩa vụ gì liên quan đến các khoản nợ trả góp ngày. Sau đó, ông L có đơn gửi đến Ngân hàng đề nghị xin vay vốn và được Ngân hàng đồng ý cho vay với số tiền 270.000.000đồng, thời hạn vay 12 tháng, theo Hợp đồng tín dụng số 016/22/HĐTD/0402-7799 ngày 30/3/2022 và Hợp đồng thế chấp bảo đảm cho khoản vay số 016/22/HĐTC/0402-7799 ngày 30/3/2022. Về giải ngân số tiền 270.000.000đồng, Ngân hàng giải ngân bằng chuyển khoản, qua tài khoản cá nhân của ông L và sau đó ông Võ Sa L đã rút tiền mặt để sử dụng. Ngân hàng TMCP K đã làm nghiệm vụ đúng theo quy định. Giao dịch giữa Ngân hàng với ông L là trên cơ sở tự nguyện, nội dung phản tố của ông L là không đúng sự thật. Ông cam đoan nội dung trình bày đúng sự thật và chịu trách nhiệm trước pháp luật, ông đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt ông trong vụ án này.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 224/2024/DS-ST ngày 26 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thới Lai đã quyết định:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP K.
  2. Buộc ông Võ Sa L và bà Ngô Thị Kim T1 trả cho Ngân hàng TMCP K số tiền 418.010.375 đồng (bốn trăm mười tám triệu không trăm mười nghìn ba trăm bảy mươi lăm đồng), trong đó nợ gốc 270.000.000 đồng, lãi trong hạn 34.214.252 đồng, lãi quá hạn 113.796.123 đồng.

    Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận.

  3. Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP K về việc yêu cầu bị đơn trả số tiền lãi phạt chậm trả lãi 7.117.508 đồng.
  4. Trường hợp ông Võ Sa L và bà Ngô Thị Kim T1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng TMCP K có quyền yêu cầu phát mãi thế chấp là quyền sử dụng đất theo Hợp đồng thế chấp số 016/22/HĐTC-BDS/0402-

5

7799 ngày 30/3/2022 tại thửa 1163, tờ bản đồ số 09, loại đất trồng lúa, diện tích 5.075m², tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK439023 (số vào sổ H01828) do UBND huyện C (nay là huyện T) cấp ngày 03/12/2007 để thu hồi nợ.

Ngoài ra, Bản án còn tuyên về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 06/01/2025, bị đơn ông Võ Sa L và bà Ngô Thị Kim T1 kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn ông Võ Sa L.

Tại phiên toà phúc thẩm:

  • Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn.
  • Tại Bản tự khai và đơn xin xét xử vắng mặt ngày 28/5/2025, ông L và bà T1 rút yêu cầu phản tố buộc Ngân hàng trả lại số tiền 195.208.000₫ là tiền Ngân hàng đã dùng tiền vay nợ của bị đơn trả nợ thay cho 13 người. Bị đơn vẫn giữ nguyên nội dung phản tố khác và nội dung kháng cáo có liên quan.
  • Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị đơn, tuyên bố hợp đồng thế chấp, hợp đồng tín dụng vô hiệu do bị lừa dối.
  • Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến như sau:

    Về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; các đương sự tham gia tố tụng chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

    Về nội dung: Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng khởi kiện buộc bị đơn trả nợ vốn, lãi theo hợp đồng đã ký kết, đồng thời tuyên xử lý tài sản thế chấp, cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là đúng qui định pháp luật. Bị đơn kháng cáo yêu cầu hủy hợp đồng thế chấp, hợp đồng tín dụng nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ gì mới, đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị đơn.

    Đối với việc bị đơn rút một phần phản tố yêu cầu Ngân hàng trả 195.208.000₫, nguyên đơn không có ý kiến, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu này.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

6

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn làm trong hạn luật định nên được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm. Cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đương sự vắng mặt đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai hoặc có đơn xin xét xử vắng mặt. Do vậy, căn cứ vào Khoản 3 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án.

[2] Về nội dung vụ án và kháng cáo của ông Võ Sa L và bà Ngô Thị Kim T1, nhận thấy:

[2.1] Ngày 30/3/2022 giữa ông Võ Sa L, bà Ngô Thị Kim T1 và Ngân hàng TMCP K có ký kết hợp đồng tín dụng số 016/22/HĐTD/0402-7799 với số tiền vay là 270.000.000 đồng, thời gian vay 12 tháng, lãi suất 11,1%/tháng, lãi quá hạn bằng 150% lãi suất vay tại thời điểm chuyển nợ quá hạn. Để đảm bảo cho việc trả nợ, ông L và bà Thanh thế C1 quyền sử dụng đất theo Hợp đồng thế chấp số 016/22/HĐTC-BDS/0402-7799 ngày 30/3/2022 tại thửa 1163, tờ bản đồ số 09, loại đất trồng lúa, diện tích 5.075m², tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK439023 (số vào sổ H01828) do UBND huyện C cấp ngày 03/12/2007, việc thế chấp được đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định.

Do, ông L và bà T1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên cấp sơ thẩm buộc ông L, bà T1 trả nợ vốn, lãi theo hợp đồng đã ký kết, đồng thời tuyên xử lý tài sản thế chấp là đúng qui định của tại Điều 100, 103 Luật các tổ chức tín dụng, Điều 317, 320, 466 Bộ luật dân sự. Do đó, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị đơn về việc tuyên bố hợp đồng thế chấp, hợp đồng tín dụng vô hiệu.

