|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 278/2025/DS-PT Ngày: 23-6-2025 V/v: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Văn Thinh
Các Thẩm phán:Bà Phạm Thị Hồng Vân
Bà Võ Thị Hồng Mai
Thư ký phiên tòa: ông Đặng Minh Huy – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên toà: bà Nguyễn Thị Gọn - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 6 năm 2025, tại Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh mở phiên tòa xét xử công khai phúc thẩm vụ án dân sự thụ lý số 139/2025/TLPT-DS ngày 27 tháng 5 năm 2025, về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 45/2025/DS-ST, ngày 17 tháng 4 năm 2025 của Toà án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 224/2025/QĐ-PT, ngày 03 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: ông Trần Đình K, sinh năm 1963 và bà Lê Thị H, sinh năm 1966; cùng địa chỉ: Tổ A, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
- Bị đơn: bà Phan Thị Ngọc T, sinh năm 1986; ông Nguyễn Hải N, sinh năm 1973; cùng địa chỉ: Tổ E, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1967; địa chỉ: Tổ D, khu phố D, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh (văn bản ủy quyền ngày 17/01/2025); có mặt.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: chị Phan Lương Đăng C, sinh năm 1999; địa chỉ: 1 L, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (văn bản ủy quyền ngày 28/02/2025); có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Phan Thị Ngọc T, ông Nguyễn Hải N: Luật sư Nguyễn Văn Q – thuộc Công ty L, Đoàn luật sư Thành phố H; có mặt.
2
- Người kháng cáo: bà Phan Thị Ngọc T và ông Nguyễn Hải N là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 10 tháng 02 năm 2025 của nguyên đơn, cùng các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H1 trình bày:
Do quen biết với nhau lâu năm cùng địa phương, khi vợ chồng ông N, bà T mở Công ty phân bón tại xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh có vay của ông K, bà H nhiều lần tiền, cụ thể như sau:
- Lần thứ 1: Ngày 17/6/2023, vợ chồng ông Nguyễn Hải N và bà Phan Thị Ngọc T vay số tiền: 20.000.000 đồng. Thời hạn vay là 02 tháng, lãi suất thỏa thuận 2%/tháng bà T đã chuyển trả đúng hẹn, nên bà H, ông K đã trả lại giấy vay tiền cho bà T (nay không khởi kiện).
- Lần thứ 2: Ngày 28/8/2023 vợ chồng ông Nguyễn Hải N và bà Phan Thị Ngọc T vay số tiền: 600.000.000 đồng, lãi suất thỏa thuận 2%/tháng, chưa trả tiền gốc.
- Lần thứ 3: Ngày 06/9/2023 vợ chồng ông Nguyễn Hải N và bà Phan Thị Ngọc T vay số tiền: 200.000.000 đồng, bà T chuyển khoản cho ông K và bà H, còn nợ 10.000.000 đồng khấu trừ vào tiền mua phân, diêm nên không còn nợ, không khởi kiện.
- Lần thứ 4: Ngày 16/10/2023 vợ chồng ông Nguyễn Hải N và bà Phan Thị Ngọc T vay số tiền: 100.000.000 đồng. Ông N bà T đã chuyển khoản trả xong, không khởi kiện.
- Lần thứ 5: Ngày 20/01/2024 vợ chồng ông Nguyễn Hải N và bà Phan Thị Ngọc T vay số tiền: 500.000.000 đồng. Thời hạn vay là 02 tháng, lãi suất thỏa thuận 3%/tháng, chưa trả nợ gốc và chưa đóng lãi.
- Lần thứ 6: Ngày 28/01/2024 vợ chồng ông Nguyễn Hải N và bà Phan Thị Ngọc T vay số tiền: 600.000.000 đồng. Thời hạn vay là 02 tháng, lãi suất thỏa thuận 3%/ tháng, chưa trả nợ gốc.
