|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 278/2023/HS-ST Ngày: 28-11-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Châu Ly.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Võ Thành Viên.
- Bà Lê Thị Chí.
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thu Hoài – Thư ký Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trường T - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 11 năm 2023 tại Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 292/2023/TLST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 328/2023/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:
Vũ Văn T1, sinh năm: 1985, tại: Bình Thuận; hộ khẩu thường trú: 5 N, Phường C, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn Đ (đã chết) và bà Nguyễn Thị B; Có vợ tên Nguyễn Thị Ngọc D và 01 con sinh năm 2006; tiền sự: không; tiền án: không; tạm giữ, tạm giam ngày: 01/8/2023; (Có mặt).
Bị hại: Ông Bùi Văn L, sinh năm 1976; địa chỉ: 5 C, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; (Vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Ông Nguyễn Quý D1, sinh năm 1987; địa chỉ: 4 Đ, Phường C, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; (Vắng mặt).
- - Bà Nguyễn Thị Ngọc D, sinh năm 1985; địa chỉ: 5 N, Phường C, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng tháng 4/2016, Vũ Văn T1 kí hợp đồng thuê 01 (một) chiếc xe ô tô hiệu Huyndai Santafe biển số: 51F – 347.30 của ông Nguyễn Quý D1 để chạy Grab Car với phí 15.800.000 đồng/tháng. Đến tháng 7/2018, do cần tiền tiêu xài nên Vũ Văn T1 nảy sinh ý định làm giấy chứng nhận đăng kí xe ô tô và giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô giả của xe ô tô Huyndai Santafe biển số: 51F - 347.30 rồi mang đi bán. Vũ Văn T1 lên mạng tìm được chỗ làm giấy chứng nhận đăng kí xe ô tô và giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô giả, sau khi thống nhất giá cả, T1 hẹn gặp người nhận làm giấy tờ giả tại quán cà phê ở thành phố T, tỉnh Bình Dương (không nhớ địa chỉ cụ thể) và đưa thông tin cần làm giả cho người này, khoảng vài ngày sau thì người này hẹn T1 ra quán cà phê trước đó để giao giấy chứng nhận đăng kí xe ô tô và giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô giả của xe ô tô Huyndai Santafe biển số: 51F – 347.30 do Vũ Văn T1 đứng tên với giá 1.800.000 đồng. Sau đó thông qua các mối quan hệ xã hội, T1 biết được có ông Bùi Văn L ngụ quận G, Thành phố Hồ Chí Minh cần mua xe ô tô nên T1 có liên hệ nói có xe ô tô muốn bán. Ngày 21/7/2018, Vũ Văn T1 và ông Bùi Văn L hẹn gặp nhau tại quán C (địa chỉ hẻm E, Phường A, quận G). Tại đây, ông Lương kiểm t tình trạng xe và giấy tờ thấy trùng khớp thông tin nên ông L đồng ý mua chiếc xe này với giá 300.000.000 đồng và đưa tiền mặt trực tiếp cho T1. Đồng thời, T1 hẹn ông L thứ hai tuần sau sẽ ra văn phòng C1 để làm giấy tờ mua bán xe, giao xe, sau đó T1 bàn giao toàn bộ số giấy tờ giả cho ông L. Đến ngày hẹn ra Công chứng nhưng không liên lạc được với T1, nghi vấn bị lừa nên ông L đã đến Cơ quan Công an trình báo. Ông Bùi Văn L đã bàn giao xe ô tô biển số 51F – 347.30 và các giấy tờ liên quan cho Công an.
Ngày 15/11/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận G đã ra Quyết định truy nã số: 24/QĐTN đối với Vũ Văn T1. Đến ngày 18/11/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận G đã ra Quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án, tạm đình chỉ điều tra đối với Vũ Văn T1. Ngày 01/8/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận G đã bắt được bị cáo Vũ Văn T1 và đưa về trụ sở để làm việc. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận G, bị cáo Vũ Văn T1 đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình.
Vật chứng vụ án:
- - 01 xe ôtô biển số 51F-347.30, số khung 81WP8U364499, số máy D4EB8541346. Căn cứ kết luận giám định số 42/KL ngày 30/01/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự cấp quận kết luận: xe ô tô Huyndai Santafe biển số 51F-347.30, số khung: 81WP8U-364499, số máy: D4EB-8541346, đã qua sử dụng tại thời điểm ngày 21/7/2018 là 400.000.000 đồng (Bốn trăm triệu đồng). Qua xác minh xe trên do ông Nguyễn Quý D1 đứng tên chủ sở hữu. Ông D1 cho biết xe trên ông D1 cho Vũ Văn T1 thuê từ ngày 21/4/2016 với giá 15 triệu/tháng. Xét thấy, ông Nguyễn Quý D1 là chủ sở hữu hợp pháp của xe ô tô biển số 51F-347.30, ngày 26/3/2019 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận G đã trả xe trên lại cho ông D1.
- - 01 Giấy đăng ký xe ô tô biển số 51F-347.30 số: 096688 và 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông đường bộ số: 5307240. Căn cứ kết luận giám định số 137/KLGĐ-TT ngày 08 tháng 01 năm 2019 của Phòng K - Công an Thành phố H kết luận: 01 Giấy đăng ký xe ô tô biển số 51F-347.30 số: 096688 và 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông đường bộ số: 5307240 là giả.
Trách nhiệm dân sự: Vợ bị cáo Vũ Văn T1, bà Nguyễn Thị Ngọc D đã đền bù, khắc phục hậu quả cho ông Bùi Văn L số tiền 300.000.000 đồng. Ông L đã có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho Vũ Văn T1.
Đối với hành vi Vũ Văn T1 thuê xe ô tô Huyndai Santafe biển số 51F-347.30 của ông Nguyễn Quý D1. Ngày 28/8/2023, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an Q đã ra quyết định không khởi tố đối với vụ việc nêu trên.
Đối tượng mà bị cáo T1 đặt làm giấy tờ giả, do đã lâu nên T1 không còn nhớ lai lịch, thông tin cụ thể của đối tượng. Vì vậy chưa thể xác định được đối tượng có liên quan, khi nào xác định có căn cứ thì sẽ xử lý sau.
Tại bản cáo trạng số 285/CT-VKS, ngày 06/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp đã truy tố Vũ Văn T1 về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo khoản 3 Điều 174 và điểm b khoản 3 Điều 341 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát sau khi luận tội và đưa ra quan điểm xét xử đã đề nghị:
Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Vũ Văn T1 04 năm đến 05 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 341; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Vũ Văn T1 03 năm đến 04 năm tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
Áp dụng Điều 55 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội danh từ 07 năm đến 09 năm tù.
- Miễn áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Áp dụng Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và khoản 1, khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Tịch thu lưu theo hồ sơ vụ án: 01 Giấy đăng ký xe ô tô biển số 51F-347.30 số: 096688 và 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông đường bộ số: 5307240.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về việc vắng mặt của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tại phiên tòa: Bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Trong hồ sơ vụ án thể hiện: Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã trình bày yêu cầu của minh, vì vậy căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
[2] Về tội danh: Tại phiên toà hôm nay, sau khi đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp công bố bản cáo trạng thì bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Đối chiếu lời khai của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị hại, cùng với tang vật đã thu giữ, phù hợp với kết luận điều tra của cơ quan Công an quận G, với bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp và với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở nhận định: Bằng thủ đoạn gian dối đưa ra thông tin không đúng sự thật trong việc mua bán xe ô tô và sử dụng giấy chứng nhận đăng kí xe ô tô và giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô giả trong giao dịch, làm cho bị hại tưởng đây là giấy tờ thật để giao dịch bán tài sản, từ đó bị cáo đã tạo được lòng tin đối với bị hại và chiếm đoạt tài sản của bị hại là ông Bùi Văn L số tiền 300.000.000 đồng. Vì vậy, đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 174, Điều 341 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Bị cáo chiếm đoạt số tiền 300.000.000 đồng nên đây là tình tiết định khung quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo sử dụng tài liệu giả thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng (khoản 3 Điều 174 của Bộ luật Hình sự) nên đây là tình tiết định khung quy định tại điểm b khoản 3 Điều 341 của Bộ luật Hình sự. Do đó Cáo trạng số 285/CT-VKS, ngày 06/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp đã truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
Bị cáo phạm hai tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” nên cần thiết áp dụng Điều 55 của Bộ luật Hình sự để tổng hợp hình phạt cho bị cáo.
[3] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự quản lý hành chính của Nhà nước, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của cơ quan tổ chức, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, việc xử lý bị cáo bằng biện pháp hình sự là hết sức cần thiết và đúng quy định của pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như qua diễn biến phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thật thà khai báo, thành khẩn nhận tội và tỏ ra ăn năn hối cải, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo đã tích cực tác động nhờ vợ của bị cáo bồi thường toàn bộ số tiền chiếm đoạt cho bị hại, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, gia đình bị cáo thuộc thành phần lao động nghèo.
Căn cứ quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đồng thời qua đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian dài nhằm giúp cho bị cáo có điều kiện học tập cải tạo lại mình sau này biết tôn trọng pháp luật và tôn trọng tài sản của người khác. Đối với tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” qua đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp cho bị cáo mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, có 02 tình tiết giảm nhẹ theo khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và nhiều tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nên cần áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng mức án dưới mức nhất của khung hình phạt cũng đủ để giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.
[4] Về hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 174 và khoản 4 Điều 341 của Bộ luật Hình sự, xét tính chất vụ án và hoàn cảnh của bị cáo, Hội đồng xét xử quyết định miễn áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự:
Tại phiên tòa hôm nay bị hại ông Bùi Văn L vắng mặt, nhưng qua hồ sơ thể hiện ông Bùi Văn L đã nhận lại số tiền bị chiếm đoạt 300.000.000 đồng từ vợ của bị cáo là bà Nguyễn Thị Ngọc D, hiện không có thắc mắc khiếu nại gì nên Hội đồng xét xử không xem xét lại.
Đối với số tiền 300.000.000 đồng, bà Nguyễn Thị Ngọc D là vợ của bị cáo đứng ra bồi thường, trả lại cho ông Bùi Văn L. Tại phiên tòa hôm nay, bà Nguyễn Thị Ngọc D có mặt, bà Nguyễn Thị Ngọc D trình bày bị cáo tích cực tác động, nhờ bà bồi thường cho bị hại, bà Nguyễn Thị Ngọc D đã bồi thường theo yêu cầu của bị cáo, bà Nguyễn Thị Ngọc D không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền đã bồi thường và đồng ý cho luôn bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy đây là ý chí tự nguyện và không trái pháp luật nên ghi nhận.
[6] Về xử lý vật chứng:
- - Đối với 01 xe ô tô biển số 51F-347.30, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận G đã trả xe trên lại cho chủ sở hữu là ông Nguyễn Quý D1. Hội đồng xét xử nhận thấy việc trả lại xe trên là phù hợp với quy định của pháp luật và không ảnh hưởng đến nội dung vụ án nên tại phiên tòa hôm nay không đưa ra xem xét lại.
- - Đối với 01 Giấy đăng ký xe ô tô biển số 51F-347.30 số: 096688 và 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông đường bộ số: 5307240 qua giám định là giả, là chứng cứ của vụ án nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu, lưu theo hồ sơ vụ án.
[7] Về các vấn đề khác: Đối với các đối tượng đã cung cấp giấy tờ giả cho Vũ Văn T1 chưa xác định được nhân thân lai lịch, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ để xử lý sau.
[8] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
[9] Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
[10] Lời phát biểu luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh đối với bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và hình phạt đề nghị áp dụng đối với bị cáo phù hợp với quy định pháp luật được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Vũ Văn T1 phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”;
Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Vũ Văn T1 04 (bốn) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".
Căn cứ vào điểm b khoản 3 Điều 341; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Vũ Văn T1 03 (ba) năm tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
Căn cứ Điều 55 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội danh là 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 01/8/2023.
Căn cứ Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và khoản 1, khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Tịch thu lưu theo hồ sơ vụ án: 01 Giấy đăng ký xe ô tô biển số 51F-347.30 số: 096688 và 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông đường bộ số: 5307240.
Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Luật Phí và Lệ phí, Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án;
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Bằng chữ: Hai trăm nghìn đồng).
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày được tính kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết.
Căn cứ Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008;
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Châu Ly |
Bản án số 278/2023/HS-ST ngày 28/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về lừa đảo chiếm đoạt tài sản và sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
- Số bản án: 278/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vũ Văn T1 phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản"