[2.2] Tại phiên tòa sơ thẩm và ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích của bị đơn cho rằng trước ngày 29/03/2022, bị đơn phải đi vay tiền ở bên ngoài trả nợ thay các người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cho Ngân hàng, sau đó vay Ngân hàng ngày 30/3/2022 để trả nợ bên ngoài theo yêu cầu của Ngân hàng, nhưng đại diện Ngân hàng không thừa nhận. Do vậy, giao dịch trước ngày 29/03/2022 giữa ông L với Ngân hàng là giao dịch khác, giao dịch này nếu có tranh chấp, ông L có quyền khởi kiện bằng vụ kiện khác theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Xét thấy, Vào ngày 15/8/2024, ông L có đơn yêu cầu phản tố đề nghị Tòa án hủy hợp đồng thế chấp, hợp đồng tín dụng, hợp đồng hạn mức tín dụng, buộc Ngân hàng trả lại cho ông L 195.208.000đ, tại đơn sửa đổi bổ sung ngày 22/12/2024 ông L yêu cầu Ngân hàng trả lại cho ông 273.840.867đ, cấp sơ thẩm xác định đây là yêu cầu phản tố và cho ông L nộp tạm ứng án phí phản tố.

7

Đối với yêu cầu hủy hợp đồng thế chấp, hợp đồng tín dụng, hợp đồng hạn mức, những yêu cầu này cùng với yêu cầu của nguyên đơn, đây chỉ coi là ý kiến của bị đơn mà không phải là yêu cầu phản tố của bị đơn đối với nguyên đơn và đã được xem xét giải quyết tại phần [2.1].

Đối với số tiền 273.840.867đ, ông L yêu cầu Ngân hàng trả lại, cấp sơ thẩm nhận định không chấp nhận yêu cầu nhưng trong phần quyết định không thể hiện, là thiếu sót và cũng chưa làm rõ tiền này là tiền gì. Tuy nhiên theo lời khai của ông L và quan điểm bảo vệ của người bảo vệ cho bị đơn thì số tiền này là tiền ông L đứng ra trả nợ thay Ngân hàng cho các người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trước ngày 29/03/2022, không liên quan đến số tiền ông L vay Ngân hàng ngày 30/03/2022. Tại Bản tự khai và đơn xin xét xử vắng mặt ngày 28/5/2025, ông L rút yêu cầu phản tố đối với yêu cầu Ngân hàng trả lại 195.208.000đ, Ngân hàng không có ý kiến nên hủy một phần bản án và đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu này.

[4] Ông L và bà T1 kháng cáo nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ gì mới, đại diện Viện kiểm sát đề nghị không chấp nhận kháng cáo của ông L, bà T1 là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[6] Về án phí phúc thẩm: Bị đơn kháng cáo nhưng không được chấp nhận nên phải chịu án phí phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 1, 4 Điều 308, Điều 311, Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận kháng cáo của ông Võ Sa L, bà Ngô Thị Kim T1.
  2. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 224/2024/DS-ST ngày 26 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP K.

    Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP K.

    Buộc ông Võ Sa L và bà Ngô Thị Kim T1 trả cho Ngân hàng TMCP K số tiền 418.010.375 đồng (bốn trăm mười tám triệu không trăm mười nghìn ba trăm bảy mươi lăm đồng), trong đó nợ gốc 270.000.000 đồng, lãi trong hạn 34.214.252 đồng, lãi quá hạn 113.796.123 đồng.

8

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng.

Trường hợp ông Võ Sa L và bà Ngô Thị Kim T1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng TMCP K có quyền yêu cầu phát mãi thế chấp là quyền sử dụng đất theo Hợp đồng thế chấp số 016/22/HĐTC-BDS/0402-7799 ngày 30/3/2022 tại thửa 1163, tờ bản đồ số 09, loại đất trồng lúa, diện tích 5.075m², tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK439023 (số vào sổ H01828) do UBND huyện C (nay là huyện T) cấp ngày 03/12/2007 để thu hồi nợ.

  1. Chấp nhận việc rút yêu cầu phản tố của bị đơn ông Võ Sa L về việc đòi Ngân hàng TMCP K trả số tiền 195.208.000đ.
  2. Hùy phần bản án đối với yêu cầu phản tố của bị đơn ông Võ Sa L và đình chỉ giải quyết vụ án đối với phần này.

  3. Về chi phí tố tụng: Ngân hàng TMCP K đã nộp tạm ứng 3.000.000 đồng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ quyền sử dụng đất thế chấp. Ông Võ Sa L và bà Ngô Thị Kim T1 phải chịu chi phí này, nên phải nộp số tiền 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) để hoàn trả Ngân hàng TMCP K.
  4. Về án phí:

    - Án phí dân sự sơ thẩm:

    Ông Võ Sa L và bà Ngô Thị Kim T1 phải chịu 20.720.415 đồng, khấu trừ vào 4.480.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0004321 ngày 21/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Lai; ông L và bà T1 phải nộp thêm 15.840.415 đồng.

    Ngân hàng TMCP K được nhận lại 7.958.000 đồng theo biên lai thu số 0005396 ngày 09/10/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ.

    - Về án phí dân sự phúc thẩm:

    Ông Võ Sa L và bà Ngô Thị Kim T1 phải chịu 300.000 đồng, được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0004675 ngày 06/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Lai; ông L, bà T1 đã nộp đủ án phí phúc thẩm.

  5. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị

9

cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, 7 và Điều 9; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự,
  • - VKSND TP. Cần Thơ;
  • - TAND H. Thới Lai;
  • - Chi Cục THADS H. Thới Lai;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Quyến

10

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 278/2025/DS-PT ngày 29/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 278/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 29/05/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger