Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH AN GIANG

Bản án số: 278/2024/DS-PT

Ngày 19 tháng 11 năm 2024

V/v tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Ngọc Giao

Các Thẩm phán: Bà Trịnh Ngọc Thúy và bà Phan Thị Minh Tâm

Thư ký phiên toà: Ông Lý Trương Khang - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa:

Ông Phạm Trường San - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số: 249/2024/TLPT-DS ngày 02 tháng 10 năm 2024 về tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 240/2024/DS-ST ngày 30 tháng 7 năm 2024, của Toà án nhân dân thành phố Long Xuyên, bị kháng cáo;

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 294/2024/QĐ-PT ngày 14/10/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 321/2024/QĐ-PT ngày 05/11/2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Trần Văn P, sinh năm 1961

    Cư trú: Số B đường T, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang. (có mặt)

  2. Bị đơn:

    2.1. Ông Phó Văn K, sinh năm 1956; nơi cư trú: Số C đường T, khóm B, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. (có mặt)

    2.2. Bà Lư Bích N, sinh năm 1960; nơi cư trú: Số B đường T, khóm B, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (vắng mặt)

    Người đại diện theo ủy quyền của bà N: Ông Trần Tiến V, sinh năm 1972; Cư trú: số E H, tổ A, khóm Đ, phường Đ, thành phố L, tỉnh An Giang (theo giấy ủy quyền ngày 15/3/2024) (có mặt)

  3. Người kháng cáo: bà Lư Bích N.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo hồ sơ án sơ thẩm thể hiện:

2

Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết và tại phiên tòa nguyên đơn ông Trần Văn P trình bày:

Do quen biết, ông P có cho ông Phó Văn K và bà Lư Bích N vay số tiền 11.800.000.000 đồng (Mười một tỷ tám trăm triệu đồng), khi vay bà N và ông K nói để bổ sung vốn kinh doanh thuốc tây và phục vụ khám chữa bệnh tại Bệnh viện H vì bà N là người đại diện theo pháp luật của Bệnh viện H. Ông K và bà N vay của ông P tổng cộng 05 lần, thời gian và nội dung thỏa thuận của từng lần vay cụ thể như sau:

  • Lần 1: Ngày 07/02/2023, ông P cho ông K và bà N vay 800.000.000 đồng, thời hạn vay là 06 tháng (từ ngày 07/02/2023 đến ngày 07/8/2023), thỏa thuận lãi suất 2,3%/tháng. Các bên thống nhất lãi suất sẽ trả hàng tháng, còn vốn sẽ trả khi đến hạn.
  • Lần 2: Ngày 11/02/2023, ông P cho ông K và bà N vay 1.800.000.000 đồng, thời hạn vay là 06 tháng (từ ngày 11/02/2023 đến ngày 11/8/2023), thỏa thuận lãi suất 2,3%/tháng. Các bên thống nhất lãi suất sẽ trả hàng tháng, còn vốn sẽ trả khi đến hạn..
  • Lần 3: Ngày 16/02/2023, ông P cho ông K và bà N vay 3.000.000.000 đồng, thời hạn vay là 06 tháng (từ ngày 16/02/2023 đến ngày 16/8/2023), thỏa thuận lãi suất 2,3%/tháng. Các bên thống nhất lãi suất sẽ trả hàng tháng, còn vốn sẽ trả khi đến hạn.
  • Lần 4: Ngày 23/02/2023, ông P cho ông K và bà N vay 3.200.000.000 đồng, thời hạn vay là 06 tháng (từ ngày 23/02/2023 đến ngày 23/8/2023), thỏa thuận lãi suất 2,3%/tháng nhưng chỉ thỏa thuận miệng chứ không ghi nội dung về lãi vào hợp đồng vay vốn. Các bên thống nhất lãi suất sẽ trả hàng tháng, còn vốn sẽ trả khi đến hạn.
  • Lần 5: Ngày 25/02/2023, ông P cho ông K và bà N vay 3.000.000.000 đồng, thời hạn vay là 06 tháng (từ ngày 25/02/2023 đến ngày 25/8/2023), thỏa thuận lãi suất 2,3%/tháng. Các bên thống nhất lãi suất sẽ trả hàng tháng, còn vốn sẽ trả khi đến hạn.

Trong 5 lần vay, các bên đều có lập hợp đồng vay vốn (kiêm giấy nhận tiền) vào cùng ngày, ông K và bà N có ký tên người nhận tiền vào hợp đồng vay và giao bản chính cho ông P giữ. Mặc dù, tất cả các lần vay giữa các bên đều thỏa thuận lãi suất sẽ được trả hàng tháng, còn vốn gốc trả 01 lần khi đến hạn, nhưng từ khi vay đến nay ông K và bà N chưa từng trả vốn và lãi lần nào cho ông P dù ông P đã yêu cầu nhiều lần.

Ông P xác định cả 05 lần vay tiền thì người trực tiếp nhận tiền vay là ông K; sau đó bà N kiểm tra lại nội dung của từng hợp đồng vay vốn, thống nhất đã nhận đủ tiền và ký tên xác nhận người vay vào hợp đồng và giao bản chính cho ông P; còn việc giữa ông K và bà N thỏa thuận với nhau về việc sử dụng số tiền vay cụ thể như thế nào thì ông P hoàn toàn không biết. Do ông K và bà N đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên ông P khởi kiện yêu cầu ông K và bà N phải trả cho ông số tiền 11.800.000.000 đồng và yêu cầu tính lãi theo quy định của pháp luật với mức lãi suất là 20%/năm đối với hợp đồng có thỏa thuận về lãi và 10%/năm nếu

3

không thỏa thuận về lãi; tính từ ngày vi phạm theo từng hợp đồng đến khi xét xử sơ thẩm (ngày 30/7/2024).

Ông P còn trình bày, ngoài 05 lần cho ông K và bà N vay tiền như nêu trên thì ngày 13/8/2023 giữa ông P với ông K và bà N còn thống nhất chốt lãi của 05 lần vay từ khi vay theo từng hợp đồng đến ngày 13/8/2023 với số tiền là 1.000.000.000 đồng, việc chốt lãi các bên không lập văn bản chốt lãi mà lập thành hợp đồng vay vốn với nội dung là ông K và bà N vay của ông P 1.000.000.000 đồng, thời gian trả số tiền này là từ ngày 15/9/2023, nếu trả trước hạn thì ông P sẽ giảm 200.000.000 đồng lãi và chỉ tính 800.000.000 đồng, nhưng đến hạn ông K và bà N cũng không thực hiện. Ông P xác định ông chỉ cho ông K và bà N vay tiền 05 lần theo các hợp đồng vay vốn ngày 07/02/2023, ngày 11/02/2023, ngày 16/02/2023, ngày 23/02/2023 và ngày 25/02/2023. Riêng số tiền 1.000.000.000 đồng theo hợp đồng vay vốn ngày 13/8/2023 thì không phải là tiền vay mà là tiền lãi của 05 hợp đồng trước, vì vậy đối với hợp đồng vay ngày 13/8/2023 thì ông P không yêu cầu ông K và bà N phải trả và ông không tranh chấp số tiền 1.000.000.000 đồng của hợp đồng này.

Quá trình giải quyết và tại phiên tòa bị đơn ông Phó Văn K trình bày:

Ông K và bà Lư Bích N là anh rễ và em vợ, bà N là người đại diện theo pháp luật của Bệnh viện H, vì là chỗ anh em trong gia đình nên khi bà N cần vốn để kinh doanh Bệnh viện thì ông K đồng ý đứng tên cùng bà N vay tiền của ông Trần Văn P nhiều lần với tổng số tiền là 11.800.000.000 đồng như ông P đã trình bày. Mặc dù, trên các hợp đồng vay ông K có cùng bà N ký tên người vay nhưng thực chất ông K chỉ đứng tên vay giùm bà N, ông không sử dụng số tiền vay mà do bà N trực tiếp sử dụng, việc thỏa thuận đứng tên vay giùm bà N thì ông K và bà N chỉ thỏa thuận miệng, không lập văn bản nên ông K không thể cung cấp chứng cứ. Quá trình vay bà N có trả vốn và lãi cho ông P không thì ông K không biết, riêng ông K thì không trả vốn và lãi lần nào cho ông P; ông K thừa nhận chữ ký trong các hợp đồng vay vốn mà ông P cung cấp là của ông K và bà N, ông không yêu cầu trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết trong các hợp đồng vay vốn này. Do ông K không sử dụng số tiền vay nên ông không đồng ý liên đới trách nhiệm cùng bà N trả nợ, người phải có trách nhiệm trả nợ cho ông P là bà N, không phải ông.

Tại phiên tòa, ông K cung cấp bản photo văn bản liệt kê tiền vay ngày 02/6/2023 có chữ ký Phó Văn K, Nguyễn Thị Bé O và Lư Bích N; bản photo các Biên nhận ngày 02/6/2023, ngày 08/6/2022, ngày 11/01/2021, ngày 05/6/2020, ngày 16/12/2019, ngày 05/8/2020 của bà Lư Bích N. Ông K trình bày: Lý do ông cung cấp các tài liệu này là nhằm chứng minh số tiền vay 11.800.000.000 đồng mà ông nhận từ ông P thì ông đã giao cho nhân viên của bà N là bà Nguyễn Thị Bé O và bà L để bà O và bà L giao lại cho bà N. Vì vậy, ngày 02/6/2023 bà N có xác nhận nợ với ông (theo văn bản liệt kê tiền vay ngày 02/6/2023), trong đó có số tiền 11.800.000.000 đồng bà N thừa nhận do bà N vay, không liên quan đến ông K nhưng việc thỏa thuận xác định trách nhiệm trả nợ đối với khoản vay 11.800.000.000 đồng là giữa bà N với ông K, ông P không biết; ngoài ra ông K còn cho bà N vay tiền rất nhiều lần như nội dung các biên nhận mà ông K cung cấp tại phiên tòa. Tuy nhiên, ông K xác định đối với số tiền 11.800.000.000 đồng vay của

4

ông P mà ông đã giao lại hết cho bà N và số tiền ông cho bà N vay thì ông không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này, ông sẽ tự thỏa thuận với bà N, trường hợp không thể thỏa thuận được thì ông sẽ khởi kiện bà N trong vụ án khác theo quy định.

Quá trình giải quyết và tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của bị đơn bà Lư Bích N là ông Trần Tiến V trình bày:

Theo tự khai ngày 20/6/2024, bà N đề nghị không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông P về việc buộc ông K và bà N trả số tiền 11.800.000.000 đồng, kèm theo tự khai bà N có cung cấp Bảng kê đã trả tiền lãi Phó Văn K ngày 14/3/2024 và cho rằng “ông nhiều lần nhận tiền lãi từ ngày 11/10/2021 đến ngày 14/12/2022 số tiền 12.601.700.000 đồng vượt quá quy định của pháp luật nên cần khấu trừ vào nợ gốc đối với số tiền ông P khởi kiện”. Tuy nhiên, tại phiên tòa người đại diện của bà N thay đổi ý kiến đã trình bày theo tự khai ngày 20/6/2024, cụ thể: Bà N không thừa nhận cùng ông K vay số tiền 11.800.000.000 đồng của ông P theo 05 Hợp đồng vay vốn như ông P và ông K trình bày, không thừa nhận chữ ký và ghi tên Lư Bích N trong các hợp đồng vay là của bà N nên không đồng ý liên đới cùng ông K trả nợ cho ông P. Mặc dù, không thừa nhận chữ ký và ghi tên Lư Bích N trong các hợp đồng vay nhưng bà N xác định không yêu cầu trưng cầu giám định chữ ký và viết trong các hợp đồng này và cho rằng nghĩa vụ chứng minh là của nguyên đơn. Đồng thời, ông V đề nghị tạm ngừng phiên tòa để đưa bà Nguyễn Thị Bé O và bà L vào tham gia tố tụng trong vụ án nhằm làm rõ có hay không việc bà N nhận tiền từ ông K như ông K trình bày.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 240/2024/DS-ST ngày 30 tháng 7 năm 2024 của Toà án nhân dân thành phố Long Xuyên đã xử: Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 273, khoản 1 Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 357, 463, 466, 468, 470 Bộ luật dân sự năm 2015: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn P đối với bà Lư Bích N và ông Phó Văn K. Buộc bà Lư Bích N và ông Phó Văn K có trách nhiệm trả ông Trần Văn P số tiền 14.760.268.000 đồng (mười bốn tỷ bảy trăm sáu mươi triệu hai trăm sáu mươi tám nghìn đồng), trong đó: vốn 11.800.000.000 đồng và lãi 2.960.268.000 đồng. Ngoài ra, Bản án còn tuyên về nghĩa vụ chậm thi hành án, án phí, quyền kháng cáo và thời hạn yêu cầu thi hành án của các đương sự.