Tổng cộng 06 lần vay số tiền gốc là 2.020.000.000 đồng (Hai tỷ không trăm hai mươi triệu đồng). Khi vay vợ chồng bà T, ông N có viết giấy vay tiền và ký tên, lăn tay.
Bà T, ông N có chuyển trả tiền gốc là: 310.000.000 đồng; tiền mua phân diêm là 10.000.000 đồng và tiền lãi là là: 128.000.000 đồng.
Nay, nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả khoản vay lần thứ 2: 600.000.000 đồng; lần vay thứ 5: 500.000.000 đồng; lần vay thứ 6: 600.000.000 đồng. Tổng cộng là 1.700.000.000 đồng và tiền lãi theo từng thời gian vay của các lần vay với mức lãi suất 0,83%/tháng cho đến ngày nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
Đại diện hợp pháp của bị đơn Phan Thị Ngọc T, Nguyễn Hải N là bà Phan Lương Đăng C trình bày:
3
Vào năm 2023, vợ chồng ông N, bà T có vay tiền của vợ chồng ông K, bà H 05 lần như sau:
- Lần 1: Ngày 17/06/2023 vay 20.000.000 đồng trong thời hạn 02 tháng. Vợ chồng ông N, bà T đã chuyển khoản trả số tiền gốc cho vợ chồng ông K, bà H vào ngày 17/08/2023 qua số tài khoản của ông K và số tiền lãi trả bằng tiền mặt.
- Lần 2: Ngày 28/08/2023 vay 600.000.000 đồng với lãi suất 4%/ tháng tương đương với 24.000.000 đồng/tháng. Vợ chồng ông N, bà T đã chuyển trả số tiền lãi đến hết năm 2023.
- Lần 3: Ngày 06/09/2023 vay 200.000.000 đồng với lãi suất 2%/ tháng. Vợ chồng ông N, bà T đã trả tiền mặt cho vợ chồng ông K, bà H tổng số tiền là 190.000.000 đồng, còn thiếu 10.000.000 đồng. Đến ngày 29/03/2024, số tiền còn thiếu đã được cấn trừ qua số tiền nợ phân bón mà ông K đã mua của vợ chồng ông N, bà T.
- Lần 4: Ngày 16/10/2023 vay 100.000.000 đồng. Vợ chồng ông N, bà T đã chuyển khoản trả số tiền gốc cho vợ chồng ông K, bà H qua số tài khoản của ông K (Số tài khoản: 0327626189 của Ngân hàng TMCP C1 – V) và số tiền lãi được trả bằng tiền mặt.
- Lần 5: Ngày 20/01/2024 với số tiền 500.000.000 đồng với lãi suất 4%/ tháng, tương đương với 20.000.000 đồng/tháng. Vợ chồng ông N, bà T đã chuyển trả tiền lãi tới tháng 08/2024.
Ngày 28/01/2024 vợ chồng ông K, bà H có trao đổi với vợ chồng ông N, bà T về số tiền 600.000.000 đồng mà vợ chồng ông N, bà T vay vào ngày 28/08/2023. Sau khi thống nhất thì hai bên đồng ý viết lại giấy nợ mới với số tiền 600.000.000 đồng với lãi suất 4%/tháng. Vợ chồng ông K, bà H nói là sẽ xé giấy nợ cũ sau khi về nhà. Do đó, số tiền vay ngày 28/08/2023 và ngày 28/01/2024 là một. Tổng số tiền mà vợ chồng ông N, bà T vay còn nợ của vợ chồng ông K, bà H là 1.100.000.000 đồng.
Bà T đã sử dụng số tài khoản đứng tên Phan Thị Ngọc T và ông N đã sử dụng số tài khoản đứng tên Nguyễn Hải N để chuyển tiền đến số tài khoản của ông Trần Đình K và số tài khoản của bà Lê Thị H; có thống kê giao dịch kèm theo đã nộp cho Tòa án.
Những khoản vay vào ngày 06/09/2023 và ngày 16/10/2023 vợ chồng ông N, bà T đã thực hiện xong việc trả tiền gốc và lãi mà ông K và bà H vẫn yêu cầu tính lãi là không hợp lý.
Do đó, vợ chồng bà T, ông N chỉ đồng ý trả số tiền gốc và tiền lãi đối với 02 khoản vay ngày 20/01/2024 và ngày 28/01/2024, tổng số tiền gốc 1.100.000.000 đồng.
Số tiền lãi đối với khoản vay 500.000.000 đồng tính từ ngày 20/01/2024 đến ngày 20/03/2025 (Tương đương 14 tháng) là 500.000.000 x 0,83%/tháng x 14 tháng = 58.100.000 đồng.
4
Số tiền lãi đối với khoản vay 600.000.000 đồng tính từ ngày 28/01/2024 đến ngày 28/03/2025 (14 tháng) là 600.000.000 x 0,83%/tháng x 14 tháng = 69.720.000 đồng.
Nên số tiền vợ chồng bà T, ông N đồng ý trả lại cho ông Trần Đình K là 1.227.820.000 đồng.
Bản án sơ thẩm số 45/2025/DS-ST, ngày 17 tháng 4 năm 2025 của Toà án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh, quyết định:
Căn cứ vào các Điều 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Đình K, bà Lê Thị H đối với bà Phan Thị Ngọc T, ông Nguyễn Hải N về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản.
Buộc bà Phan Thị Ngọc T, ông Nguyễn Hải N cùng có nghĩa vụ liên đới trả cho ông Trần Đình K, bà Lê Thị H số tiền 1.840.270.000 đồng. Trong đó, tiền gốc là 1.700.000.000 đồng, tiền lãi là 140.270.000 đồng.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về nghĩa vụ thi hành án, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 24/4/2025 bị đơn bà Phan Thị Ngọc T và ông Nguyễn Hải N kháng cáo yêu cầu sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với khoản vay 500.000.000 đồng ngày 20-01-2024 và khoản vay 600.000.000 đồng ngày 28-01-2024 với lãi suất theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa phúc thẩm người kháng cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn tranh luận: đề nghị Hội đồng xét xử xem xét lại khoản tiền bị đơn chuyển cho nguyên đơn từ tháng 01/2024 đến tháng 8/2024 với số tiền 242.000.000 đồng là số tiền bị đơn đã chuyển lãi cho nguyên đơn đối với 02 khoản vay ngày 20-01-2024 và 28-01-2024, yêu cầu xem xét khấu trừ khoản tiền này vào số tiền vay.
Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa:
- Về tố tụng: việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa; kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử xét thấy:
5
- Về tố tụng: đơn kháng cáo của bị đơn bà Phan Thị Ngọc T và ông Nguyễn Hải N làm trong thời hạn luật định, nội dung kháng cáo thuộc phạm vi xét xử phúc thẩm phù hợp với quy định tại Điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
- Xét kháng cáo của bị đơn bà Phan Thị Ngọc T và ông Nguyễn Hải N, Hội đồng xét xử nhận thấy: Hợp đồng vay tiền giữa vợ chồng ông N, bà T với vợ chồng ông K, bà H được ký kết trên cơ sở tự nguyện, bằng văn bản. Theo đó, từ tháng 6/2023 đến tháng 01/2024 vợ chồng ông K cho vợ chồng ông N vay tiền nhiều lần với số tiền, thời hạn và mức lãi cụ thể. Vợ chồng ông K khởi kiện và đưa chứng cứ thể hiện vợ chồng ông N vay tiền 06 lần, trong đó có 03 lần đã trả nợ xong, còn 03 lần vào các ngày 28/8/2023, ngày 20/01/2024 và ngày 28/01/2024 chưa trả gốc và lãi nên vợ chồng ông Khởi K1 đòi. Vợ chồng ông N thừa nhận có ký giấy nợ 06 lần như vợ chồng ông K trình bày; tuy nhiên lần vay ngày 28/8/2023 với số tiền 600.000.000 đồng được làm giấy lại vào ngày 28/01/2024 cũng với số tiền 600.000.000 đồng; nên vợ chồng ông xác định chỉ còn nợ vợ chồng ông N 1.100.000.000 đồng tiền gốc. Xét thấy, lời trình bày của vợ chồng ông N không được vợ chồng ông K thừa nhận và vợ chồng ông N cũng không có chứng cứ gì chứng minh cho lời trình bày của mình; nên Tòa án cấp sơ thẩm buộc vợ chồng ông N có trách nhiệm trả nợ cho vợ chồng ông K số tiền còn nợ theo giấy nợ đã ký và tiền lãi theo quy định của pháp luật là có cơ sở. Do đó, không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của vợ chồng ông N.
- Tại phiên tòa phúc thẩm, người bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho vợ chồng ông N cho rằng từ tháng 01/2024 đến tháng 8/2024 vợ chồng ông N có chuyển khoản cho vợ chồng ông K được hơn 200.000.000 đồng nên đề nghị trừ vào tiền gốc và lãi của số tiền còn nợ. Về số tiền này vợ chồng ông K xác định vợ chồng ông N chuyển trả cho khoản nợ vay đợt khác và đã xong. Xét thấy, các khoản tiền vay vợ chồng ông N đều ký tên, nhưng khi trả không yêu cầu vợ chồng ông K ký nhận; các khoản tiền khác vợ chồng ông N vay mà vợ chồng ông K xác định đã trả đều thông qua sự thừa nhận của vợ chồng ông K. Nên số tiền này vợ chồng ông K xác định không liên quan đến khoản tiền đang kiện là có cơ sở. Do đó không có căn cứ chấp nhận lời trình bày của người bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho vợ chồng ông N; giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
- Đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Về án phí phúc thẩm: do kháng cáo không được chấp nhận nên bà T, ông N phải chịu án phí phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
6
- Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Phan Thị Ngọc T, ông Nguyễn Hải N; giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
- Áp dụng các Điều 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Đình K, bà Lê Thị H đối với bà Phan Thị Ngọc T, ông Nguyễn Hải N về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: vợ chồng ông N, bà T phải cùng chịu 67.208.100 đồng.
- Về án phí phúc thẩm: bà T, ông N phải chịu 300.000 đồng, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí kháng cáo bà T, ông N đã nộp theo biên lai thu số 0003373, ngày 24-4-2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Buộc bà Phan Thị Ngọc T, ông Nguyễn Hải N cùng có nghĩa vụ liên đới trả cho ông Trần Đình K, bà Lê Thị H số tiền 1.840.270.000 (một tỷ tám trăm bốn mươi triệu hai trăm bảy mươi nghìn) đồng. Trong đó, tiền gốc là 1.700.000.000 (một tỷ bảy trăm triệu) đồng, tiền lãi là 140.270.000 (một trăm bốn mươi triệu hai trăm bảy mươi nghìn) đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 17/4/2025) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án (bà Phan Thị Ngọc T, ông Nguyễn Hải N) còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án, theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
Ông Trần Đình K, bà Lê Thị H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; hoàn trả lại cho bà Lê Thị H số tiền 16.496.000 (mười sáu triệu bốn trăm chín mươi sáu nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí sơ thẩm bà H đã nộp tại Biên lai thu số 0003097 ngày 10/02/2025, của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
|
Nơi nhận:
7 |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Văn Thinh |
Bản án số 278/2025/DS-PT ngày 23/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 278/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 23/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả khoản vay lần thứ 2: 600.000.000 đồng; lần vay thứ 5: 500.000.000 đồng; lần vay thứ 6: 600.000.000 đồng. Tổng cộng là 1.700.000.000 đồng và tiền lãi theo từng thời gian vay của các lần vay với mức lãi suất 0,83%/tháng cho đến ngày nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