Ngày 05/8/2024 bà N có đơn kháng cáo, bà không đồng ý liên đới cùng ông K trả nợ cho ông P; ngoài ra ông K trình bày khi ông P giao tiền cho ông K có mặt bà Nguyễn Thị Bé O nhưng tòa án cấp sơ thẩm không đưa bà B O vào tham gia tố tụng. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn hoặc hủy bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm,

Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện;

Bị đơn bà N vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo;

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang phát biểu:

- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Thư ký, Hội đồng xét xử đã chấp hành đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự từ khi

5

thụ lý vụ án đến khi xét xử. Các đương sự đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật về tố tụng.

- Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bà Lư Bích N; giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 240/2024/DS-ST ngày 30/7/2024 của Toà án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và qua kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về thủ tục kháng cáo: Bị đơn bà Lư Bích N làm đơn kháng cáo trong thời hạn luật định nên được Hội đồng xét xử chấp nhận và xét xử theo thủ tục phúc thẩm là đúng quy định tại Điều 285 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
  2. Xét nội dung yêu cầu kháng cáo của bị đơn:
    1. Về hợp đồng vay tài sản:

      Ông Trần Văn P khởi kiện yêu cầu bà Lư Bích N và ông Phó Văn K phải trả cho ông P tổng số tiền vay 11.800.000.000 đồng, yêu cầu tính lãi theo quy định pháp luật với mức lãi suất 20%/năm đối với hợp đồng có thỏa thuận lãi và 10%/năm đối với hợp đồng không thỏa thuận về lãi; thời gian tính lãi kể từ ngày vay theo từng hợp đồng đến khi xét xử sơ thẩm. Chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện là bản chính của 05 hợp đồng vay vốn (kiêm giấy nhận tiền) ngày 07/02/2023, ngày 11/02/2023, ngày 16/02/2023, ngày 23/02/2023 và ngày 25/02/2023 có chữ ký nhận tiền của bà Lư Bích N và ông Phó Văn K.

      Ông Phó Văn K thừa nhận có cùng bà N vay tiền của ông P tổng cộng 05 lần với số tiền 11.800.000.000 đồng như ông P trình bày, thừa nhận chữ ký trong 05 hợp đồng mà ông P cung cấp là của ông K và bà N. Ông K là người trực tiếp nhận tiền trước, sau đó cùng bà N đến nhà ông P để cùng ký giấy nhận tiền.

      Đại diện theo ủy quyền của bà N không thừa nhận đã nhận tiền vay của ông P, không thừa nhận chữ ký và viết họ tên “Lư Bích N” là của bà N. Tuy nhiên, bà N và người đại diện theo ủy quyền đều xác định không yêu cầu giám định chữ ký, chữ viết của bà N mà cho rằng đây là nghĩa vụ chứng minh của ông P.

      Hội đồng xét xử nhận thấy, ông P yêu cầu khởi kiện và đã đưa ra được chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình là các hợp đồng vay vốn có chữ ký, chữ viết họ tên của ông K, bà N, được ông K là đồng bị đơn xác nhận. Bà N có ý kiến phản đối với chứng cứ do ông P cung cấp thì bà phải thu thập, cung cấp chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối của bà, nhưng bà N xác định không cung cấp chứng cứ, không yêu cầu trưng cầu giám định và cho rằng nghĩa vụ chứng minh là của ông P là không phù hợp với quy định tại Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự. Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm nhiều lần triệu tập bà N đến để tham gia đối chất làm rõ nội dung vụ án nhưng bà N đều vắng mặt, và cũng từ chối yêu cầu giám định chữ ký, chữ viết; tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu giám định chữ ký, chữ viết Hội đồng xét thấy là không cần thiết vì đồng bị đơn đã thừa nhận bà N là người ký tên tại các hợp đồng

6

vay vốn, yêu cầu của người đại diện theo ủy quyền chỉ nhằm mục đích kéo dài thời gian giải quyết vụ án.

Như vậy, có đủ căn cứ để xác định giữa ông P và ông K, bà N có ký kết các hợp đồng vay vốn, tổng số tiền là 11.800.000.000 đồng. Do ông K và bà N vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên ông P khởi kiện yêu cầu trả vốn và lãi suất. Do đó Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông K và bà N có nghĩa vụ liên đới trả số tiền vốn gốc là 11.800.000.000 đồng và lãi suất là đúng quy định của pháp luật.

  1. Đối với yêu cầu xem xét việc thiếu người tham gia tố tụng trong vụ án:

    Hội đồng xét xử xét thấy, các hợp đồng vay tiền đều có chữ ký xác nhận của bà N. Việc bị đơn đề nghị đưa bà O vào tham gia tố tụng chỉ nhằm mục đích chứng minh ông P có giao đủ tiền cho bà N không. Hội đồng xét xử nhận thấy, ông P và ông K đều xác định ông P giao tiền cho ông K, và ông K giao tiền lại cho bà N thông qua nhân viên của bà N là Nguyễn Thị Bé O, sau đó bà N mới cùng ông K gặp ông P ký biên nhận nợ. Ông K không có ý kiến về việc Tòa án cấp sơ thẩm buộc ông liên đới với bà N trả nợ cho ông P. Ông K sẽ tự thỏa thuận với bà N, trường hợp không thể thỏa thuận được thì ông sẽ khởi kiện bà N trong vụ án khác theo quy định của pháp luật. Như vậy, việc Tòa án cấp sơ thẩm không đưa bà Nguyễn Thị B O vào tham gia tố tụng cũng không ảnh hưởng đến nội dung vụ án.

    Hội đồng xét xử nhận thấy bà N kháng cáo nhưng không có có chứng cứ chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình nên không được Hội đồng xét xử chấp nhận.

    Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bà N giữ nguyên bản án sơ thẩm phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

  1. Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận, nên bà N phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm. Tuy nhiên, bà N là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí nên bà N được miễn án phí dân sự phúc thẩm theo quy định
  2. Các phần Quyết định còn lại của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn Lư Bích N; giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 240/2024/DS-ST ngày 30/7/2024 của Toà án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

  1. Căn cứ các Điều 357, 463, 466, 468, 470 Bộ luật dân sự năm 2015;
    • - Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn P đối với bà Lư Bích N và ông Phó Văn K.

7

Buộc bà Lư Bích N và ông Phó Văn K có trách nhiệm trả ông Trần Văn P số tiền 14.760.268.000 đồng (mười bốn tỷ, bảy trăm sáu mươi triệu, hai trăm sáu mươi tám nghìn đồng), trong đó: vốn 11.800.000.000 đồng và lãi 2.960.268.000 đồng.

Kể từ ngày 31/7/2024 cho đến khi thi hành án xong bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự đối với các hợp đồng vay vốn ngày 07/02/2023, ngày 11/02/2023, ngày 16/02/2023, ngày 25/02/2023 và theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự đối với hợp đồng vay vốn ngày 23/02/2023.

  1. Về án phí sơ thẩm và phúc thẩm: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016: Các đương sự không phải chịu án phí.
  2. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TANDCC tại TP.HCM (1);
  • - VKSND tỉnh An Giang (1);
  • - TAND TP Long Xuyên (2);
  • - Chi cục THADS TP Long Xuyên (1);
  • - Tòa Dân sự (1);
  • - Phòng KTNV và THA (1);
  • - Các đương sự (3);
  • - Lưu: HS, VP (2).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Ngọc Giao

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 278/2024/DS-PT ngày 19/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 278/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 19/11/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vay tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger